Một số biện pháp rèn kỹ năng nhận biết phép tu từ so sánh trong phân môn luyện từ và câu lớp 3 - Pdf 53

MỤC LỤC
Số
TT

Mục

Nội dung

Trang

A

MỞ ĐẦU

01

1

Lí do chọn đề tài

1

02

2

Mục đích nghiên cứu

2

03


Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến KN

3-5

07

III

Giải pháp đã sử dụng để gải quyết vấn đề

5-18

08

IV

Hiệu quả

19

C

KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ:

9

3.1

Kết luận

hành trang học tiếp lên các cấp trên, hoà nhập vào cuộc sống xã hội. Vốn
kiến thức đó đòi hỏi phải được tìm hiểu ở tất cả các môn học mà một trong
số đó là phân môn Luyện từ và câu.
Biện pháp tu từ so sánh đã chính thức đưa vào phân môn Luyện từ
và câu lớp 3. Điều đó cũng khẳng định vai trò trách nhiệm của mỗi giáo
viên trong việc hình thành cho học sinh kĩ năng nhận biết và sử dụng biện
pháp tu từ so sánh. Giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện
để học sinh phát triển một cách toàn diện. Đồng thời, giúp giáo viên có được
các phương pháp rèn luyện học sinh về kỹ năng sử dụng phép tu từ so
sánh. Đối với học sinh Tiểu học, ngôn ngữ của các em còn nghèo, các em
mới chỉ dừng lại ở việc cô hỏi sao thì trò trả lời vậy, thậm chí các em còn
nói chưa thành câu, nói trống không. Do vậy, việc rèn cho các em cách diễn
đạt đúng, hay, có hình ảnh trong khi nói và viết đòi hỏi người giáo viên phải
tâm huyết với nghề, uốn nắn, trau chuốt cho học sinh từng li từng tí. Giúp
học sinh biết, vận dụng những điều đã học vào thực tế nói và viết để vốn từ
của các em ngày càng giàu hơn, các em biết sử dụng Tiếng Việt một cách
tinh tế nhất. Muốn như vậy các em phải nắm chắc các chức năng của phép
tu từ so sánh.Vì vậy, tôi đã đi sâu nghiên cứu và tìm ra “ Một số biện pháp
rèn kĩ năng nhận biết phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và
câu lớp 3”.

2. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp học sinh tiểu học hiểu được Luyện từ và câu là phân môn thực
hành. Nhiệm vụ quan trọng của nó là giúp học sinh tìm từ ngữ, hiểu được
vốn từ, từ đó mở rộng vốn từ và vận dụng vào để đặt câu...

2


- Giúp cho học sinh có lòng yêu phân môn Luyện từ và câu, thường

sức thuyết phục cao. Biện pháp so sánh được đưa vào dạy đã phần nào thể
hiện rõ quan điểm trên. Phép tu từ so sánh là một vấn đề mới và khó đối với
học sinh lớp 3. Mặc dù có cấu trúc đơn giản và gần gũi với học sinh, nhưng
nó lại là một hình thức, một phương diện diễn đạt nghệ thuật mà muốn có nó
đòi hỏi chúng ta phải trải qua một quá trình tư duy - thao tác tư duy - tưởng
tượng - liên tưởng - quan sát… Và để có được những điều kiện trên đòi hỏi
con người phải có vốn kinh nghiệm sống, càng nhiều vốn kinh nghiệm sống
bao nhiêu thì khả năng liên tưởng, tưởng tượng ra những hình ảnh so sánh
càng phong phú, thú vị và độc đáo bấy nhiêu. Học sinh Tiểu học có đủ điều
kiện cần thiết để có thể tiếp nhận và sử dụng so sánh trong hoạt động nói,
viết của bản thân. Vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta phải tổ chức và khởi
nguồn như thế nào để các em có thể phát huy được tối ưu khả năng học tập
tích cực của mình bằng cách khám phá, tự chiếm lĩnh kiến thức, xử lý tình
huống một cách nhanh nhẹn, chính xác. Mặt khác, so sánh có khả năng khắc
họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ, tạo nên những hình ảnh miêu tả
sinh động. So sánh được coi là một trong những phương thức tạo hình, gợi
cảm hiệu quả nhất, có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành
và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của
con người, so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, diễn đạt
được mọi sắc thái biểu cảm. Với những bài thơ, bài văn viết cho thiếu nhi,
các tác giả đã sử dụng nghệ thuật so sánh tu từ, dùng hình ảnh này để nói lên
hình ảnh khác, nhằm giúp các em hiểu và cảm nhận được các bài thơ, bài
văn đều bắt nguồn từ những hình ảnh cụ thể trong cuộc sống. Từ đó, giúp
học sinh có khả năng và thói quen quan sát, cảm nhận cuộc sống xung
quanh mình vô cùng phong phú, sẽ tạo hứng thú cho các em khi viết văn và
ngày càng yêu quý sự “ giàu có của Tiếng Việt”.
Vì vậy làm thế nào để dạy tốt phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3
là một vấn đề hết sức cần thiết đối với mỗi giáo viên nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng số học sinh lớp 3D: 30 em.
Lỗi về vận dụng phép so
sánh

Lỗi nhận diện phép so sánh

Nhận diện sự
vật so sánh

Nhận diện các
từ so sánh

Đạt
yêu
cầu

Chưa
đạt

Đạt
yêu
cầu

Chưa
đạt

12

18


yêu
cầu

10

Chưa
đạt

Đạt
yêu
cầu

Chưa
đạt

20

8

22

5


Thực trạng trên cho thấy số học sinh nhận biết và sử dụng chưa tốt phép
tu từ so sánh khá cao.
III/ GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Dạy đúng quy trình:
Để giúp học sinh học tốt dạng bài tu từ so sánh. Bất cứ một bài tập
nào, giáo viên cần phải yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau:

Ví dụ 1: Khi dạy bài Tập đọc: "Hai bàn tay em" SGK Tiếng Việt 3 tập ITrang 7. Trong bài này có hình ảnh so sánh như: “ Hai bàn tay em như hoa
đầu cành”, giáo viên giúp học sinh tự phát hiện ra hình ảnh so sánh trong
câu thơ, nhằm tạo hứng thú cho tiết "Luyện từ và câu".
Ví dụ 2: Khi dạy bài Tập đọc “Cửa Tùng”, để giải thích từ ngữ (chiếc
thau đồng, bờ biển Cửa Tùng) giáo viên tổ chức cho học sinh tìm những
câu văn có sử dụng biện pháp so sánh. Học sinh sẽ rất dễ dàng tìm ra câu:
- Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển.
- Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi
mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển.
6


Với những câu văn hay như thế, học sinh đã tìm được thì sẽ nhớ rất
lâu và vận dụng tốt trong việc viết văn của mình .
b. Dạy tích hợp trong môn Tự nhiên và xã hội:
Khi dạy bài “Các thế hệ trong gia đình’’ Giáo viên có thể cho học
sinh tìm những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ nói về tình cảm của những
người thân trong gia đình có sử dụng biện pháp so sánh như:
- Anh em như thể tay chân.
- Con hơn cha là nhà có phúc.
- Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
c. Dạy tích hợp qua môn Toán:
Tích hợp biện pháp so sánh khi dạy Toán qua các dạng về nhiều hơn, ít
hơn, Điền dấu < , >, =, So sánh Số lớn gấp mấy lần số bé, Số bé bằng một
phần mấy số lớn, …
3. Các dạng bài tập về nhận biết phép tu từ so sánh ở lớp 3:
Bài tập về phép tu từ so sánh lớp 3 được chia làm 2 dạng:

a. DẠNG 1 : BÀI TẬP THEO MẪU (BÀI TẬP NHẬN BIẾT)

Như hoa đầu cành. (Huy Cận)
8


Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.
(Vũ Tú Nam)
Cánh diều như dấu “á”
Ai vừa tung lên trời. (Phạm Như Hà)
Khi dạy bài tập này, tôi đã thực hiện các bước sau:
- Tổ chức cho học sinh đọc đề. Tìm hiểu xem đề bài yêu cầu gì?
- Để làm tốt bài tập này, tôi đã tổ chức một số phương pháp dạy học
nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh, giúp các em tự phát hiện những từ
chỉ sự vật được so sánh với nhau trong từng câu thơ, câu văn.
- Với ví dụ trên để học sinh nắm và khắc sâu được bài học tôi đã đưa ra
hai phương án:
+ Phương án 1: Gạch chân các từ chỉ sự vật so sánh trong các câu trên
bằng bút chì vào sách giáo khoa.
- Trong phương án này tôi lựa chọn phương pháp động não nhằm phát
huy tính tích cực của học sinh bằng cách tôi yêu cầu cả lớp suy nghĩ tìm và
gạch chân dưới những sự vật được so sánh trong các câu thơ, câu văn dưới
đây:
Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành. (Huy Cận)
Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.
(Vũ Tú Nam)
Cánh diều như dấu “ á”
Ai vừa tung lên trời.
(Phạm Như Hà)
- Học sinh làm xong tôi cho các em trình bày ý kiến của mình trước lớp các bạn khác theo dõi để nhận xét và bổ sung ý kiến càng nhiều càng tốt.
Khi học sinh trình bày tôi đã liệt kê tất cả ý kiến phát biểu của các em và sau

như
hoa đầu cành.
Như
tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.
Như
dấu “ á”

+ "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành"
+ "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ".
+ "Cánh diều" so sánh với "dấu á"
Khi học sinh trình bày, nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn
tay em" được so sánh với "Hoa đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như
"tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó giáo viên phải hướng cho học sinh tìm xem
các sự vật so sánh này có điểm nào giống nhau, chẳng hạn:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.
+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.
+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.
Giáo viên chốt ý cho cả hai phương án trên bằng tranh ảnh kết hợp
với sơ đồ tư duy giúp học sinh khắc sâu kiến thức vừa học.
Hai bàn tay em như hoa đầu cành.

Hai bàn
tay em

như

hoa đầu
cành

10

những hình ảnh so sánh có trong từng câu văn, câu thơ.
- Học sinh làm bài xong tôi cho các em trình bày ý kiến của mình trước
lớp - các bạn khác theo dõi để nhận xét và bổ sung ý kiến càng nhiều càng
tốt. Khi học sinh trình bày tôi cũng liệt kê tất cả ý kiến phát biểu của các em
và sau đó tôi cùng các em phân loại ý kiến để chọn ra ý đúng nhất.
a) Mắt hiền sáng tựa vì sao
11


Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.( Thanh Hải)
b) Em u nhà em
Hàng xoan trước ngõ
Hoa xao xuyến nở
Như mây từng chùm (Tơ Hà)
c/ Mùa đơng : Trời là cái tủ ướp lạnh
Mùa hè :
Trời là cái bếp lò nung (Lò Ngân Sủn)
d) Những đêm trăng sáng, dòng sơng là một đường trăng lung linh dát vàng.
Đất Nước Ngàn Năm
- Giáo viên giải thích cho học sinh điểm tương đồng giữa các từ chỉ sự
vật được so sánh bằng hình ảnh trực quan.
Giáo viên cũng chốt ý bằng hình ảnh kết hợp với sơ đồ tư duy để
giúp học sinh khắc sâu hơn những hình ảnh so sánh trên.
Mắt hiền sáng tựa vì sao

Mắt hiền
sáng

tựa


- Trời mùa hè nóng như bếp lửa lò nung.

cái bếp lò
nung


Trôøi
mùa hè

13


Ở cả hai ví dụ này tôi đã tổ chức dạy phân hóa đối tượng bằng hình thức
sau:
- Học sinh khá, giỏi: Tôi tổ chức cho các em tự tìm những sự vật được
so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn.
- Học sinh trung bình, yếu: Tôi sẽ trợ giúp các em bằng những câu hỏi
gợi ý.
Ví dụ: Hai bàn tay em được so sánh với sự vật nào? Mặt biển được so
với sự vật nào? ...
Để giúp học sinh không bị nhầm lẫn giữa câu so sánh với câu giới
thiệu. Tôi đã đưa ra ví dụ và hướng dẫn giúp các em hiểu được cách phân
biệt sau:
Trong câu: Mẹ em là giáo viên (từ “là” trong câu trên có tác dụng
giới thiệu, nên câu này không phải là câu có hình ảnh so sánh. Trong trường
hợp này, giáo viên phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ và của câu).
b. MÔ HÌNH 2: So sánh: Sự vật - Con người.

Dạng của mô hình so sánh này là:
+ A có thể là con người.

Trẻ em

như

búp trên
cành

15


Bà như quả ngọt chín rồi.



quả ngọt
chín rồi.

như

Ở bài tập này, tôi cũng kết hợp dạy phân hóa đối tượng bằng cách:
- Với học sinh khá, giỏi tôi tổ chức cho các em đọc yêu cầu đề, phân
tích đề và làm bài.
- Với học sinh, trung bình, yếu tôi cũng đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý
để trợ giúp cho các em.
Ví dụ: Tác giả đã so sánh trẻ em với cái gì?
* Dạng A là B:
Ví dụ 4: Bài tập 1- Sách Tiếng Việt tập 1 - trang 42, 43(phương pháp
dạy như mô hình 1)
- Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc và phân tích đề.
- Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm các sự vật được so sánh trong

- Xác định từ so sánh (Chẳng bằng, là)
Khi xác định được hai yêu cầu trên là học sinh đã xác định được hình ảnh
so sánh có trong các câu thơ.
c. MÔ HÌNH 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
Mô hình này có 1 kiểu so sánh: A như B
Ví dụ 6 : bài tập 2 - Sách Tiếng Việt 3 tập 1 - Trang 98: Trong các
đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:
+
"Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đập đất" (Trần Đăng Khoa)
+
" Cau cao, cao mãi
Tàu vươn giữa trời
Như tay ai vẫy
Hứng làn mưa rơi"(Ngô Viết Dinh)
+ Xuồng con đậu quanh thuyền lớn như đàn lợn con nằm
quanh bụng mẹ. Khi có gió, thuyền mẹ cót két rên rỉ, đám xuồng con lại húc
húc vào mạn thuyền mẹ như đòi bú tí.
Dạng bài này, giáo viên cần tổ chức cho học sinh nắm chắc được từ
chỉ hoạt động, từ đó học sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với
nhau. Chẳng hạn:
+ Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như".
+ Hoạt động “ vươn” của tàu lá dừa giống hoạt động “ vẫy” tay của con
người.
+ Hoạt động “ đậu” của xuồng con quanh thuyền lớn so sánh với hoạt
động “nằm” quanh bụng mẹ.
+ Hoạt động “ húc húc” của xuồng con vào mạn thuyền mẹ được so sánh
với hoạt động “ đòi” bú tí.

a. Nhìn tranh đặt câu
Ví dụ 8: Bài tập 3/ - Sách Tiếng Việt 3 tập 1 - trang 126: Quan sát từng
cặp sự vật được vẽ dưới đây rồi viết những câu có hình ảnh so sánh các sự
vật trong tranh:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc và phân tích yêu cầu đề.
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm đôi.
- Học sinh hoạt động nhóm đôi để nêu nội dung của bức tranh. Sau đó
yêu cầu học sinh nói cho nhau nghe một số câu có hình ảnh so sánh trong
tranh.
- Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài tập vào vở(cá nhân)

18


Giáo viên trình chiếu tranh và chốt ý.
* Lưu ý: Khi dạy dạng bài này tôi cũng áp dụng hình thức dạy phân hóa
đối tượng học sinh:
+ Với học sinh khá, giỏi tôi yêu cầu các em viết được từ 2 - 3 câu có
hình ảnh so sánh theo nội dung bức tranh.
Ví dụ: Trăng tròn như quả bóng./ Trăng rằm tròn xoe như quả bóng./ …
- Đèn sáng như sao./ Đèn điện sáng như trăng sao trên trời./ …
- Mặt bé tươi như hoa./ Miệng bé cười tươi như hoa./…
- Đất nước ta cong cong hình chữ S./ Hình ảnh nước Việt Nam trên bản
đồ cong cong như hình chữ S./….
+ Với học sinh trung bình, yếu tôi chỉ yêu cầu các em viết 1 câu có
hình ảnh so sánh theo nội dung bức tranh bằng các câu hỏi gợi ý.
Ví dụ: Giáo viên hỏi: Mặt trăng tròn như cái gì? Hoặc: Mặt trăng tròn được
so sánh với vật gì?
b. Dạng bài tập điền khuyết:
Ví dụ 9: Bài tập 4 - Sách Tiếng Việt tập 1 - trang 126: Tìm những từ

Lỗi nhận diện phép so sánh

Nhận diện sự
vật so sánh

Đạt
yêu
cầu

3
0

Chưa
đạt

0

Nhận diện các
từ so sánh

Đạt
yêu
cầu

30

Chưa
đạt

Nhận diện sự


Chưa
đạt

2
9

Đạt
yêu
cầu

1

2

Chưa
đạt

1

9

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua kinh nghiệm rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho
học sinh lớp 3. Bản thân tôi thấy rằng cần hướng dẫn và rèn cho học sinh
những kỹ năng sau:
* Về phía học sinh:
- Học sinh tự củng cố vốn kiến thức của mình bằng cách đọc nhiều
sách báo phù hợp với lứa tuổi, xem băng hình, quan sát tranh, ...

cao chất lượng phân môn luyện từ và câu cho học sinh tiểu học.
- Phòng GD & ĐT và Sở GD & ĐT nên tổ chức các chuyên đề bồi
dưỡng học sinh các kỹ năng nhận biết và sử dụng các biện pháp tu từ để cho
giáo viên được tham gia học tập.
Đề tài tôi nghiên cứu và thực nghiệm không tránh khỏi những thiếu sót,
tôi rất mong được HĐKH ngành và các bạn đồng nghiệp góp ý để đề tài có
giá trị vào thực tiễn.
Tôi Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
Hải Lộc, ngày 22 tháng 5 năm 2018
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Cam kết không copy .
Người thực hiện

Tạ Thị Ngân

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp dạy Tiếng Việt ở tiểu học.
Tác giả: Lê Phương Nga - Nguyễn Trí - Hà Nội 1995
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 3/ tập 1,2 - Nhà xuất bản giáo dục.
3. Sách Tiếng Việt 3/ tập 1,2 - Nhà xuất bản giáo dục.
4. Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học.
5. Tập san giáo dục tiểu học, các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục, ...
có liên quan đến nội dung đề tài.

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status