(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai triển vọng tại tỉnh Lai Châu - Pdf 53

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------

TẨN A XOANG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI
TRIỂN VỌNG TẠI LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN – NĂM 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------

TẨN A XOANG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI
TRIỂN VỌNG TẠI LAI CHÂU
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Viết Hưng
2. TS. Kiều Xuân Đàm

hiện luận văn này.
Tác giả luận văn

Tẩn A Xoang


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH .........................................................................................vii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài ................................................................................... 2
2.1. Mục đích............................................................................................................... 2
2.2. Yêu cầu................................................................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ................................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................................. 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn .................................................................................................. 2
Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .................................................................................... 3
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam ............................................... 4
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới ................................................................. 4
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam .................................................................. 5
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô tại huyện Sìn Hồ - Tỉnh Lai Châu ........................ 7
1.3. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và Việt Nam ................. 8
1.3.1. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới .................................... 8
1.3.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam................................... 12

3.2.1. Khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các tổ hợp lai thí nghiệm .................. 54
3.2.2. Khả năng chống đổ các tổ hợp lai thí nghiệm................................................. 58
3.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp lai thí nghiệm ..... 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 69
1. Kết luận ................................................................................................................. 69
2. Kiến nghị ............................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 70


v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AMBIONET

: Mạng công nghệ sinh học ngô châu Á

CV

: Hệ số biến động

đ/c

: Đối chứng

FAO

: Tổ chức nông nghiệp và lương thực liên hợp quốc

G - CSL

: Gieo - Chín sinh lí


: Xác suất

TP - PR

: Tung phấn - Phun râu


vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2012 - 2016 ................................. 4
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 ............................... 6
Bảng 1.3. Diện tích ngô tỉnh Lai Châu .................................................................................. 6
Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô tại huyện Sìn Hồ - Tỉnh Lai Châu 2013 - 2017 ........ 7
Bảng 2.1. Tên tổ hợp, giống và nguồn gốc của các tổ hợp, giống ngô lai ........................... 30
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ........................................................................................ 31
Bảng 3.1. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai thí nghiệm vụ Xuân
Hè năm 2018 tại huyện Sìn Hồ - tỉnh Lai Châu .................................................. 38
Bảng 3.2. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai thí nghiệm vụ Xuân
Hè năm 2018 tại huyện Sìn Hồ - tỉnh Lai Châu .................................................. 41
Bảng 3.3. Tốc độ ra lá của các tổ hợp lai thí nghiệm vụ Xuân Hè năm 2018 tại huyện
Sìn Hồ - tỉnh Lai Châu ........................................................................................ 44
Bảng 3.4. Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các tổ hợp lai thí nghiệm ...................... 47
Bảng 3.5. Số lá/cây, chỉ số diện tích lá của các tổ hợp lai thí nghiệm ................................. 49
Bảng 3.6. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các tổ hợp lai thí nghiệm ........... 52
Bảng 3.7. Tình hình sâu bệnh hại của các THL ................................................................... 55
Bảng 3.8. Khả năng chống đổ của các tổ hợp lai thí nghiệm .............................................. 58
Bảng 3.9. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm tại Xã
Phăng Xô Lin - Huyện Sìn Hồ - Tỉnh Lai Châu.................................................. 60
Bảng 3.10. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai thí nghiệm tại Thị trấn

(Nguyễn Đức Lương và cs, 2000)[12]. Ngoài ra ngô còn được sử dụng làm thực
phẩm (ngô bao tử) và làm nguyên liệu phát triển chăn nuôi gia súc - gia cầm, tuy
nhiên sản xuất ngô ở Việt Nam phát triển rất chậm, tốc độ tăng trưởng của cây trồng
này chỉ được đẩy mạnh sau những năm 90 nhờ việc sử dụng các giống lai trong sản
xuất. Hiện nay chúng ta đã có hàng trăm giống ngô lai tốt, có năng suất và chất
lượng cao không kém gì so với giống của các nước tiên tiến trên thế giới.
Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay đang đứng trước
rất nhiều thách thức: diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa gia
tăng, dân số tăng nhanh, thành phần kinh tế thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng
nông nghiệp… Yếu tố hạn chế chính đến sản xuất ngô ở Việt Nam là điều kiện tự
nhiên không ưu đãi: đất đai bạc màu, thời tiết diễn biến khắc nhiệt: lũ lụt, hạn hán,
thiên tai thường xuyên xảy ra. Bên cạnh đó, tập quán canh tác của người dân còn
lạc hậu, việc tiếp nhận kỹ thuật mới còn hạn chế. Đặc biệt, chưa có bộ giống ngô
tiềm năng năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh
thái của vùng, với phương thức canh tác của địa phương.
Lai Châu là một tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam với
diện tích tự nhiên 9.068,8 km2 trong đó trên 91,8% diện tích đất nông lâm
nghiệp, có nhiều lợi thế phát triển sản xuất ngô. Các biện pháp kỹ thuật trong sản
xuất ngô chưa phù hợp, các giống ngô hiện có chưa thể đáp ứng được nhu cầu sản


2
xuất của bà con nông dân. Từ những nguyên nhân, hạn chế trên đã ảnh hưởng
tới năng suất và sản lượng ngô, dẫn đến sản xuất ngô chưa đáp ứng được nhu
cầu và khai thác tối đa tiềm năng của tỉnh. Con đường từ khi chọn lọc, lai tạo ra
một tổ hợp lai cho đến khi tổ hợp lai đó được công nhận giống chính thức là một
con đường dài, nó đòi hỏi việc nghiên cứu bài bản và công phu, sự lao động gian
khổ và nghiêm túc của các nhà khoa học. Trong đó việc nghiên cứu, khảo nghiệm
phản ứng của các giống với các điều kiện sinh thái, mùa vụ khác nhau là việc mà
bất cứ giống cây trồng nào cũng phải trải qua trước khi được công nhận giống, áp

trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng. Muốn có những giống
ngô mới năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại
cảnh cần nghiên cứu lai tạo và chọn lọc một cách kỹ lưỡng, xác định vùng thích
nghi của các giống mới trước khi đưa vào sản xuất trên diện rộng. Kết quả của quá
trình khảo nghiệm giống sẽ là cơ sở khoa học để lựa chọn những giống tốt thích
nghi với điều kiện của từng vùng, từng miền, phù hợp với từng mùa vụ và các chế độ
canh tác khác nhau.
Trong quá trình khảo nghiệm sẽ loại được các giống có những yếu điểm về các
đặc tính nông sinh học như: thời gian sinh trưởng quá dài, cây quá cao, chống đổ kém
và dễ nhiễm sâu bệnh,… chọn lọc được những giống khắc phục được những yếu điểm
trên để giới thiệu cho sản xuất.
Tỉnh Lai Châu là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất ngô, tuy
nhiên năng suất bình quân lại đạt thấp hơn so với năng suất trung bình của cả nước.
Hiện nay trong tỉnh một số nơi còn sử dụng giống địa phương và giống thụ phấn tự
do. Các giống ngô lai được trồng chủ yếu trong tỉnh có nguồn gốc từ các công ty
nước ngoài như Monsanto, Syngenta, Bioseed,… nên khả năng thích ứng của các
giống ở mỗi vùng sinh thái sẽ khác nhau. Vì vậy để phát huy được các đặc tính tốt
của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh
thái tại cơ sở sản xuất thì trước khi đưa các giống ngô lai mới vào sản xuất đại trà
tại một vùng nào đó, nhất thiết phải tiến hành đánh giá quá trình sinh trưởng, phát
triển, khả năng chống chịu và tính thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng đó.Vì
vậy, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai triển vọng
tại tỉnh Lai Châu là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác giống để
phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.


4
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây trồng có lịch sử gieo trồng từ lâu đời, các nghiên cứu của Vavilov


2013

185,934

54,61

1.015,400

2014

184,662

56,23

1.038,330

2015

182,490

55,38

1.010,609

2016

187,959

56,40

nhân chính ảnh hưởng đến sản lượng ngô.
Cùng với khoai mì, gạo vỡ, cám gạo, ngô là một trong những cây trồng chính
cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi phát triển. Tuy nhiên, các sản phẩm từ
ngô ở trong nước lại không đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong những năm
gần đây khiến kim ngạch nhập khẩu ngô nước ta hàng năm luôn ở mức 2 triệu tấn.
Vì thế, các nhà chế biến ngô phải chịu áp lực lớn trong việc tăng sản lượng nhằm
đáp ứng nhu cầu tăng lên nhanh chóng của thị trường. Tăng năng suất trung bình
bằng việc sử dụng các giống cây trồng năng suất cao được xem là phương án phù
hợp nhất để đạt được mục tiêu của chính phủ trong việc tăng sản lượng ngô đáp ứng
nhu cầu ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Đến nay việc tăng cường chọn tạo phát triển các giống ngô lai mới và áp
dụng kỹ thuật canh tác phù hợp đã giúp năng suất ngô nước ta tăng liên tục với tốc
độ nhanh hơn so với năng suất trung bình của thế giới. Tình hình sản xuất ngô ở
Việt Nam được thể hiện trong bảng 1.2.


6
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(triệu ha)

(tạ/ha)

(triệu tấn)


5,287

2016

1,151

45,53

5,244

Năm

(nguồn :FAOSTAT,2018) [32]
Diện tích ngô ở Việt Nam năm 2012 đạt 1,156 triệu ha tăng lên 1,178 triệu ha
năm 2014 và giảm khá nhanh đến năm 2016 diện tích trồng ngô chỉ đạt 1,151 triệu
ha thấp nhất trong 5 năm trở lại đây.
Năng suất tương đối ổn định từ năm 2012 đạt 43,02 tăng nhẹ qua các năm, đến
năm 2016 đạt 45,53 tạ/ha.
Sản lượng ngô tăng giảm không đáng kể, năm 2012 đạt 4,973 triệu tấn, đến
năm 2016 đạt 5, 244 tấn.
1.2.3. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Lai Châu
Bảng 1.3. Diện tích ngô tỉnh Lai Châu
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(ha)


905

46,74

4.230

2017

854

47,20

4.031

Năm

(Nguồn: Tổng cục thống kê – Tỉnh Lai Châu 26/3/2017)[21]
Diện tích ngô của tỉnh Lai Châu có sự biến động từ năm 2013 diện tích đạt
762 ha tăng lên 905 ha năm 2016 có xu hướng giảm nhẹ đến năm 2017 diện tích
ngô giảm còn 854 ha. Tuy nhiên năng suất ngô tăng đều qua các năm, năm 2013


7
năng suất ngô đạt 41,47 tạ/ha đến năm 2016 đạt 46,74 tạ/ha và năm 2017 tăng lên
47,20 tạ/ha. Về sản lượng có xu hướng tăng từ 3.160 tấn năm 2013 tăng lên 4.230
năm 2016 và giảm nhẹ xuống còn 4.031 năm 2017.
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô tại huyện Sìn Hồ - Tỉnh Lai Châu
Những năm trước đây do đặc thù về điều kiện khí hậu và hạn chế việc tưới
tiêu, giao thông đi lại khó khăn cùng với tập quán canh tác lạc hậu, do vậy việc
trồng ngô chưa được chú trọng. Trong 5 năm gần đây được sự quan tâm của Đảng

9.554

2015

6.215

16,65

10.349

2016

6.137

21,18

13.000

2017

5.880

28,30

16.641

(Nguồn: Tổng cục thống kê – Tỉnh Lai Châu 26/3/2017)[21]
Số liệu bảng 1.3 cho thấy, tổng diện tích trồng ngô của huyện Sìn Hồ - tỉnh
Lai Châu qua các năm có sự biến động nhẹ, tăng từ 6.330 ha (năm 2013) đến
năm 2016 đạt 6.137 ha sau đó đến năm 2017 giảm xuống còn 5.880 ha. Diện tích

biết sự khác biệt về năng suất của giống lai so với giống bố mẹ. Năng suất của con
lai vượt năng suất của giống bố mẹ là 25% (Ngô Hữu Tình, 2009) [18].
Năm 1960, Trung tâm cải tiến giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT) được
thành lập tại Mexico với nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo về ngô, lúa mì cho các
nước đang phát triển (CIMMYT (1999/2000))[28]. Sau hơn 50 năm hoạt động
chương trình ngô CIMMYT đã đóng góp đáng kể vào thành tựu ngô của 80 nước


9
trên thế giới. CIMMYT đã khởi xướng nhiều chương trình ngô lai phù hợp với các
mục tiêu lớn là phát triển các vật liệu mới cho chọn tạo giống lai, tích luỹ và công
bố những thông tin về tính hữu dụng của các vật liệu nhiệt đới, cận nhiệt đới mà
CIMMYT đang có (Ngô Hữu Tình và cs, 1997)[16].
Bên cạnh đó các nhà chọn tạo giống ngô tại CIMMYT còn nghiên cứu
phát triển các giống ngô hàm lượng protein cao (Quality Protein Maize). Cách
đây hơn 3 thế kỷ, những nghiên cứu về ngô Quality Protein Maize. Đã được
tiến hành sau khi khám phá ra đột biến gen lặn Opapue 2 và gen trội không
hoàn toàn Floury 2 ở ngô. Những gen này quy định hàm lượng đạm và đặc
biệt là hàm lượng Lisine và Tryptophan, đã giải quyết đòi hỏi của thị trường
ngô ngày càng cao theo hướng tăng diện tích ở mức độ nhất định đi đôi với
năng suất và tăng hàm lượng, chất lượng đạm. Lúc đầu, nhiều chương trình
quốc gia với sự tài trợ về tài chính to lớn của nhà nước, các tổ chức quốc tế và
tư nhân đã tập trung nghiên cứu giống ngô giàu đạm nội nhũ mềm (còn gọi là
nội nhũ xốp). Chương trình này đã thất bại vì không nâng cao được tỷ lệ và
chất lượng đạm, sâu bệnh nhiều, bắp dễ bị thối, bảo quản trong kho dễ bị sâu
mọt phá hoại và hạt dễ bị mất sức nảy mầm và lâu khô. Cuộc cách mạng về
ngô OPM, nội nhũ cũng chính thức mới được bắt đầu cách đây 20 năm. Các
nhà khoa học ở Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) và
một số nhà tạo giống trên thế giới đã phải tìm ra những hướng đi khác. Các
nhà khoa học bằng phương pháp tạo giống đặc biệt đã khắc phục những nhược điểm

thể thiếu của cơ thể, nó có thể cung cấp những thông tin về mối tương tác,
quan hệ giữa chúng cũng như bổ sung những nhân tố ảnh hưởng tới sự hình
thành cơ thể đa bào, tuy nhiên nghiên cứu của ông chỉ dừng lại ở cơ sở lý
luận. Đến năm 1922, Kotte và các sinh viên của Haberlant ở Đức đã công bố
những thành công trong nuôi cấy mô đỉnh chồi.
Việc lựa chọn các bộ phận của cây và kỹ thuật nuôi cấy mô phụ thuộc
vào đối tượng, mục đích của các nhà nghiên cứu. Việc ứng dụng công nghệ
sinh học hiện đại vào công tác chọn tạo giống ngô của các nhà khoa học trên
thế giới đã đạt được những thành công lớn đó, tạo dòng thuần bằng phương
pháp nuôi cấy bao phấn. Thụ tinh trong ống nghiệm đã thành công trong việc


11
khôi phục nguồn gen tự nhiên. Hiện nay kỹ thuật nuôi cấy bao phấn là một
trong những hướng nghiên cứu tạo dòng thuần invitro có nhiều triển vọng
(Trần Thị Thêm, 2006) [19].
Với mục đích chống sâu bệnh, tăng năng suất, các nhà nghiên cứu chọn
tạo giống đã thực hiện quá trình chuyển đổi di truyền. Ví dụ như loại ngô
Novartis, mang thêm gen lấy từ vi khuẩn Bacillus thuringensis, có khả năng
sản sinh một độc tố. Độc tố này là một chất sát trùng sinh hóa học, có tính
chất tiêu diệt bướm ống (pyrale) là một loại sâu cánh phấn (lepidoptere) mà
ấu trùng phá hại bắp. Lợi ích loại bắp này là tự nó chống lại sâu bọ, không
cần dùng thuốc hóa học.
Hiện nay đã có hơn 29 quốc gia trên thế giới có 14 triệu nông hộ trồng
cây biến đổi gen với diện tích 130 triệu ha. Nhờ sử dụng các cây trồng biến
đổi gen thế giới đã cắt giảm khoảng 0,39 triệu tấn thuốc trừ sâu và giảm khoảng
17,1% các độc hại ra môi trường liên quan đến sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật (Graham Brookes, 2011) [29].
Hiện nay công nghệ sinh học hiện đại được áp dụng vào công tác chọn
giống ngô nên các giống ngô mới ngày càng được trồng rộng rãi và phổ biến.

nghiên cứu ngô ở Việt Nam đã ứng dụng công nghệ sinh học trong tạo dòng
thuần và chuyển gen và đã thu được kết quả đáng khích lệ. Viện nghiên cứu ngô
đã cho ra đời hơn 10 dòng đơn bội kép, được đánh giá là rất có triển vọng trong
công tác tạo giống lai.
Bùi Mạnh Cường và cs (2006) [3] đã nghiên cứu tạo cây đơn bội kép bằng
kỹ thuật nuôi cấy bao phấn, kết quả từ 61 nguồn giống đã xác định được 16 giống
cho bao phấn phản ứng, 3 nguồn có khả năng tái sinh cây và 5 nguồn có khả năng tạo
được callus.
Sản lượng thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đã và đang không ngừng gia tăng
trong khoảng mười năm trở lại đây. Với mức độ khoảng 14 triệu tấn/năm (số liệu
ước tính) và sẽ còn tiếp tục tăng lên nữa, thì các nguyên liệu cung năng lượng
như thóc, các loại cám, tấm, ngô, sắn, lúa mì và dầu mỡ phải đảm bảo được ít ra
là 9 triệu tấn mỗi năm (tính trung bình các nguyên liệu cung năng lượng chiếm
60 - 70% trong công thức thức ăn) (Bộ Công thương, 2013) [2].


13
Như vậy để đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho việc chế biến thức ăn chăn
nuôi đòi hỏi chúng ta phải chủ động nguồn nguyên liệu, trong đó có ngô, trung bình
mỗi năm nước ta phải nhập khẩu gần 9000 tấn ngô mới đủ cung cấp cho tiêu dùng
trong nước.
Năm 2013 Việt Nam nhập khẩu ngô làm nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi,
với trị giá 0,67 tỷ USD với tỷ trọng đạt 0,5% trong tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa
năm 2013, tăng 34,4% so với năm 2012, lượng ngô nhập khẩu trong 11 tháng đầu
năm 2014 đạt 4,07 triệu tấn, tăng 137,67%; tổng giá trị nhập khẩu đạt 1,05 tỉ USD,
tăng 92,73% so cùng kỳ năm 2013. Các thị trường nhập khẩu chính trong 11 tháng
đầu năm 2014: Braxin (2,33 triệu tấn), Ấn Độ (631,07 ngàn tấn), Achentina (355,06
tấn), Thái Lan, Campuchia, Lào.
Tháng 4 năm 2015 Việt Nam nhập khẩu 470.485 tấn ngô với tổng giá trị
gần 106 triệu USD (Tổng cục Hải Quan, 2015)[20].

chủ yếu từ CIMMYT, chúng ta đã chọn tạo và đưa ra sản xuất một loạt giống
thụ phấn tự do như MSB49 công nhân giống năm 1987, TSB2 công nhận
giống năm 1987, TSB1 (1990), HLS (1987)… nhờ thay đổi cơ cấu giống nên
năng suất ngô năm 1990 đạt 1,55 tấn/ha.
* Giai đoạn 1990 - 1995: Các nhà nghiên cứu ngô nước ta đã chú trọng
hơn vào việc phát triển các dòng thuần để tạo giống ngô lai. Ở Việt Nam,
chương trình chọn tạo giống ngô lai đã được bắt đầu từ những năm đầu của
thập kỷ 60 (Trần Hồng Uy, 1999) [23]. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thử
nghiệm đã không đạt kết quả như mong muốn do nguồn vật liệu không thích
hợp trong điều kiện nhiệt đới ẩm, ngày ngắn của Việt Nam.
Những năm đầu của thập kỷ 90, với chính sách mở cửa, ngô lai ở Việt
Nam là một trong những cây hội nhập sớm nhất. Cuộc cách mạng về ngô lai ở
nước ta đã được nhà nước đặc biệt quan tâm. Năng suất và sản lượng ngô ở
Việt Nam đã có sự chuyển biến rõ rệt do áp dụng vào thành tựu ngô lai vào
sản xuất. Do cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng được một số khâu trong
quá trình sản xuất giống ngô lai, nên ngô lai chưa phát huy được hết vai trò
của nó. Vì vậy, để chương trình ngô lai phát triển các nhà khoa học Việt Nam
đã đưa ra các định hưỡng rất rõ ràng:


15
+ Thu thập, bảo tồn và phát triển nguồn nguyên liệu ngô trong nước,
đặc biệt là những nguồn nguyên liệu quý về tính chống chịu, chín sớm, chất
lượng cao làm lương thực.
+ Nhập nôi những nguồn nguyên liệu ngô nhiệt đới, quan tâm đến tình
chống chịu của các giống này. Chú trọng các nguồn nguyên liệu chín sớm,
ngô thực phẩm như: ngô nếp, ngô đường, ngô rau, ngô có hàm lượng protein
cao (Trần Hồng Uy, 1999) [23].
Ở giai đoạn này, sử dụng các giống lai không quy ước. Những giống lai
không quy ước được sử dụng trong sản xuất là giống LS6, LS8 thuộc loại lai đỉnh

nước với giá thành thấp chỉ bằng 70% giá giống của các công ty nước ngoài.
- Các giống ngô lai mới do Việt Nam chọn tạo rất phong phú, bao gồm:
+ Nhóm giống dài ngày: T6 (2000), LVN98 (2002).
+ Nhóm giống trung ngày: LVN12 (1995), LVN17 (1999), T9 (2004),
VN8960 (2004), LHC9 (2004), LVN145 (2007)…
+ Nhóm giống ngắn ngày: LVN20 (1998), LVN25 (2000), LVN99
(2004), V98 (2004), VN6 (2005), HN45,…
- Nhóm giống ngô lai mới có tiềm năng, năng suất thấp hơn 10 tấn/ha
đang được thử nghiệm như: SCI184, TB61, TB66, VN885, SX2017, SX2004,
TT04-B1, LVN66, MB069,… (Nguyễn Khôi, 2008) [10].
- Ngoài việc quan tâm đến cải thiện năng suất, các nhà khoa học còn
đầu tư vào chương trình nghiên cứu và phát triển ngô chất lượng protein cao
(Quaility Protein Maize). Viện nghiên cứu ngô đã được hợp tác với CIMMYT trong
chương trình nghiên cứu và phát triển ngô QPM, tháng 8 năm 2001 giống ngô lai
chất lượng đạm cao HQ2000 đã được Hội đồng khoa học công nghệ Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thông cho phép khu vực hóa, có năng suất cao hơn ngô
thường, hàm lượng protein là 11% (ngô thường là 8,5 - 9%) trong đó hàm lượng
Lysine là 4,0% và Triptophan là 0,82% (còn ngô thường là 2,0% và 0,5%) (Trần
Hồng Uy, 1999) [23].
Từ năm 2001 - 2005, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp với
Viện Nghiên cứu Ngô đã tiến hành khảo nghiệm một số giống ngô chất lượng
protein cao và thu được kết quả như sau: Thí nghiệm ở vụ Xuân và vụ Thu Đông



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status