Nghiên cứu đánh giá tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái huyện mai châu, tỉnh hòa bình - Pdf 28

MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 1
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6. Cấu trúc luận văn 2
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC NGHIÊN CỨU DU LỊCH SINH THÁI 3
1.1. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 3
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu du lịch sinh thái 3
1.1.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 8
1.2. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU, PHƢƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH
NGHIÊN CỨU 18
1.2.1. Quan điểm nghiên cứu 18
1.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 20
1.2.3. Quy trình nghiên cứu 26
Chƣơng 2. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN MAI
CHÂU TỈNH HÒA BÌNH 28
2.1. CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 28
2.1.1. Vị trí địa lý 28
2.1.2. Địa chất 29
2.1.3. Địa hình 30
2.1.4. Khí hậu 30
2.1.5. Thủy văn 33
2.1.6. Thảm thực vật (các khu bảo tồn và VQG) 35 1

Hình 2. 2. Bản đồ địa chất khu vực nghiên cứu 30*
Hình 3. 3. Mô hình số độ cao 31*
Hình 2. 4. Biểu đồ số giờ nắng và nhiệt độ trung bình của Mai Châu năm 2013 32
Hình 2. 5. Biểu đồ thể hiện số ngày mƣa các tháng trong năm 2013 của Mai Châu 33
Hình 2. 6. Bản đồ kinh tế - xã hội huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình 40*
Hình 2. 7. Dệt thủ công ở huyện Mai Châu 41
Hình 2. 8. Trang phục ngƣời Thái 42
Hình 2. 9. Nhà truyền thống ngƣời Thái - bản Lác 42
Hình 2. 10. Lễ hội Xên Bản, Xên Mƣờng ở Mai Châu 44
Hình 2. 11. Đặc sản ẩm thực Mai Châu 46
Hình 2. 12. Đặc sản lợn nƣớng và cơm Lam 46
Hình 2. 13. Bản đồ tài nguyên du lịch huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình 47*
Hình 3. 1. Sự thay đổi số lƣợng khách du lịch tới Mai Châu giai đoạn 2011 - 2013 56
Hình 3. 2. Doanh thu từ hoạt động du lịch của Mai Châu giai đoạn 2011 - 2013 61
Hình 3. 3. Bản đồ hiện trạng du lịch huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình 66*
Hình 3. 4. Thay đổi lối sống - văn hóa 71
Hình 3. 5. Thƣơng mại hóa sản phẩm lƣu niệm 71
Hình 3. 6. Thay đổi kinh tế - văn hóa bản địa 71
Hình 3. 7. Sự thay đồi thái độ của dân địa phƣơng đối với du lịch 72
Hình 3. 8. Bản đồ định hƣớng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa
Bình 30*

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2. 1. Nhiệt độ không khí thấp nhất (Đơn vị oC) 31
Bảng 2. 2. Nhiệt độ không khí cao nhất (Đơn vị oC) 32
Bảng 2. 3. Tổng lƣợng mƣa theo năm (2007-2012) 33
Bảng 2. 4. Hiện trạng sử dụng đất khu bảo tồn Hang Kia – Pà Cò 37
Bảng 3. 1. Tổng hợp số lƣợt khách đến tham quan du lịch tới Mai Châu giai đoạn
2011 - 2013 57

huyện Mai Châu đã xây dựng và nhân rộng mô hình các bản du lịch sinh thái: bản
Văn, Pom Coọng, Lác, Nhót, Nà Phòn và xã Hang Kia, Pà Cò.
Với giá trị du lịch sinh thái đặc sắc, huyện Mai Châu hứa hẹn sự phát triển
mạnh mẽ trong tƣơng lai. Tuy nhiên, do phát triển du lịch một cách nhanh nhƣng
chƣa có quy hoạch cụ thể dẫn đến phá vỡ cảnh quan, thay đổi bản sắc văn hóa vùng,
làm cho bản làng mang dáng dấp đô thị; giảm tính hoang sơ, bình dị, yên tĩnh vốn
có của địa phƣơng dẫn đến suy giảm chất lƣợng, hình ảnh du lịch sinh thái nơi đây.
Trƣớc thực trạng đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá tiềm
năng, hiện trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu,
tỉnh Hòa Bình” cho luận văn thạc sỹ của mình. Hy vọng đề tài sẽ là đóng góp định
hƣớng phát triển du lịch sinh thái tại huyện Mai Châu nói riêng và du lịch Hòa Bình
nói chung, bền vững hơn trong tƣơng lai.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác lập cơ sở khoa học trên cơ sở đánh giá tiềm năng và hiện trạng phục vụ
yêu cầu định hƣớng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu, nhằm nâng cao 2
mức sống của dân cƣ địa phƣơng, bảo tồn môi trƣờng, giảm áp lực lên các nguồn
lợi tự nhiên và giữ gìn bản sắc văn hóa vùng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn của DLST ở Việt Nam và trên
Thế giới.
- Phân tích, đánh giá điều kiện phát triển DLST huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đánh giá hiện trạng du lịch huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Nghiên cứu đề xuất định hƣớng phát triển DLST huyện Mai Châu, tỉnh Hòa
Bình và các giải pháp thực hiện.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động du lịch sinh thái địa bàn huyện Mai Châu.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các xã thuộc huyện Mai

đoạn này thì du lịch biển và du lịch núi là hai trào lƣu chính của loại hình du lịch gắn
với thiên nhiên. Với loại hình du lịch gắn với mục tiêu bảo vệ môi trƣờng và đảm bảo
tính chất ban đầu của tự nhiên thì chƣa đƣợc đề cập tới trong thời kỳ này.
Trong nhiều thập kỷ, du lịch trên thế giới đã phát triển rộng rãi và bắt đầu
xuất hiện những ảnh hƣởng tiêu cực đến kinh tế, văn hóa – xã hội và đặc biệt là môi
trƣờng tại những địa điểm khai thác du lịch. Vì vậy, xu hƣớng nghiên cứu về vấn đề
tính bền vững trong khai thác du lịch đang đƣợc các nhà nghiên cứu về du lịch trên
thế giới quan tâm, đặc biệt là gắn liền với môi trƣờng.
Đi đầu nghiên cứu trong lĩnh vực này phải kể đến một số công trình:
Budowski “Tourism and Environmenttal Consevervation: Conflict, Coexistence or
Symbiosis?” (1976); Tangi, Mathieson&Wall “Tourism: Physical Environmental,
economic and Social impacts” (1982); Lea “Tourism an development in the Third
World” (1988); Buckley&Pannell “Environmental impacts of tourism and
recreation in national parks and conservation reserves” (1990); thuật ngữ “DLST”
đƣợc Hector Ceballos - Lascurain chính thức đƣa ra vào năm 1987 và ngay lập tức
đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp. Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế
(TIES) ba năm sau đó (1990) bƣớc đầu khẳng định vị thế của DLST với tƣ cách là 4
một hệ thống lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững trong du lịch. Trong tuyên
ngôn của mình, Hiệp hội DLST thế giới đã khẳng định sứ mạng của mình là “liên
kết sự cộng tác của hơn 90 quốc gia thành viên và hơn 40 tổ chức DLST quốc tế và
khu vực, có vai trò quan trọng toàn cầu trong việc truyền bá tri thức, hỗ trợ hoạt
động bảo tồn, truyền thông và phát triển bền vững trong ngành du lịch”.
DLST nói riêng và các loại hình du lịch thay thế nói chung mới thực sự đƣợc
chú ý khi nhân loại đứng trƣớc những tác động tiêu cực ngày càng rõ rệt của du lịch
ồ ạt vào đầu thế kỉ XX. Tiếp bƣớc những nghiên cứu của một số nhà khoa học nhƣ
Kerg Lindberg, Donal E. Hawkins, Elizabeth Boo, Hetor Ceballos-Lascuirain,
Megan Epler Wood, Buckley và L.Hens, DLST nhận đƣợc sự quan tâm nhiều hơn

bảo tồn: du lịch tham quan, du lịch sinh thái, Từ những phân tích sâu về du lịch
sinh thái và những ảnh hƣởng của loại hình này tới tự nhiên mà các nhà khoa học đã
nhấn mạnh vấn đề “bền vững” gắn với hoạt động du lịch đặc biệt là các loại hình du
lịch trong các khu bảo tồn, vƣờn quốc gia. Với cơ sở lý luận đạt đƣợc nhƣ vậy thì
nghiên cứu này còn đƣợc mở rộng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới, trong đó
phải kể tới nghiên cứu tại phía Bắc của Thái Lan do nhà khoa học ngƣời Ireland
thực hiện và hoàn thành năm 2013.
Năm năm sau đó (năm 2007), Hội nghị DLST quốc tế tại Oslo (Nauy) đã
tổng kết những thành công, hạn chế cũng nhƣ thách thức của hoạt động DLST trên
quy mô thế giới và đƣa ra khuyến nghị về 4 lĩnh vực: phát triển bền vững, bảo tồn,
giáo dục và truyền thông và những vấn đề nhạy cảm của DLST.
Những năm gần đây thì nghiên cứu về vấn đề này lại ngày càng đƣợc đề cao:
Campbell, W. Bruce, López Ortíz, Silvia trong dự án “Lồng ghép sản xuất
nông nghiệp với vấn đề bảo tồn và du lịch sinh thái trong sự ảnh hƣởng của xã hội”
đƣợc công bố năm 2012. Bên cạnh việc phân tích các yếu tố trong quá trình sản
xuất nông nghiệp, hay những hoạt động trong công tác bảo tồn các hệ sinh thái cộng
thêm việc đi sâu nghiên cứu các hoạt động từ du lịch gây ảnh hƣởng thế nào tới môi
trƣờng, tự nhiên , con ngƣời và xã hội từ đó dự án đã tìm ra một số ”lỗ hổng” trong
công tác quản lý cũng nhƣ một số ảnh hƣởng gây ra cho cuộc sống hằng ngày của
con ngƣời từ đó đã đề xuất một số hƣớng để giải quyết vấn đề đó [26].
Một nghiên cứu khác cũng xoay quanh vấn đề Du lịch – Cộng đồng – Môi
trƣờng là: Nhận thức của ngƣời dân địa phƣơng về tác động và tầm quan trọng của du 6
lịch sinh thái trong Sabang, Palawan, Philippines của tác giả Jeffrey O. Jalani ngƣời
Philippin. Nghiên cứu này đi sâu xem xét các tác động của du lịch sinh thái với cộng
đồng địa phƣơng về sinh kế của ngƣời dân, qua đó tăng cƣờng các hoạt động mang
tính tích cực với môi trƣờng và kinh tế của ngƣời dân xung quanh đồng thời đƣa ra
giải pháp khắc phục các tác động tiêu cực do hoạt động du lịch sinh thái gây ra.

Trong đề tài: “Cơ sở khoa học của phát triển DLST ở Việt Nam” của Viện
nghiên cứu phát triển du lịch với Hội thảo về DLST với phát triển du lịch bền vững
ở Việt Nam (tại Hà Nội, tháng 4/1998), đã tập hợp đƣợc sự đóng góp, tham luận của
nhiều tác giả (Nguyễn Thƣợng Hùng “Phát triển DLST trên quan điểm phát triển
bền vững”, Nguyễn Quang Mỹ & nnk “Kết quả bƣớc đầu nghiên cứu DLST ở Việt
Nam”, Đặng Huy Huỳnh “Vai trò đa dạng sinh học trong phát triển DLST ở Việt
Nam”, Lê Văn Lanh “Sinh thái và quản lý môi trƣờng du lịch ở các VQG Việt
Nam”, Võ Trí Chung “Sinh thái nhân văn trong DLST Việt Nam” ). Các báo cáo
tham luận chủ yếu tổng quan một số khía cạnh lý luận về DLST và đã có một số
nghiên cứu đánh giá về tiềm năng DLST ở Việt Nam. Điểm mới của đề tài là đã vận
dụng quan điểm phát triển bền vững vào nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái.
(Phạm Trung Lƣơng, Nguyễn Quang Mỹ & nnk “Kết quả bƣớc đầu nghiên cứu
DLST ở Việt Nam”, Koeman. A. “DLST trên cơ sở phát triển du lịch bền vững” ).
Ngoài ra, nhiều chƣơng trình nghiên cứu, luận án tiến sỹ, thạc sỹ cũng đã tiếp
cận về các vấn đề du lịch liên quan đến tự nhiên và sinh thái môi trƣờng (Đặng Duy
Lợi, “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện
Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”[6]- luận án PST 1992; Nguyễn Trần Cầu
“Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển”-đề tài 03.18, 1993; Phạm Quang
Anh “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hƣớng tổ chức du lịch
xanh ở Việt Nam”
[1]
-Luận án PTS, 1996; Trần Văn Đồng “Phát triển DLST VQG
Bến Én, tỉnh Thanh Hóa”-luận án thạc sỹ kinh tế, 1999 ).
Với sự ra đời của cuốn “DLST, những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt
Nam” (Phạm Trung Lƣơng) [7], hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã phần nào đƣợc
định hình. Về cơ sở thực tiễn, năm 2004, dựa trên sự hợp tác của Cục Kiểm Lâm,
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Tổ chức phát triển bền vững
Fundeso và Cơ quan hợp tác quốc tế Tây Ban Nha đã xuất bản cuốn “Cẩm nang
quản lý phát triển du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn Việt Nam”. Cuốn sách này

9
Trong công trình nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thị Sơn đã tổng hợp trong số
những học giả đƣa ra định nghĩa ngắn gọn nhất (tuy không phải là đơn giản nhất)
phải kể đến Ausher và Nguyễn Khắc Viện. Theo Ausher thì du lịch là nghệ thuật đi
chơi của các cá nhân, còn viện sĩ Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng du lịch là
sự mở rộng không gian văn hóa của con ngƣời [16].
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch
họp ở Roma, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối
quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và
lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài
nƣớc họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của
họ”
[7]
. Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã đƣợc Liên minh quốc tế
các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua.
Trong các từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội. Hà Nội
1995), du lịch đƣợc giải thích là đi chơi cho biết xứ ngƣời.

Ở Việt Nam, khái niệm này đƣợc định nghĩa chính thức trong Luật Du lịch
(2005) nhƣ sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định” [15].
Điều kiện kinh tế ngày càng tăng lên, chính vì vậy nhu cầu thƣởng ngoạn của
con ngƣời cũng ngày càng nhiều, đặc biệt là loại hình gắn với tự nhiên và những nơi
cảnh quan nguyên thủy ngày càng đƣợc ƣa chuộng. Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt
động du lịch tự phát, thiếu định hƣớng, quy hoạch khiến môi trƣờng chịu nhiều tác
động tiêu cực. Do vậy, vấn phát triển bền vững trong hoạt động du lịch đƣợc quan
tâm sâu sắc hơn, từ đó khái niệm về du lịch sinh thái đƣợc ra đời.

trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và có lợi ích cho
sinh thái” (Hiệp hội DLST Australia).
DLST là một khái niệm tƣơng đối mới và đã nhanh chóng thu hút đƣợc sự
quan tâm của nhiều ngƣời hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái
niệm rộng, đƣợc biểu hiện theo nhiều cách khác nhau từ những góc độ khác nhau. 11
DLST còn có thể đƣợc biết đến dƣới nhiều tên gọi khác nhau: “Du lịch dựa
vào thiên nhiên, du lịch môi trường, du lịch đặc thù, du lịch xanh, du lịch thám
hiểm, du lịch bản xứ, du lịch có trách nhiệm, du lịch nhạy cảm, du lịch nhà tranh,
du lịch bền vững” [2].
Đối với một số ngƣời, DLST chỉ đơn giản là sự ghép nối ý nghĩa của hai khái
niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc từ lâu. Tuy nhiên đứng ở góc nhìn
rộng hơn, tổng quát hơn thì một số ngƣời quan niệm rằng DLST là một loại hình du
lịch liên quan đến thiên nhiên.
Ở Việt Nam, tại hội thảo “Xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phát triển DLST
tại Việt Nam” từ 07/09/1999 đến 09/09/1999 đã đƣa ra định nghĩa về DLST:
“DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa có
tính giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững,
với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [16].
Khái quát lại, DLST đƣợc nhìn nhận nhƣ là du lịch lựa chọn những mặt tích
cực của một số loại hình và có thể biểu diễn bằng sơ đồ với sự đan cắt của các thành
phần nhƣ sau:

Hình 1. 1. Cấu trúc DLST [7]
So với một số loại hình du lịch khác nhƣ du lịch dựa vào tự nhiên, du lịch
mạo hiểm, du lịch bền vững thì DLST vừa có những điểm giống, vừa có sự khác

13
chất lƣợng sản phẩm DL. Ngƣợc lại phát triển du lịch cũng thúc đẩy trở lại việc
hoàn thiện, mở rộng và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng.
CSVCKTDL là các phƣơng tiện vật chất kỹ thuật của các tổ chức DL giúp
cho việc thoả mãn các nhu cầu của khách DL về ăn, ở, đi lại, nhƣ khách sạn, nhà
hàng, hệ thống phƣơng tiện vận chuyển, các khu giải trí, cửa hàng, công viên,
đƣờng sá, hệ thống cấp thoát nƣớc, mạng lƣới điện, trong khu vực cơ sở kinh
doanh du lịch. CSVCKT sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận tài nguyên
DLST, góp phần làm tăng cầu của DLST, tăng thêm sức hấp dẫn của tài nguyên
DLST và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của khách DLST.
- Nguồn nhân lực du lịch sinh thái
Điều kiện về về nguồn nhân lực cho phát triển DLST: phản ánh thông qua số
lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu lao động trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động
DLST trong hiện tại, mức độ đáp ứng nhu cầu của khách DL và khả năng cải thiện
trong tƣơng lai. Nguồn nhân lực DLST là cầu nối giữa khách DL, cơ sở vật chất kỹ
thuật du lịch và tài nguyên DLST. Nguôn nhân lực đủ về số lƣợng, đảm bảo về chất
lƣợng và cơ cấu sẽ giúp đỡ cho khách DL sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch,
thƣởng ngoạn, khám phá tài nguyên DLST một cách hiệu quả.
Sự đồng bộ về cơ sở vật chất kỹ thuật DLST và nguồn nhân lực DLST sẽ
góp phần tăng chất lƣợng dịch vụ, làm hải lòng khách nâng cao giá trị, duy trì và
bảo tồn giá trị của tài nguyên DLST đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch,
ngƣợc lại, sự thiếu hụt và không đồng bộ sẽ là lực cản làm giảm sút, thậm chí làm
tổn hại đến giá trị của tài nguyên DLST.
- Các điều kiện khác
Các điều kiện về hành lang pháp lý cho phát triển DLST của quốc gia và của
địa phƣơng, mức độ nhận thức của các đối tƣợng liên quan đến hoạt động DLST,
tình hình về ý thức và nhận thức của cƣ dân về phát triển DLST, xu hƣớng và tốc độ
phát triển của thị trƣờng khách DLST, những điều kiện này có thể tạo điều kiện
thuận lợi hoặc có thể trở thành những rào cản cho việc phát triển DLST.

bằng những nỗ lực tích cự hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị
về tự nhiên sinh thái và văn hóa khu vực. 15
Nguyên tắc thứ hai: Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng nhƣ hoạt động của các loại hình khác hoạt động DLST tiềm ẩn những
tác động tiêu cực đối với môi trƣờng và tự nhiên. Nếu nhƣ đối với những loại hình
du lịch khác thì vấn đề bảo vệ môi trƣờng, duy trì hệ sinh thái chƣa phải là những
ƣu tiên hàng đầu thì ngƣợc lại, DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản
quan trọng cần tuân thủ bởi:
- Việc bảo vệ môi trƣờng và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt
động của DLST.
- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trƣờng tự nhiên và các hệ sinh thái
điển hình. Sự xuống cấp của môi trƣờng, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa
với sự đi xuống của hoạt động DLST.
- Với nguyên tắc này mọi hoạt động DLST sẽ phải đƣợc quản lý chặt chẽ để
giảm thiểu tác động môi trƣờng, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST
sẽ đƣợc đầu tƣ thực hiện các giải pháp BVMT và duy trì phát triển HST.
Nguyên tắc thứ ba: Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Đây đƣợc xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động
DLST bởi các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các
giá trị môi trƣờng hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể. Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập
tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phƣơng dƣới tác động của
hoạt động nào đó sẽ trực tiếp làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của
khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó. Hậu quả của quá trình này sẽ tác
động trực tiếp đến DLST.
Nguyên tắc thứ tư: Mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hƣớng tới của DLST. Nếu nhƣ các
loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận

trong rừng sâu.
- Ở Mêhicô: là đất nƣớc với nền văn hoá phong phú, đa sắc tộc, địa hình tự
nhiên, môi trƣờng sinh thái đa dạng nhất là môi trƣờng biển bởi thế hình thức DLST
lặn biển để thăm quan hang động rất đƣợc quan tâm và phát triển ở quốc gia này. 17
- Ở Mông Cổ: Là một đất nƣớc với địa hình sa mạc là chủ yếu, cuộc sống du
mục tạo ra một nền văn hoá riêng có ở Mông Cổ. Rất nhiều du khách quan tâm đến
du lịch ở quốc gia này ở đây ngƣời ta đƣa ra loại hình DLST độc đáo là săn bắn
chim ƣng cùng ngƣời du mục địa phƣơng.
- Ở Braxin: nơi có nhiều hang động, và thiên nhiên nguyên sơ, những vùng
núi rừng, nông thôn với nền văn hoá độc đáo, điển hình. DLST rất phát triển, công
ty Aretic Edge Tour chuyên tổ chức các tour du lịch du lịch sinh thái dựa vào thiên
nhiên nhƣng tích cực bảo vệ thiên nhiên. Họ đƣa ra nguyên tắc tổ chức: Không
đƣợc sử dụng động thực vật tại điểm du lịch làm thức ăn; Thực phẩm đem theo
đƣợc đóng gói sẵn; Nƣớc bẩn phải đổ ra xa nguồn nƣớc sạch; Rác đốt tại chỗ hoặc
đem đi; Đi hàng một trên đƣờng mòn; Không cắm trại ở nơi tập trung các đoàn thú
hoang; Dọn sạch nơi cắm trại trƣớc khi đi.
Một số loại hình du lịch sinh thái thịnh hành ở Việt Nam
- Tham quan miệt vườn: Mặc dù mới chỉ ở bƣớc ban đầu của hình thức
DLST nhƣng loại hình này đã thu hút đựơc nhiều khách du lịch trong và ngoài
nƣớc. Thông thƣờng khách du lịch tới đây đƣợc tổ chức thăm quan miệt vƣờn với
các hình thức nhƣ: Đi thuyền trên kênh rạch nghe đờn ca tài tử, ngắm các vƣờn cây,
thƣởng thức các món ăn Nam Bộ, thăm chợ trên sông; đi thuyền trên kênh rạch sau
đó đổ bộ lên vƣờn, thăm vƣờn ngắm cảnh và ăn quả tuỳ thích (miễn phí). Trong
vƣờn có các nhà nghỉ dạng phỏng sinh học; Nghỉ đêm ở các vƣờn với thời gian
tƣơng đối dài để cùng sống và sinh hoạt với dân cƣ miệt vƣờn.
- Thăm quan vườn chim: Những vƣờn chim ở Nam Bộ đã có từ lâu, diện tích
rộng, số lƣợng đàn chim lớn, thành phần phong phú có những loài quý hiếm cần

Hệ thống tự nhiên đƣợc cấu thành từ nhiều thành phần có quan hệ chặt với
nhau theo những quy luật nhất định tạo thành các đơn vị địa tổng thể. Mỗi địa tổng
thể lại là những thành phần của một hệ thống lớn hơn. Vì vậy, nếu không nghiên
cứu các thành phần tự nhiên trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống tự nhiên,
không nghiên cứu các lãnh thổ trong mối quan hệ với các lãnh thổ xung quanh thì
sẽ không có những nhận định đúng về đặc điểm của địa lý tự nhiên, nguyên nhân
diễn biến và các mối tƣơng quan giữa chúng. 19
Vận dụng quan điểm hệ thống trong nghiên cứu DLST sẽ đảm bảo sự nhất
quán trong nghiên cứu, triển khai và quản lý hoạt động du lịch.
Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp đã có từ lâu và là quan điểm đặc thù cho mọi quá trình
nghiên cứu địa lý. Quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu địa lý là nghiên cứu các
đối tƣợng trong tổng hòa các mối liên hệ giữa chúng với nhau, giữa chúng có mối
liên hệ chặt chẽ và tạo thành một thể thống nhất. Vì vậy, khi nghiên cứu, không thể
tách rời các đối tƣợng một cách riêng rẽ mà phải luôn có sự liên hệ giữa các đối
tƣợng với nhau.
Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp một lãnh thổ là công việc rất phức tạp. Bởi,
đối tƣợng của đánh giá không phải là các địa tổng thể, các thành phần, các yếu tố
riêng biệt mà chính là tổng hòa các mối quan hệ của chúng, sự tác động qua lại giữa
các hệ thống tự nhiên (bao gồm ĐKTN, TNTN – chủ thể của đánh giá) với hệ thống
KT-XH (khách thể). Khi tiến hành đánh giá tổng hợp một lãnh thổ phải có sự hiểu
biết về các quy luật tự nhiên, mối liên quan hệ thống giữa ĐKTN và KT-XH để xác
định cơ cấu kinh tế, tốc độ, quy mô và phạm vi phát triển sao cho việc khai thác, sử
dụng tài nguyên một cách hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất, song vẫn bảo vệ đƣợc
môi trƣờng.
Vì vậy, khi đánh giá tổng hợp lãnh thổ, quan điểm này là cơ sở quan trọng
phục vụ cho việc quy hoạch lãnh thổ và bảo vệ môi trƣờng.

Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững của một quốc gia phải đảm bảo đồng thời bốn yếu tố:
kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trƣờng. Vì vậy, quan điểm này góp phần rất quan
trọng trong đề xuất định hƣớng kiến nghị, giải pháp cho mục đích sử dụng hợp lý
tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng của đề tài nghiên cứu. Đây là tiêu chí hàng đầu
trong phân tích và đánh giá cảnh quan cho các mục đích cụ thể.
1.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu 21
Các nghiên cứu về Du lịch sinh thái trên thế giới và Việt Nam;
Các tài liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu: hoạt động du lịch, điều tra
giá trị địa chất địa mạo, quy hoạch kinh tế xã hội tỉnh Hòa Bình, báo cáo kinh tế xã
hội huyện Mai Châu từ năm 2005 đến nay, báo cáo môi trƣờng, bản đồ địa hình tỉnh
Hòa Bình.
Thu thập số liệu về tình hình dân số từ các xã: tổng số hộ, dân số, tỷ lệ dân
trong độ tuổi lao động, trên và dƣới độ tuổi lao động, tỷ lệ nam-nữ, trình độ văn hoá.
Thu thập số liệu về: lƣợng khách du lịch, doanh thu du lịch, số ngƣời tham
gia phục vụ du lịch và các báo cáo du lịch tại khu vực nghiên cứu.
b. Phương pháp khảo sát thực địa theo định hướng nghiên cứu sinh thái
Quan sát cảnh quan tự nhiên, cơ sở hạ tầng (số nhà làm du lịch, công trình
phụ, đƣờng giao thông ), và tìm hiểu về văn hóa bản địa. Các địa điểm tiến hành thực
địa gồm: bản Lác, Bản Pom Coọng, bản Văn, bản Vặn, KBTTN Hang Kia - Pà Cò,
c. Phương pháp bản đồ và GIS
Sử dụng phần mềm MapInfo, Argis để biên tập lại bản đồ địa hình, hiện
trạng sử dụng đất huyện Mai Châu. Kết quả sẽ xây dựng đƣợc các bản đồ: Bản đồ
tài nguyên du lịch, bản đồ hiện trạng du lịch, bản đồ định hƣớng phát triển du lịch
và khu vực nghiên cứu.
d. Phương pháp điều tra xã hội học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status