Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THANH OAI ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI VÀ ĐỊNH HƢỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN BẠCH THÔNG,
TỈNH BẮC KẠN Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : TS. Hoàng Văn Hùng

dân huyện Bạch Thông, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Phòng Tài
nguyên và Môi trường, cùng các Phòng, Ban, nhân dân các xã của huyện
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động
viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân.
Với lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm tạ mọi sự giúp đỡ quý báu đó. Tác giả luận văn
Hoàng Thanh Oai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và yêu cầu 3
2.1 Mục đích 3
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
2.3. Yêu cầu 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 4
1.1. Tình hình đánh giá đất đai trên thế giới 4
1.1.1. Khái quát chung 4

3.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội 27
3.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Bạch Thông 46
3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của huyện Bạch Thông 49
3.2. Đánh giá tiềm năng đất đất đai huyện Bạch Thông 56
3.2.1. Các đơn vị đất đai huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 56
3.2.2. Các loại hình sử dụng đất của huyện Bạch Thông 59
3.2.3. Hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp 61
3.2.4. Đánh giá tiềm năng đất đai huyện Bạch Thông 70
3.2.5. Lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững
72
3.3. Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Bạch Thông 74
3.3.1. Những căn cứ để định hướng sử dụng đất 74
3.2.2. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 75
3.3.3. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 75
3.4.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp cho huyện Bạch Thông 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Hiện trạng đường huyện Bạch Thông 30
Bảng 3.2: Số đơn vị hành chính, diện tích và dân số huyện
Bạch Thông năm 2010 36
Bảng 3.3: Diện tích, cơ cấu các loại đất lâm nghiệp huyện Bạch
Thông 41
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện Bạch Thông qua
các năm 46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii


Đơn vị đất đai
LUT
Loại hình sử dụng đất
NN
Nông nghiệp
NVA
Thu nhập hỗn hợp
STT
Số thứ tự
TB
Trung bình
TPCG
Thành phần cơ giới
VAC
Vườn - Ao - Chuồng
2L - M
2 vụ lúa, một vụ màu
2M - L
2 vụ màu, một vụ lúa
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
ĐGTN
Đánh giá tiềm năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU


đất đai là một nội dung nghiên cứu không thể thiếu được trong quá trình phát
triển một nền nông, lâm nghiệp bền vững [37].
Hiện nay nước ta đã áp dụng những phương pháp đánh giá đất của FAO
coi đây là phương tiện để đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ quy hoạch sử
dụng đất hợp lý. Trên toàn quốc đã đánh giá đất trên 9 vùng sinh thái khác
nhau, xây dựng được 373 đơn vị đất đai trong đó miền bắc có 144 đơn vị đất
đai [37]. Các kết quả nghiên cứu này góp phần to lớn vào việc xây dựng chiến
lược về quy hoạch sử dụng đất toàn quốc và các vùng sinh [39]. Việc nghiên
cứu tiềm năng đất đai, xem xét mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng
đất làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất thích hợp là vấn đề có tính chất
chiến lược và cấp thiết của quốc gia và của từng địa phương [7], [24].
Huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn thuộc vùng núi cao do đó địa hình của
huyện mang đặc trưng miền núi, bị chia cắt mạnh, có dộ dốc lớn. độ cao trung
bình 400- 700m so với mặt nước biển, có 03 dạng địa hình chính là: Địa hình
đá vôi xen giữa các thung lũng hẹp tạo thành vách dựng đứng, cheo leo ít có
điều kiện phát triển nông nghiệp; Địa hình núi đất, độ dốc từ 20-40 độ nhưng
bị chia cắt bởi các khe suối, giao thông đi lại trong vùng rất khó khăn, là địa
bàn có thể sản xuất lâm nghiệp và nông- lâm kết hợp; Địa hình thung lũng
phân bố dọc theo sông, suối xen giữa dãy núi cao, cấu tạo nên các cánh đồng
trồng lúa, màu của các xã trong huyện.
Huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn là huyện thuần nông nên nông nghiệp
vẫn là ngành sản xuất chính. Bạch Thông nằm ở phía bắc của tỉnh Bắc Kạn
cạnh quốc lộ số 3, đây là quốc lộ nối liền từ thành phố Hà Nội đến tỉnh Cao
bằng, nên rất thuận tiện cho phát triển giao thông và vận chuyển hàng hóa.
Hiện nay trên địa bàn huyện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị
hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này đã gây áp lực mạnh tới việc sử dụng
đất đai, chuyển đổi cơ cấu đất đai và cơ cấu lao động đặc biệt là việc chuyển
diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác đòi hỏi huyện
Bạch Thông phải phát huy được thế mạnh về tiềm năng đất đai cũng như lao
động của mình. Đồng thời để đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của đất

- Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Bạch Thông, tỉnh
Bắc Kạn .

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU

1.1. Tình hình đánh giá đất đai trên thế giới
1.1.1. Khái quát chung
Trong đánh giá đất, đất đai được định nghĩa là một vùng đất mà đặc tính
của nó được xem như bao gồm những đặc trưng tự nhiên quyết định đến khả
năng khai thác được hay không và ở mức độ nào của vùng đất đó. Thuộc tính
của đất gồm có khí hậu, thổ nhưỡng và lớp địa chất bên dưới, thủy văn, giới
động vật, thực vật và những tác động quá khứ cũng như hiện tại của con
người [49].
Một quốc gia hay một dân tộc sử dụng đất đai của họ như thế nào là tùy
thuộc vào những nhân tố tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau bao gồm cả
các đặc tính của đất, các yếu tố kinh tế - xã hội, hành chính và những hạn
chế về chính trị cũng như nhu cầu và mục tiêu của con người [28].
Các phương pháp đánh giá đất đai được rất nhiều nhà khoa học và các tổ
chức quốc tế quan tâm, do vậy nó trở thành một trong những chuyên ngành
nghiên cứu quan trọng và nó gắn liền với công tác quy hoạch sử dụng đất, trở
nên gần gũi với người sử dụng đất.
Các nhà thổ nhưỡng học đã đi sâu nghiên cứu các đặc tính cấu tạo, các
quy luật và quá trình hình thành đất, điều tra và lập các bản đồ đất toàn thế
giới với tỷ lệ 1/5.000.000. Đồng thời từ thực tế lao động sản xuất trên đồng
ruộng các nhà khoa học và cả những người nông dân đã đi sâu nghiên cứu,
xem xét nhiều khía cạnh có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất trên từng

khoa học từ những công trình nghiên cứu toàn diện của nhà bác học Nga V.V
Docutraev.
Quan điểm đánh giá đất đai của Docutraev áp dụng phương pháp cho
điểm các yếu tố đánh giá trên cơ sở thang điểm đã được xây dựng thống nhất.
Dựa trên quan điểm khoa học của ông các thế hệ học trò đã bổ sung, hoàn
thiện dần dần, do đó phương pháp đánh giá đất của Docutraev đã được thừa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
nhận và phổ biến ra nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước thuộc hệ thống
XHCN cũ.
Đánh giá đất đai theo Liên Xô cũ gồm 3 bước:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính
chất tự nhiên).
+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp
với khí hậu, độ ẩm, địa hình).
+ Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của
đất đai).
1.1.2.2 Đánh giá đất ở Mỹ
Năm 1951 Cục Cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Mỹ (USBR) đã xây
dựng phương pháp phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irrigation land
suitabitily classification). Việc phân loại bao gồm 6 lớp, từ lớp có thể trồng
được (arable) đến lớp có thể trồng trọt được một cách giới hạn (limited
arable) và lớp không thể trồng trọt được (non - arable). Trong hệ thống phân
loại này ngoài đặc điểm đất đai một số chỉ tiêu về kinh tế định lượng cũng
được xem xét có giới hạn ở phạm vi thủy lợi.
Phương pháp này được sử dụng thành công ở Mỹ và sau đó được vận
dụng ở nhiều nước. Khái niệm chủ yếu nêu lên trong hệ thống phân loại tiềm
năng đất đai là những khái niệm về hạn chế, đó là những tính chất đất đai gây
trở ngại cho việc sử dụng đất.

trúc của đất, màu sắc đất, độ chua, độ no bazơ, hàm lượng mùn v.v. Các đặc
tính, các mối quan hệ của các yếu tố được thể hiện dưới dạng phương trình
toán học. Kết quả phân hạng đánh giá đất được thể hiện dưới dạng % hoặc
cho điểm.
1.1.2.5 Phương pháp đánh giá đất theo FAO
Thấy rõ vai trò quan trọng của đánh giá đất làm cơ sở cho quy hoạch sử
dụng đất, tổ chức Nông - Lương của Liên Hợp Quốc (FAO) cùng với sự tham
gia của các chuyên gia đầu ngành đã tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước
xây dựng nên bản đề cương đánh giá đất đai (FAO, 1976). Tài liệu này đã
được cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương tiện
tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Tài liệu này đã đưa ra hàng loạt các khái niệm dùng trong đánh giá đất
đai như chất lượng đất đai, đơn vị đất đai và bản đồ đơn vị đất đai, loại hình
sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất.
Tiếp đó, luậ n văn này được bổ sung, chỉnh sửa cùng với hàng loạt các
tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau
như: đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời (Land evaluation for rainfed
agriculture), đánh giá đất cho nền nông nghiệp có tưới (Land evaluation
irigated agriculture), đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh
(Land evaluation for extensive grazing), đánh giá đất đai cho mục tiêu phát
triển (Land evaluation for development), đánh giá đất đai và phân tích hệ
thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng đất (Land evaluation and farming
system analysis for land use planning) [37], [5].
Đề cương đánh giá đất đai của FAO mang tính khái quát toàn bộ những
nguyên tắc và nội dung cũng như các bước tiến hành quy trình đánh giá đất
đai cùng với những gợi ý và ví dụ minh họa giúp cho các nhà khoa học đất ở
các nước khác nhau tham khảo. Tùy theo điều kiện sinh thái đất đai và sản

vững Đánh giá đất cần phải so sánh các loại hình sử dụng đất được lựa chọn
(so sánh hai hay nhiều loại sử dụng đất). Mục đích của đánh giá đất theo FAO
là nhằm tăng cường nhận thức, hiểu biết về phương pháp đánh giá đất đai
trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm tăng cường lương
thực cho một số nước trên thế giới và giữ gìn nguồn tài nguyên đất đai không
bị thoái hóa, sử dụng đất được lâu bền.
* Yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO
Yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO là gắn liền đánh giá đất và
quy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quá trình quy hoạch
sử dụng đất. Vì vậy yêu cầu cần phải đạt được là:
- Thu thập được những thông tin phù hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất đó với các mục tiêu sử dụng
khác nhau và theo nhu cầu của con người.
- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm
vi quy hoạch toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất.
- Mức độ thực hiện đánh giá đất đai phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
* Nội dung chính của đánh giá đất đai theo FAO
- Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai.
- Xác định các loại hình sử dụng đất.
- Xây dựng hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai
- Phân hạng thích hợp đất đai.
Luận văn cũng đã giới thiệu ba mức độ đánh giá: Sơ lược, bán chi tiết và
chi tiết.
* Các phương pháp đánh giá đất theo FAO

Phân hạng thích
nghi đất định tính/
bán định lượng

Phân tích kinh tế -
xã hội
Phân hạng
thích nghi đất
theo định tính
Phân hạng
thích nghi đất
theo định lượng
và định tính
Quyết định
quy hoạch
Phân tích
kinh tế -
xã hội
Bước thứ
nhất
Bước thứ
hai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Trong đánh giá đất cả hai khâu điều tra tự nhiên và kinh tế - xã hội đều
quan trọng.
Hai phương pháp thực hiện quy trình đánh giá đất khác nhau được phân
biệt bởi mối liên quan đến sự nối tiếp thời gian khi thực hiện nghiên cứu về tự

kiện tổng quát về kinh tế - xã hội và sinh thái nông nghiệp trong vùng đánh
giá đất.
- Bước 5: Đánh giá mức độ thích hợp
Đánh giá dựa trên kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và các yêu cầu
sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất đã được dùng để phân hạng thích
hợp đất đai cho các loại hình sử dụng đất cụ thể.
- Bước 6: Xác định giải pháp về kinh tế - xã hội, môi trường
Dựa trên kết quả đánh giá, phân hạng thích hợp đề xuất các loại hình sử
dụng đất cho từng vùng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đảm bảo sự
ổn định về môi trường.
- Bước 7: Xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp nhất
Đây là bước chuyển tiếp giữa công tác đánh giá đất và quy hoạch sử
dụng đất dựa trên các loại hình thích hợp hiện tại.
- Bước 8: Quy hoạch sử dụng đất
Từ kết quả xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp nhất để đưa ra
định hướng sử dụng đất có hiệu quả.
- Bước 9: áp dụng của việc đánh giá đất
Áp dụng công tác đánh giá đất của FAO vào thực tiễn, phục vụ cho phát
triển nền nông nghiệp bền vững.
Các công đoạn của quá trình đánh giá đất phải được nghiên cứu kỹ và
cần thiết phải trở đi trở lại nhiều lần tiến trình trong sơ đồ cho tới khi nào các
nhà quy hoạch thỏa mãn rằng tất cả các loại hình sử dụng đất được lựa chọn
đã được xem xét đánh giá [3].
* Đánh giá khả năng thích hợp đất đai
Theo FAO, khả năng thích hợp đất đai là sự phù hợp của một đơn vị đất
đai đối với một loại hình sử dụng đất (LUT) được xác định. Đất đai có thể
được xem xét ở điều kiện hiện tại hoặc trong tương lai sau khi cải tạo [6]
Hệ thống phân loại khả năng thích hợp đất đai của FAO được chia thành
4 cấp: loại, hạng, hạng phụ và đơn vị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

nghiêm trọng trong hiện tại không thể khắc phục được bằng bất cứ biện pháp
kỹ thuật hoặc kinh tế nào để trở thành hạng thích nghi của LUT dự tính trong
tương lai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
- Hạng phụ thích hợp (subclass): phản ánh loại hạn chế hay loại biện
pháp cải tạo chính được yêu cầu trong cùng một hạng. Các yếu tố hạn chế ở
hạng phụ chủ yếu là điều kiện tự nhiên.
- Đơn vị thích hợp (unit): trong các chương trình đánh giá đất đai ở cấp
chi tiết cao (huyện, xã), hạng phụ được phân cấp thành đơn vị đất. Tất cả các
đơn vị thích hợp đều có cùng mức độ thích hợp và loại hạn chế giống nhau
nhưng khác nhau ở mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế. Các yếu tố hạn
chế ở hạng phụ ngoài yếu tố tự nhiên của các đơn vị đất còn có các yếu tố hạn
chế về quản lý và đầu tư sản xuất. Các yếu tố hạn chế về quản lý, kinh tế phụ
thuộc vào các nông hộ hoặc các nông trang.
Như vậy, tùy thuộc vào mức độ chi tiết của các dự án đánh giá đất của
mỗi quốc gia, mỗi vùng cụ thể, tùy thuộc vào phân cấp tỷ lệ bản đồ mà định
ra các cấp và mức độ phân hạng để xác định khả năng thích hợp đất đai.
Đánh giá đất theo FAO chú trọng những vấn đề sau:
- Xác định đối tượng đánh giá đất là toàn bộ tài nguyên đất đai của lãnh thổ.
- Quan niệm đất đai là một thể tự nhiên bao gồm thổ nhưỡng, và các yếu
tố khác như địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thực vật v.v.
- Đánh giá đất đai gắn với mục đích sử dụng đất nông nghiệp theo nghĩa
rộng (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi).
- Khi đánh giá đất chú trọng tất cả các thành phần của đất có ảnh hưởng
tới năng suất, chất lượng cây trồng, khả năng sử dụng chúng trong sản xuất và
biện pháp bảo vệ, cải tạo môi trường.
- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá đất đai từ khái quát đến
chi tiết trên quy mô vùng lãnh thổ với các cơ sở sản xuất.

sử dụng đất cao từ 2 đến 3 vụ trong năm nên lượng dinh dưỡng mà cây lấy đi
lớn hơn nhiều so với lượng dinh dưỡng bón vào đất. Để đảm bảo đủ dinh
dưỡng, đất không bị suy thoái thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung
thường xuyên (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993). Trong quá trình sử dụng đất do
chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân
canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hóa đất như vùng đất dốc mà trồng
cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu.
Bên cạnh đó sự suy thoái đất còn liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội của
vùng. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ
yếu vào trồng cây lương thực như vậy gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái
đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn đến việc sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
dụng phân bón hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều gây ảnh
hưởng tới môi trường [50], [25].
1.2.2 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật trong những thập kỷ gần
đây, nền văn minh hiện đại của nhân loại đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan
môi trường. Sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng, sự bùng nổ của dân số
càng làm sâu sắc thêm sự mất cân đối giữa nhu cầu ngày càng cao của xã hội
và khả năng có hạn của các nguồn tài nguyên [50].
Mục tiêu của con người trong quá trình sử dụng đất là sử dụng khoa
học và hợp lý. Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử
dụng đất còn hạn chế dẫn tới nhiều vùng đất đai đang bị thoái hóa, ảnh
hưởng tới môi trường sống của con người. Những diện tích đất đai thích
hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải
mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp. Hậu
quả đã gây ra quá trình thoái hóa rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm
trọng [2].

- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc
tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp.
- Duy trì và chỗ nào có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở
tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái
tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu kỳ sinh thái cơ sở và cân
bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa xã hội của các cộng đồng sống ở
nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường.
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin
trong nhân dân.
Cũng trong năm 1992 thế giới kỷ niệm 20 năm thành lập chương trình
bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), lần đầu tiên Hội nghị Thượng
đỉnh về môi trường và phát triển đã họp tại Rio De Janerio, Brazin (gọi tắt là
Rio 92), định hướng cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược về môi
trường và phát triển bền vững để bước vào thế kỷ 21. Trong bối cảnh đó quan
điểm sử dụng đất bền vững đã được triển khai trên toàn thế giới [50].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status