Sáng kiến kinh nghiệm rèn kỹ năng giải toán hình học lớp 7 ở học sinh Trường THCS Nguyễn Khuyến
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng giải tốn hình học 7
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN :
Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục xã hội chủ nghóa trong
những năm gần đây nhất là năm học 2005 – 2006, là năm thứ ba thực
hiện chương trình đổi mới sách giáo khoa trên toàn quốc, với mục tiêu
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và mang lại cho học sinh vốn hiểu
biết cơ bản hiện đại và thiết thực nhất, nhằm đào tạo học sinh thành
những người có tri thức, có trình độ khoa học kỹ thuật, có chuyên môn và
tay nghề vững chắc. Trong đó môn toán là môn giúp học sinh phát triển
năng lực và phẩm chất trí tuệ, có khả năng đóng góp vào việc giáo dục
cho học sinh tư tưởng đạo đức. Các kiến thức và phương pháp toán học là
công cụ thiết yếu giúp học sinh học tập tốt các môn học khác, giúp con
người hoạt động có hiệu quả trong mọi lónh vực của đời sống sản xuất.
Trong thư Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi các bạn trẻ yêu toán :
“…..trong các môn khoa học kỹ thuật, toán học giữ vò trí nỗi bậc. Nó có tác
dụng đối với nhiều ngành khoa học khác, đối với kỹ thuật, đối với sản
xuất và chiến đấu. Nó còn là môn thể thao của trí tuệ, giúp cho ta nhiều
trong việc rèn luyện, phương pháp suy nghó, phương pháp suy luận,
phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta
thêm trí thông minh sáng tạo. Nó còn giúp chúng ta nhiều đức tính quý
báu như : Cần cù, nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích
chính xác, ham chuộng chân lý…” Thực tế việc giải bài toán là một trong
những vấn đề trung tâm của phương pháp giảng dạy, bởi lẽ việc giải toán
là một việc mà cả người học và người dạy thường xuyên phải làm, đặc biệt
đối với học sinh phổ thông thì việc giải toán là hình thức chủ yếu của việc
học toán. Mặt khác mỗi bài toán có thể xem như là một đònh lý, có những
bài toán là một tiền đề của kiến thức khác. Do đó quá trình giải toán nói
chung hay chứng minh hình học nói riêng thì kiến thức toán học của
người giải được củng cố, đào sâu mở rộng và trở nên “sống động “.
Việc phát hiện ra hướng chứng minh một bài toán hình học, tìm
bám vào giả thiết (những điều đã cho) để lập luận suy ra điều cần chứng
minh. Để khắc phục tình trạng trên khi dạy người giáo viên cần phải tìm
ra phương pháp tối ưu nhằm rèn luyện kỹ năng vẽ hình, ghi giả thiết, kết
luận và dựa vào kiến thức đã học để lập luận đi từ giả thiết đến kết luận,
rèn kỹ năng phát hiện ra vấn đề, phát hiện ra hướng chứng minh. Muốn
vậy khi dạy cần phải làm cho học sinh hiểu rõ các đònh nghóa, khái niệm
một cách chính xác. Cần rèn luyện khả năng nói, viết của học sinh. Trong
khi trình bày các vấn đề hình học, các bài toán hình học, giáo viên cần
hướng dẫn rõ từng bước và làm cho học sinh hiểu rõ để chứng minh bài
toán này ta cần đầy đủ các kiến thức, cụ thể là vận dụng tính chất, đònh
Người Viết : Võ Thò Kim Oanh
C
Sáng kiến kinh nghiệm rèn kỹ năng giải toán hình học lớp 7 ở học sinh Trường THCS Nguyễn Khuyến
lý nào để chứng minh cho các bước lập luận. Ngoài yêu cầu về kiến thức,
giáo viên cần hết sức chú ý đến cách trình bày, cách lập luận, tăng cường
các bài toán mẫu cho học sinh.
II/ NỘI DUNG TIẾN HÀNH VÀ KẾT QUẢ :
1. Nội dung tiến hành :
Căn cứ vào tình hình thực tế của học sinh lớp 7 khi học môn hình
học và người khó khăn mà học sinh thường gặp. Bản thân giáo viên đã đề
ra một số phương pháp tiến hành nhằm mục đích rèn kỹ năng chứng
minh hình học, giải các bài tập như sau :
a) Trước hết khi dạy lý thuyết, giáo viên dẫn dắt học sinh đi từ
những điều cụ thể dến tổng quát, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng nhằm làm cho học sinh nắm chắc và ghi nhớ, không máy móc các
khái niệm, đònh nghóa, tính chất một cách chính xác.
Ví dụ : Khi dạy về hai đường thẳng vuông góc, giáo viên có thể cho
học sinh quan sát hai mép bảng hoặc cửa sổ…
b) Khi dạy chứng minh các bài tập hình học, giáo viên cần hướng
dẫn trực tiếp từng bước làm và làm cho học sinh hiểu rõ là để chứng minh
Sáng kiến kinh nghiệm rèn kỹ năng giải toán hình học lớp 7 ở học sinh Trường THCS Nguyễn Khuyến
? Hai tam giác đó có những yếu tố nào bằng nhau ?
GV : Nêu câu hỏi, HS trả lời, sau đó giáo viên tổng hợp thành sơ đồ
sau :
∆ ABM = ∆ CEM
Â
1
= Ê
1
EC // AB
Sau đó yêu cầu học sinh lên trình bày cách chứng minh của mình.
Ngoài yêu cầu về kiến thức khoa học, giáo viên thường xuyên chú ý
luyện cách trình bày, cách lập luận, cách chứng minh nhất là ở giai đoạn
đầu. Tăng cường các bài tập mẫu để học sinh hiểu thế nào là chứng minh:
Đối với bài toán hình học, giáo viên thường xuyên uốn nắn cho học sinh
ghi giả thiết, kết luận. Làm tốt phần này sẽ giúp cho học sinh nắm chắc
hơn nội dung bài toán, từ đó dễ dàng tư duy, lập luận chứng minh.
c) Đối với các bài tập có lời giải dài phải qua nhiều bước trung gian…
Khi giải xong bài toán, giáo viên cần tổng kết lại thành các bước giải theo
một sơ đồ của một quá trình tư duy. Chỉ ra điểm mấu chốt quan trọng của
mỗi bài toán.
Ví dụ ; Khí gặp bài toán cho ∆ ABC. Các tia phân giác của góc BÂ và
CÂ cắt nhau tại I. Vẽ ID ⊥ AB (D ∈ AB); IE ⊥ BC (E ∈ BC); FI ⊥ AC (F ∈
AC). Chứng minh rằng ID = IE = IF.
Trước hết yêu cầu học sinh đọc kỹ đề, vẽ hình theo từng bước.
* Lưu ý : Học sinh thường lúng túng khi bài toán yêu cầu vẽ nhiều.
A
F
D
3
cứ ta cần để chứng minh.
-Nếu 2 tam giác có 2 góc của tam giác này bằng 2 góc của tam giác
kia thì 2 góc còn lại có bằng nhau không ?
Ngoài những vấn đề nêu trên, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh
tính cẩn thận trong cách trình bày. Tính cần cù học hỏi, suy luận lôgic,
tính sáng tạo, trình bày ngắn gonï, lời lẽ chính xác.
d) Sử dụng hệ thống bài tập một cách hợp lý, khoa học; trong đó có
phối hợp các dạng bài tập khác nhau với các phương pháp giải khác nhau.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân loại bài tập, chẳng hạn : Muốn
tính độ dài đoạn thắng nào đó có thể vận dụng vào đònh lý Pitago trong
tam giác vuông, hay chứng minh 2 tam giác bằng nhau, suy ra hai cạnh
tương ứng bằng nhau, trong đó có một cạnh biết độ dài.
e) Các bài tập hình học cần phải vẽ thêm yếu tố, giáo viên cần làm
cho học sinh thấy được sự cần thiết phải vẽ thêm yếu tố phụ và phải hiểu
và dự đoán được về yếu tố nào ? Vẽ như thế nào ? Sau khi vẽ ta thấy có
mỗi quan hệ nào ?
Ví dụ : Chứng minh tổng 3 góc của một tam giác bằng 180
0
.
A
B C
GV : Dùng bìa cắt 2 góc B và C ghép vào ở đỉnh A. Khi đó ta có một
đường thẳng.
Vậy cần vẽ đường thẳng đi qua A và song song vào BC.
Người Viết : Võ Thò Kim Oanh