luận văn thạc sĩ đánh giá chức năng sinh thái và định hướng sử dụng hợp lý rừng ngập mặn tiên yên hà cối quảng ninh - Pdf 35

Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học trong phạm vi RNM Tiên Yên - Hà Cối có rất nhiều lợi ích thiết thực phục vụ cho công tác bảo tồn các giá trị đặc hữu, quý hiếm về tài nguyên sinh vật. Thông qua các nghiên cứu khảo sát chi tiết tạo
cơ sở khoa học vững chắc cho quản lý; như có thể phát hiện ra các bãi giống, bãi đẻ của các loài hải sản từ đó có thể đề ra các biện pháp quản lý hữu hiệu hơn.
Mặt khác cũng cần ưu tiên triển khai các nghiên cứu mang tính hỗ trỡ kỹ thuật như hoàn thiện hoặc xây dựng các quy trình công nghệ phục vụ cho việc nuôi trồng thủy sản các loài quý hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao, nghiên cứu các
biện pháp phục hồi các quần xã RNM đặc trưng nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn trong phân khu phục hồi sinh thái của khu vực.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG SINH THÁI
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ RỪNG NGẬP MẶN
TIÊN YÊN - HÀ CỐI, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành:

Khoa học Môi trường

Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.

Hà Nội - 2015
khu vực Tiên Yên - Hà Cối đã xác định được 69 loài cá kinh tế, trong đó ở vùng ven biển cửa sông Tiên Yên có 65 loài và vùng ven biển cửa sông Hà Cối có 41 loài. Về giáp xác và thân mềm, bước đầu xác định 23 nhóm loài Giáp xác, 45 loài và
nhóm loài thân mềm có giá trị kinh tế. Chúng được chia thành các nhóm có giá trị thực phẩm hoặc/và xuất khẩu - TP/XK và nhóm có giá trị mỹ phẩm, mỹ nghệ - MN, phục vụ Y học - DL.
Mặt khác, kết quả nghiên cứu thân mềm hai mảnh vỏ của Hoàng Đình Chiều (2010) cho thấy, tổng trữ lượng ước tính tức thời của động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở RNM Đồng Rui đạt 128 tấn, với khả năng khai thác 64 tấn. Trong số 30 loài thuộc
17 họ thân mềm hai mảnh vỏ xác định được ở RNM Đồng Rui, đã ghi nhận được có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như sò huyết (Anadara granosa), hầu cửa sông (Crassostrea rivularis), ngao lụa (Meretrix lusoria), ngao Bến Tre (Meretrix
lyrata), ngao dầu (M. meretrix)...



tạo ra mối liên kết tam giác cho nhiều tiến trình sinh thái, sinh học, hóa học và lý
học. Ở Việt Nam, theo kế hoạch hành động Bảo vệ và phát triển RNM Việt Nam
đến 2015 cũng cho thấy, các giá trị môi trường của RNM như chắn sóng, chắn gió
bảo vệ đới bờ biển, chống xói mòn, cải tạo đất, cải tạo chất lượng nước, lưu giữ các
chất ô nhiễm không đổ ra biển, cung cấp chất dinh dưỡng tự nhiên cho hệ sinh thái
động thực vật, v.v… đều có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển kinh tế và bảo
tồn. Bên cạnh đó, hệ sinh thái RNM còn cung cấp các nguồn gen vô cùng quý giá
nhằm duy trì tính ĐDSH của hệ động thực vật.
1


Hơn nữa, với hệ thống rễ dày đặc của các loài cây, RNM có tác dụng rất lớn
trong việc bảo vệ đất ven biển và vùng cửa sông. Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả sự
phá hủy bờ biển của sóng, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng ngăn giữ chất ô
nhiễm, các kim loại nặng từ sông đổ ra biển, bảo vệ các sinh vật vùng ven bờ.
Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền nên hệ sinh thái RNM
có tính đa dạng sinh học cao. Lượng mùn bã phong phú của RNM là nguồn thức ăn
dồi dào cho nhiều loài động vật ở nước. Theo thống kê của Vũ Trung Tạng và Phan
Nguyên Hồng, có tới 43 loài cá đẻ hoặc có ấu trùng sống trong RNM ở Việt Nam.
Đây là nơi nuôi dưỡng nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm biển, cua, cá
bớp, sò, ốc hương… Ngoài ra, RNM còn là nơi cư trú và kiếm ăn của nhiều loài bò
sát quý hiếm như cá sấu, kì đà hoa, rùa biển. Một số loài thú như rái cá, mèo rừng,
khỉ đuôi dài cũng bắt gặp trong RNM, đặc biệt có loài chim nước, chim di cư trong
đó có một số loài đang bị đe dọa tuyệt chủng.
RNM Tiên Yên - Hà Cối nằm trên địa phận các huyện Hải Hà, Đầm Hà và
Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Theo số liệu điều tra của huyện Tiên Yên (2010), ở khu
vực huyện Tiên Yên có trên 10.000 ha RNM. Theo kết quả thực hiện tiểu dự án
“Quy hoạch chi tiết khu bảo tồn biển Tiên Yên - Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh” do PGS. TS.
Nguyễn Văn Vịnh làm chủ nhiệm trong hai năm 2010 - 2011 thuộc dự án “Điều tra
tổng thể đa dạng sinh học, nguồn lợi thuỷ hải sản và quy hoạch các khu bảo tồn biển


Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử và tình hình nghiên cứu RNM thế giới và Việt Nam
1.1.1. Thế giới
Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến
lĩnh vực của đề tài. Trong cuốn "Thư mục nghiên cứu về RNM“ (Chương trình Biển
KT.03, 1991-1995) đã liệt kê hơn 420 công trình nghiên cứu của 12 quốc gia trong
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương từ năm 1600 đến năm 1975. Trong đó, phần
lớn các nghiên cứu này đều có đề cập đến khu hệ động thực vật phân bố trong hệ
sinh thái RNM.
Nhiều công trình công bố kết quả nghiên cứu liên quan đến hệ sinh thái
RNM đã được tổng hợp, thống kê và đăng tải trong 17 tuyển tập các báo cáo tại Hội
thảo của các dự án thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Umali, 1986). Trong
đó có một số công trình công bố có liên quan đến các lĩnh vực: Cấu trúc quần xã và
khu hệ động thực vật và các thảm thực vật phân bố trong vùng RNM; Năng suất
mạng lưới thức ăn và dòng năng lượng, chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái
RNM; Các đặc tính thuỷ lý, thuỷ hóa trong hệ sinh thái RNM; Mối liên quan giữa
RNM và các hệ sinh thái, các quần xã động vật đáy, quần xã biển khơi, quần xã sinh
vật vùng triều và đề xuất phương hướng quản lý RNM ở các quốc gia.
Nghiên cứu của Ball (1988) ở Florida (Mỹ) đã chỉ ra rằng “Cấu trúc mùn bã
hữu cơ phụ thuộc rất nhiều vào mắt xích thức ăn trong hệ sinh thái RNM. RNM còn
là nơi ươm nuôi ấu trùng cho nhiều loại cá, giáp xác và động vật thân mềm”. Ngoài
ra, tác giả còn đưa ra được sơ đồ mối quan hệ giữa RNM với các thành phần sinh
vật sống. Nghiên cứu của Robertson và Blaber (1992) đã nhận định “Hệ sinh thái
RNM có vai trò trong việc duy trì chất lượng môi trường và năng suất đánh bắt
trong nghề cá thương mại và thủ công trên thế giới”.
Một số công trình nghiên cứu khác như: Nghiên cứu về mối quan hệ sinh thái
phân bố, sinh trưởng, vòng đời và dinh dưỡng của loài cua bùn (Scylla serrata) với
hệ sinh thái RNM (Soepadmo, et al., 1984); Nghiên cứu về mức độ đa dạng, phân

số đặc điểm về nguồn lợi hải sản phân bố trong vùng RNM. Tài nguyên động và
thực vật trong các VQG mũi Cà Mau cũng được đề cập trong tạp chí chuyên ngành
5


về RNM khu vực Châu Á -Thái Bình Dương “Bakawan” tháng 6 năm 1986. Năm
1987, trong cuốn sách Rừng ngập nước ở Việt Nam - Nhà xuất bản Giáo dục (120
trang) của Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền có trình bày hệ thực vật RNM
và rừng tràm làm tài liệu tham khảo trong các trường học. Cuốn sách được nhiều
nhà khoa học quan tâm trong thời gian đó là RNM (rừng Sát), (Phan Nguyên Hồng,
1988). Tác giả đề cập đến hệ thực vật, sự phân bố của các quần xã RNM và hệ động
vật trên cạn; trong đó đã xác định hệ sinh thái RNM là nơi ươm giống cung cấp thức
ăn cho các loài thủy sản.
Từ năm 1991 đến năm 1995, đề tài cấp Nhà nước (KT. 04-13) “Sử dụng bền
vững hệ sinh thái RNM để nuôi tôm có hiệu quả” thuộc Chương trình Nhà nước
KT-04 do Bộ Thủy sản chủ trì, Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái RNM (MERC)
là cơ quan thực hiện chính phối hợp với Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Nghiên cứu
Nuôi trồng Thủy sản II. Sản phẩm chính của đề tài là những báo cáo khoa học liên
quan như: Báo cáo tình hình nuôi tôm biển ở các cơ sở quốc doanh tỉnh Bến Tre;
Một số cơ sở khoa học của việc nuôi tôm trong các vùng RNM (Phan Nguyên
Hồng, 1995); RNM và nguồn lợi thủy sản (Phan Nguyên Hồng, 1995); Nuôi hải sản
trong các vùng RNM (Phan Nguyên Hồng và N. H. Trí, 2000); Vai trò của RNM về
cấu trúc và chức năng đối với nguồn lợi thủy sản (Phan Nguyên Hồng và Nguyễn
Hoàng Trí, 2000).
Một trong những dự án quan trọng mang tính hợp tác Quốc tế đã được triển
khai đó là dự án "Ngăn ngừa xu hướng suy thóai môi trường ở biển Đông và vịnh
Thái Lan gọi tắt là “Dự án Biển Đông” do UNEP xây dựng trong khuôn khổ hỗ trợ
của Quỹ Môi trường toàn cầu. Dự án có sự tham gia của 7 nước thành viên:
Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam.
Mục tiêu chủ yếu là: “Tạo môi trường thuận lợi cho sự hợp tác giữa các nước trong

đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi của một số loài động vật đáy ở vùng ven biển
làm cơ sở cho nghề nuôi hải sản, đã đánh giá những tác hại to lớn do phá rừng ngập
mặn để nuôi tôm quảng canh thô sơ ở một số địa phương, đánh giá vai trò của rừng
ngập mặn đối với việc phát triển nguồn lợi hải sản vùng triều, xây dựng mô hình
lâm ngư kết hợp và xác định tỷ lệ thích hợp giữa diện tích rừng là 70-75% và diện
tích nuôi tôm trong rừng ngập mặn là 25-30%.
7


Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Cúc và cộng sự (2008), tổng diện tích
RNM ở Quảng Ninh năm 2008 là 20.818,40 ha bao gồm 326,35 ha rừng trồng;
17.465,2 ha rừng tự nhiên (trong đó, 11.774,27 ha rừng hỗn giao; 894,34 ha mắm
thuần loài; 3.112,44 ha đâng thuần loài; 1.297,75 ha sú thuần loài; 377,4 ha bần
chua thuần loài) và 3.135,85 ha cây rải rác. Đáng chú ý là tỷ lệ rừng trồng sống sót
trên diện tích đã trồng từ năm 1993 đến năm 2008 là thấp, với diện tích 326,35 ha
trên tổng số 2.466 ha đã được trồng. Tính từ năm 1975 đến năm 1990, Quảng Ninh
mất hơn một nửa diện tích rừng ngập mặn (34.000 ha), trung bình mỗi năm mất
2.300 ha. Còn từ năm 1990 đến 2000 trung bình mỗi năm khu vực này mất hơn 300
ha diện tích rừng ngập mặn, diện tích rừng ngập mặn còn suy giảm mạnh hơn từ
năm 2000 đến 2008, chỉ trong 8 năm diện tích rừng ngập mặn đã giảm 4.609 ha.
Nguyên nhân của sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn đó có thể kể đến như: Phong
trào làm đầm nuôi thủy sản, mở rộng diện tích đô thị, xây dựng cầu cảng và các khu
công nghiệp,…
1.2.2. Nghiên cứu về đa dạng sinh học
Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2009) trong báo cáo “Đa dạng Sinh học
vùng cửa sông ven biển Tiên Yên - Đầm Hà, Quảng Ninh và vấn đề bảo tồn”- kết
quả nghiên cứu của nhiệm vụ cấp Nhà nước về Bảo vệ môi trường thực hiện từ
năm 2008 - 2009, đã xác định được tại khu vực Tiên Yên và Đầm Hà có 69 loài
thực vật nổi, 58 loài động vật nổi, 33 loài rong biển, 4 loài cỏ biển, 228 loài thực
vật bậc cao (trong đó có 18 loài ngập mặn chính thức, 43 loài tham gia rừng ngập

nguồn lợi thuỷ sản và đa dạng sinh học của một số vùng rừng ngập mặn điển hình
để khai thác hợp lý và phát triển bền vững” đã xác định được tại RNM Đồng Rui có
tổng số 137 loài thuộc hai ngành chính: ngành dương xỉ có 6 loài, ngành hạt kín có
131 loài. Mặc dù số lượng loài thực vật trong RNM khá phong phú như vậy nhưng
số loài cây ngập mặn chủ yếu chỉ có 16 loài, còn lại chủ yếu là các loài cây tham gia
ngập mặn (33 loài) và các loài cây di cư vào rừng ngập mặn (88 loài). Ngoài ra, đề
tài cũng xác định được 84 loài thực vật phù du, 72 loài động vật phù du, 75 loài cá,
67 loài giáp xác, 79 loài thân mềm có mặt trong RNM Đồng Rui.
9


1.3. Nhận xét và đánh giá chung
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp những công trình nghiên cứu trước
đây, trong đó có đề cập đến một số kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học và chức
năng sinh thái trong HST rừng ngập mặn Tiên Yên – Hà Cối có thể đưa ra một số
nhận xét sau đây:
- Các kết quả, sản phẩm khoa học và tài liệu nghiên cứu liên quan hiện có
đang nằm rải rác ở các nghiên cứu khác nhau, không được cập nhật thường xuyên.
Do vậy khó có thể tổng hợp cơ sở dữ liệu để đánh giá đầy đủ tính đa dạng sinh học
và chức năng sinh thái trong HST rừng ngập mặn Tiên Yên – Hà Cối.
- Hầu hết các công trình nghiên cứu có liên quan được thực hiện một cách
riêng lẻ hoặc kết hợp từ một trong các nội dung nghiên cứu của các đề tài, dự án nên
nhìn chung, các nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra được những kết quả tổng hợp cho
HST rừng ngập mặn Tiên Yên – Hà Cối.
- Có thể nhận thấy, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây mới chỉ
được tổng hợp từ một khu vực cụ thể của HST rừng ngập mặn Tiên Yên – Hà Cối
nên chưa thể đại diện và đầy đủ cho tính đa dạng sinh học và chức năng sinh thái
của khu vực nghiên cứu.

10

các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, báo cáo qui hoạch phát triển thủy sản và kinh tế-xã
hội của địa phương.
11


2.2.1.2. Phương pháp thu thập mẫu tại hiện trường xác định trữ lượng cacbon
Luận văn sử dụng phương pháp của IPCC (2003) để nghiên cứu sinh khối,
đó là phương pháp chặt hạ để đo đếm mẫu nghiên cứu. Các bước tiến hành gồm:
- Tại mỗi trạng thái rừng, lập 1 ô tiêu chuẩn (ÔTC) điển hình có diện tích
1000 m2 (0,1 ha) (kích thước 33,3 m x 33,3 m).
- Xác định tên loài, đánh số thứ tự cho loài, đếm mật độ cây từng loài trong
ÔTC.
- Lựa chọn một số cây đại diện cho từng loài trong ÔTC để lấy mẫu.
- Dùng cuốc, thuổng đào, dao cắt thu toàn bộ các bộ phận (rễ, thân, lá, cành)
của các cây đại diện.
- Cân xác định khối lượng tươi (sinh khối tươi) của các cây đại diện, sau đó

chọn cây tiêu chuẩn (có trọng lượng trung bình của các cây đại diện) cho vào bì đưa
về phòng thí nghiệm để xác định sinh khối khô.
- Ghi chép đầy đủ số liệu đo đếm vào nhật ký thực địa.
2.2.1.3. Phương pháp xác định trữ lượng cacbon trong phòng thí nghiệm
Xác định sinh khối khô của cây tiêu chuẩn bằng phương pháp tủ sấy ở nhiệt
độ 1050C. Mẫu được sấy trong khoảng thời gian 72 giờ liên tục đến khi đạt trọng
lượng không đổi. Dùng cân phân tích để xác định trọng lượng của mẫu. Sau khi xác
định được sinh khối khô của cây tiêu chuẩn cho từng loài trong ÔTC, tiến hành các
bước tính toán sau:
- Xác định sinh khối tươi/khô của ÔTC:
m

POTC   Pk  N k

về các nội dung nghiên cứu của đề tài.
2.2.4. Phương pháp viễn thám, hệ thống thông tin địa lý
Phương pháp này được sử dụng trong việc thành lập bản đồ lớp phủ thực vật.
Phần mềm được sử dụng để thiết lập các lớp thông tin là Mapinfo 10.5 được hỗ trợ
và liên kết với các tính năng của Window 7. Các lớp thông tin được xử lý như là các
dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính, trong một bộ cơ sở sữ liệu của GIS. Về
quy trình thành lập bản đồ, chúng tôi vận dụng quy trình Kycheler (1967) với những
bước như sau:
13


Bước 1: Thu thập các tư liệu đã công bố liên quan khu vực nghiên cứu về địa
hình, khí hậu, thủy văn, thực vât… dựa vào các điều kiện tự nhiên trong vùng, kết
hợp với việc giải đoán ảnh vệ tinh, tiến hành định loại và phân tích bước đầu các
đối tượng của lớp phủ thực vật. Xây dựng khóa giải đoán sơ bộ và bản đồ phân tích
vùng khóa.
Bước 2: Tiến hành thực địa khảo sát vùng nghiên cứu, lập tuyến khảo sát,
kiểm tra các đối tượng đã được định loại bước đầu trên ảnh, tiến hành mô tả và thu
nhập số liệu về thành phần, đặc điểm, cấu trúc của đối tượng, hiệu chỉnh ranh giới
của đối tượng trên ảnh viễn thám, lập khóa giải đoán.
Bước 3: Hiệu chỉnh khóa giải đoán, kết hợp tư liệu thu thập trước và trong
quá trình thực địa để thành lập bản đồ lớp phủ thực vật trên ảnh vệ tinh. Đồng thời
số hóa các lớp thông tin về giao thông, thủy văn, địa hình trên phần mềm Mapinfo
10.5.

14


Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN


hẹp và sông suối nên mùa mưa áp lực của nước rất lớn dễ xảy ra lũ gây ra hiện
tượng xói mòn, rửa trôi, làm ngọt hóa đột ngột hoặc phá vỡ các đầm nuôi trồng hải
sản ven biển.
Phần đất liền của khu vực Tiên Yên - Hà Cối, có độ cao chủ yếu từ 0,2 đến
20m có chia gồm hai dạng địa chất chính.
- Phù sa cổ ở khu vực gò đồi và các dải đất hẹp, chạy dọc theo quốc lộ 18, có
độ cao trung bình 25m, có nơi cao trên 50m, là dạng phù sa cổ phủ trên nền đá biến
chất, sa thạch, diệp thạch. Địa hình dốc thoải, lượn sóng, quá trình feralít mạnh tạo
thành kết vón đá ong. Phù sa cổ càng gần núi càng lẫn nhiều cuội sỏi, đất chứa
nhiều sắt. Lớp phù sa cổ có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, màu nâu
vàng, vàng xám, đất chua.
- Phù sa mới ở khu vực bồi tụ ven biển, có địa hình thấp thoải dần ra biển,
thường có độ cao từ 1,5 - 3 m. Một số đã được cải tạo thành đất canh tác, đầm nuôi
trồng hải sản, còn lại là các bãi triều, RNM, cồn cát ven biển. Diện tích của dạng địa
chất này khá rộng, ví dụ như ở huyện Tiên Yên có trên 13.000 ha, trong đó RNM
khoảng 10.000 ha, trương bãi cát trên 2.000 ha phân bố chủ yếu ở các xã Tiên Lãng,
Đồng Rui, Hải Lạng, Đông Ngũ và thị trấn Tiên Yên.
16


Ngoài ra còn có vùng đất phù sa sông là dải đất hẹp chạy dọc theo các con
sông như Tiên Yên, Phố Cũ, Ba Chẽ và một số nhánh sông khác, thành phần cơ giới
chủ yếu là cát pha, bùn cát, cũng có diện tích tương đối (như ở huyện Tiên Yên là
trên 1100 ha). Vùng đất phù sa sông cũng có về tiềm năng lớn cho phát triển thuỷ
sản mặn, lợ, tạo sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
3.1.1.3. Điều kiện khí hậu, thủy văn, hải văn
a. Đặc điểm khí hậu
Khu vực Tiên Yên - Hà Cối nằm trong vịnh Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng trực iếp
chế độ khí hậu của lục địa, vịnh Bắc Bộ và các vùng lân cận. Khí hậu khu vực này
thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng và ẩm (kéo dài từ tháng 4 đến tháng

Yên). Độ ẩm thấp nhất vào nửa đầu mùa đông, tháng 10 - 12 là những tháng có độ
ẩm thấp nhất trong năm dưới 79%. Độ ẩm tương đối thấp nhất đo được tại trạm
Tiên Yên trong năm 2010 là 54% (trong lịch sử có lúc xuống đến 24%). Thời kỳ có
độ ẩm tăng lên từ nửa cuối đông và kéo đến tháng 9, trung bình tháng > 80%, có
tháng lên đến trên 87%.
b. Chế độ thủy văn
Khu vực Tiên Yên - Hà Cối có một số con sông vừa và nhỏ, diện tích lưu
vực không lớn, đổ vào khu vực vịnh Tiên Yên - Hà Cối. Trong đó, lớn nhất là sông
Tiên Yên có chiều dài 82 km, lưu lượng thấp nhất 28 m3/s, lưu lượng nước lớn nhất
vào mùa lũ lên đến 2.090 m3/s. Sông Hà Cối bắt nguồn từ vùng Nam Châu Lĩnh
(cao 1506 m) chảy ra biển theo hướng Tây Bắc -Đông Nam, dài 32 km, độ dốc
trung bình 22,5%. Sông Ba Chẽ dài 80km, bắt nguồn từ độ cao 275 m, lòng sông
hẹp và có lưu lượng nước không đáng kể, đổ ra khu vực cửa biển thuộc vùng đất
phía tây nam xã Đồng Rui. Sông Đầm Hà dài 25 km, lưu vực rộng 106 km2, độ dốc
bình quân lưu vực 18,5%. Các sông ở đây đều bắt nguồn từ vùng núi, có độ dốc lớn,
phía cửa sông thường hẹp.
Chế độ thuỷ văn không điều hoà trong năm, có sự chênh lệch lớn về lưu
lượng giữa hai mùa. Về mùa đông (mùa khô) mực nước ở các sông thường thấp, lưu
lượng nước nhỏ, lúc này tình trạng nước mặn xâm nhập vào qua vùng cửa sông khá
xa. Ngược lại, vào mùa mưa thường có lũ đơn, không kéo dài vì lũ lên nhanh và
cũng rút nhanh. Do địa hình dốc về phía Nam nên tạo ra nhiều khe suối nhỏ, chia
cắt thành nhiều khu vực, đặc trưng của các suối này là có độ dốc từ 4 - 6%, thóat
18


nước nhanh nhưng vì lòng sông suối hẹp nên sau những trận mưa lớn thường gây
ngập lụt ở một số nơi, gây đục nguồn nước do xói mòn, rửa trôi mạnh, phá huỷ hệ
thống đê điều, đầm nuôi. Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên
thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi
xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất là ở những

mặn giữa các tháng trong mùa đông không lớn.
Mùa hè: nhiệt độ nước biển đạt giá trị cao nhất trong năm, trung bình khoảng
29,5 - 30°C, cao nhất đạt 31,5 - 32,5°C, trung bình thấp nhất trong khoảng 26 27°C. Nhiệt độ nước biển cao nhất rơi vào tháng 7. Mùa hè cũng là mùa mưa nhiều,
lượng mưa lớn, đồng thời nước ngọt từ các sông suối từ đất liền đổ vào nhiều hơn,
do vậy nước biển bị pha loãng và độ mặn nước biển giảm xuống nhiều. Độ mặn
thấp nhất vào tháng 7, 8 giá trị trung bình từ 21 - 22‰, thậm chí xuống đến 5 17‰. Ở khu vực các cửa sông đổ độ mặn thấp nhất có thể xuống tới 2 - 4‰.
Nhìn chung, chế độ hải văn ở Tiên Yên có rất nhiều thuận lợi đối với nuôi
trồng hải sản. Tuy nhiên, việc nuôi trồng hải sản ở đây cũng gặp phải những bất lợi
do chế độ hải văn gây ra, như mùa mưa bão trùng với những tháng có chế độ thuỷ
triều cao nhất như tháng 7, đe dọa hoạt động sản xuất trong những tháng này. Ngoài
ra về mùa hè nước biển bị pha loãng nhanh hơn do vùng ven bờ tương đối kín và
nước ngọt từ sông suối đổ ra tương đối lớn nên độ mặn nước biển bị xuống rất thấp,
có thể xuống tới 2 - 4 ‰ gây bất lợi cho các loài hải sản.
3.1.1.4. Đặc điểm thổ nhưỡng
Đất đai khu vực Tiên Yên - Hà Cối được chia thành 2 vùng chính: vùng đất
bằng ven biển và vùng đất đồi núi. Vùng đồng bằng ven biển có thể chia thành 3
loại đất chính như sau:
a. Đất cồn cát và bãi cát
Loại đất này được phân bố chủ yếu ở các xã ven biển tuy có diện tích không
nhiều so với tổng diện tích tự nhiên vùng nhưng lại cần được xem xét tác động và
khai thác hợp lý nhằm hạn chế hiện tượng sa mạc hóa cụ bộ.

20


b. Đất mặn
Đất mặn khu vực Tiên Yên - Hà Cối được chia thành 5 loại: mặn sú vẹt,
mặn chua, đất mặn do ảnh hưởng của mạch nước ngầm, đất ít mặn, đất mặn và
chua mặn.
Đất này được phân bố chủ yếu ở các xã ven biển và rất phức tạp, do tác động

b. Hệ sinh thái bãi triều
Hệ sinh thái bãi triều có diện tích khá lớn tại khu vực Tiên Yên, Hà Cối. Đây
là hệ sinh thái có tiềm năng nuôi trồng thủy sản cao của vùng. Hệ thực vật chủ yếu
là những loài ngập mặn thực thụ với các đại diện như Sú - Aegiceras corniculatum
(L.) Blanco, Trang - Kandelia obovata Sheue Liu &Yong, Đước - Rhizophora
apiculata Blume, Vẹt dù - Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lam., Đâng - Rhizophora
stylosa Griff., Mắm biển - Avicennia marina (Forsk.) Veirh,… Đại diện cho các loài
thực vật phù du trong sinh cảnh này là Rhizosolenia setigera Brightwell,
Chaetoceros brevis Schiill, Chaetoceros compresus Lauder, Chaetoceros decipiens
Cleve,…
Trong khu hệ động vật, các loài thường gặp: sò (Arca), ngao (Meretrix), vẹm
(Mytilus), hàu (Ostrea), phi (Sanguinolaria), ngán (Cyclina), vạng (Mactra), don
(Glaucomya), dắt (Aloidis), tu hài (Lutraria), ốc đĩa (Nerita)…
c. Hệ sinh thái cửa sông
Trong thủy vực này xuất hiện các các loài cây ưa nước lợ, thích nghi với
dòng nước chảy và chịu tác động của thủy triều lên xuông. Thành phần loài chủ yếu
của các quần xã thực vật khu vực này là ô rô (Acanthus ilicifolius), các nhóm cây
thuộc họ Cói (Cyperaceae), sậy (Phragmitea karka),... Loài thân gỗ có thể tìm thấy
trong các quần xã thực vật khu vực này là bần chua (Sonneratia caseolaris). Phân
tích thành phần các loài thực vật phù du trong thủy vực này cho thấy các loài ưu thế
là: Cyclotella kuetzingina Thw., Melosira dubia Kutz, Melosira granulata (Erh.)
Ralfs Melosira nummuloides (Dilw.) Agardh, Rhizosolenia longiseta Zacharias,
Chaetoceros abnomis Lauder,…
Về khu hệ động vật, thành phần loài có sự pha trộn giữa những loài nước
ngọt, nước mặn và nước lợ. Động vật nổi chiếm ưu thế vẫn là những loài thuộc bộ
Copepoda, Cladocera, ngoài ra còn gặp ấu trùng các nhóm thân mềm Mollusca,
22


giun nhiều tơ Polychaeta. Các ĐVPD thường gặp ở cửa sông như:: Schmackeria

nguyên liệu cho gỗ. Bên cạnh đó trong kiểu thảm này cũng có một số diện tích
trồng thông lấy nhựa (Thông nhựa - Pinus merkusii Jungh. et Vriese. và Thông đuôi
ngựa - Pinus massoniana Lamb.). Tuy nhiên do chu trình gây trồng và khai thác nên
kiểu thảm này bị biến động hành năm.
- Trảng cỏ
Do quá trình bỏ hoang sau khi khai thác diện tích đất trông cây nguyên liệu
do đất bị thóai hóa đã hình thành nên các trảng cỏ với ưu thế lá cỏ tranh - Imperata
cylindrica (L.) P. Beauv., và các loài cỏ thuộc họ Lúa - Poaceae.
Khu hệ động vật phổ biến là các loài động vật có xương sống trên cạn như:
lưỡng cư, bò sát, thú gặm nhấm như: cóc nhà Bufo melanostictus, chuột nhà Rattus
flavipectus, nhái Ranidae, thằn lằn Scincidae, rắn Scincidae, mèo rừng Felidae, lợn
rừng Suidae, nhím Hystricidae…
23


3.1.2. Nhân tố sinh thái nhân văn - xã hội tác động
3.1.2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội, dân cư và văn hóa
RNM Tiên Yên - Hà Cối liên quan đến địa phận 03 huyện là Hải Hà, Đầm
Hà và Tiên Yên. Tính đến hiện nay, dân số toàn khu vực là 131.458 người (trong
đó, huyện Đầm Hà 34.344 người, huyện Hải Hà 52.762 người, huyện Tiên Yên
44.352 người) trong đó dân số phân bố không đồng đều, các xã ven biển có dân cư
khá đông đúc bởi có quốc lộ 18 chạy qua... Thành phần dân tộc bao gồm người
Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đến là dân tộc Dao, Tày, Hoa, Sán Chay, Sán Dìu,
số còn lại là dân tộc Thái, Mường, Nùng, H’Mông và một số dân tộc khác không
đáng kể.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức tương đối cao trong khoảng 1,3 đến
1,8% (Huyện Hải Hà 1,3%, Huyện Đầm Hà 1,32%...). Trong vùng, trước đây theo
chương trình xây dựng vùng kinh tế mới nhiều người dân ở các vùng khác nhau đã
định cư ở đây. Những năm gần đây, tỷ lệ tăng dân số cơ học do hiện tượng di cư tự
do ngày càng được hạn chế nhưng vẫn đang tiếp diễn với tốc độ chậm trong đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status