ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
----- -----
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN NAM ĐÔNG
Sinh viên thực hiện:
Giáo viên hướng dẫn:
Nguyễn Quốc Chiến
TS. Lê Thị Kim Liên
Lớp: K47 Kinh Tế Du Lịch
Huế, tháng 05 năm 2017
1
Chun đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Để hoàn thành đề tài Chuyên đề này,
ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân,
tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình và
cổ vũ của rất nhiều người. Với lòng biết
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Tuy có nhiều cố gắng nhưng trong đề tài
này không thể không tránh khỏi những
hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp, nhận xét, bổ sung thêm của
quý Thầy, Cô, các bạn sinh viên và những
người quan tâm đến đề tài này để bài
Chuyên đề tốt nghiệp của tôi được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, 04 tháng 05
năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Quốc
Chiến
3
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh Tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết
6
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh Tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
1.
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
2.
DLCĐ
Du lịch cộng đồng
9.
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
10.
DTHVN
Dân tộc học Việt Nam
11.
SDL
Sở du lịch
12.
VNĐ
Việt Nam Đồng
13.
TNHH
14.
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Đã từ rất lâu, du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói đem lại nguồn
lợi vô cùng to lớn cho mỗi quốc gia, song song với các loại hình giải trí nhằm thỏa
mãn cho nhu cầu thụ hưởng ngày một gia tăng của con người hiện tại , du lịch đang
ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ với nhiều loại hình khác nhau đáp ứng các
nhu cầu da dạng của con người như: du lịch tham quan , nghỉ dưỡng , chữa bệnh ,
du lịch văn hóa , tâm linh, du lịch cộng đồng...
Ngày nay, du lịch không chỉ đơn thuần phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn
của con người như trước đây, mà nó còn mang những giá trị tiềm ẩn, sức lôi cuốn
kỳ diệu, đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách như: văn hóa tri thức, hoạt động xã
hội, tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, cũng như khám phá vẻ đẹp bản sắc văn hóa tinh
túy của mọi vùng miền trên khắp thế giới...
Do điều kiện khách quan ấy mà rất nhiều loại hình du lịch đã ra đời, đáp ứng
những nhu cầu đó của du khách: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch chữa
bệnh, du lịch cộng đồng... Trong bối cảnh chung của du lịch thế giới, Việt Nam –
đất nước của nhiều cảnh đẹp, lịch sử lâu đời và bản sắc văn hóa đa dạng đặc sắc của
54 dân tộc hội tụ trên khắp vùng miền của tổ quốc, được biết đến như một trong
những điểm du lịch lý tưởng cho du khách.
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam liên tục tăng trưởng với
tốc độ cao. Theo thống kê của Tổng cục du lịch 2010 ngành du lịch Việt Nam đã
đón hơn 28 triệu lượt khách nội địa và 5,21 triệu lượt khách quốc tế, Việt Nam cũng
được dự báo là một trong những nước có ngành du lịch phát triển mạnh nhất trên
thế giới trong giai đoạn 2006 – 2016, với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt từ 7,2%
du khách đến tham quan hơn.
Mô hình du lịch cộng đồng đang được xây dựng tại khu du lịch cộng đồng
Nam Đông là một hướng đi mới góp phần thúc đẩy và đa dạng hóa loại hình du lịch
của tỉnh Thừa Thiên Huế, đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên quốc gia, tạo sinh
kế bền vững cho đời sống kinh tế cho dân cư địa phương, hướng đến sự phát triển
của du lịch bền vững.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Nam Đông
như vậy, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển
du lịch cộng đồng tại huyện Nam Đông” làm đề tài cho Chuyên đề tốt nghiệp. Tôi hy
vọng với vốn hiểu biết có hạn và nguồn tài liệu ít ỏi, đề tài của tôi sẽ góp một phần nhỏ
cho sự phát triển của mô hình du lịch cộng đồng tại huyện Nam Đông.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua bài Chuyên đề của mình, tôi muốn tìm hiểu các vấn đề cơ bản về
du lịch cộng đồng, phương hướng phát triển của du lịch hiện nay, đánh giá những
tiềm năng và thực trạng hoạt động và du lịch cộng đồng tại khu vực này. Từ đó đưa
ra những định hướng, giải pháp để góp phần đẩy mạnh và phát triển hơn nữa khu du
lịch trở thành điểm du lịch hấp dẫn trong thời gian tới.
10
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và giải pháp
K47 Kinh tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
5.1. Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu sơ bộ định tính được thực hiện thông qua ky thuật phỏng vấn sâu
khoảng 10 đối tượng là những người đã tham gia vào hoạt động du lịch, chính
quyền địa phương, công ty lữ hành... Các thông tin phỏng vấn sẽ được thu thập,
tổng hợp làm cơ sở cho việc khám phá, bổ sung, điều chỉnh các yếu tố, các biến
dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu và là cơ sở để thiết kế bảng câu hỏi cho
nghiên cứu định lượng.
5.2. Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông
qua bảng câu hỏi chi tiết với khoảng 165 đối tượng là những người đã tham gia tour
du lịch, và mẫu được lấy theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Bước nghiên cứu
này nhằm đánh giá thang đo, xác định mức độ quan trọng của các yếu tố cũng như
kiểm định các giả thuyết đã được nêu ra.
5.3. Thiết kế thang đo
Giá trị tinh thần được cho là yếu tố quan trọng dùng để đo lường các yếu tố tác
động đến quyết định tham gia vào hoạt động du lịch của người dân địa phương, nó
được đánh giá dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Song, mỗi khía cạnh đều được đo
lường bởi thang đo Likert, gồm 5 mức độ:
- Mức (1): Rất không đồng ý.
- Mức (2): Không đồng ý.
- Mức (3): Bình thường.
- Mức (4):Đồng ý.
- Mức (5): Rất đồng ý.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.
- Đối tượng phỏng vấn: Là các cá nhân có độ tuổi từ 18 trở lên.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp cá nhân dựa trên bảng hỏi định
lượng.
6.2. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Dùng phần mềm excel để tính toán lượng tăng giảm, tốc độ tăng trưởng và
phát triển ngành du lịch Thừa Thiên Huế.
Phân tích số liệu trên phần mềm SPSS 16.0.
Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0, sau khi mã hóa và
làm sạch tiến hành phân tích theo các bước:
- Thống kê mô tả.
- Phân tích nhân tố khám EFA.
- Đánh giá độ tin cậy thang đo.
- Kiểm tra đa cộng tuyến.
- Kiểm định sự phù hợp của mô hình bằng phân tích tương quan hồi quy.
7. Kết cấu của Chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, Chuyên đề gồm có 3 chương chính.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch cộng đồng
Chương 2: Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại
huyện Nam Đông.
Chương 3: Định hướng và giải pháp góp phần phát triển du lịch cộng đồng tại
huyện Nam Đông.
13
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
Khái niệm Cộng đồng (community) là một trong những khái niệm xã hội học.
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách tương đối rộng
rãi, để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc
14
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
tính xã hội. Từ những khối tập hợp người, các liên minh rộng lớn như cộng đồng
châu Âu, cộng đồng các nước Ả Rập...đến một hạng/kiểu xã hội, căn cứ vào đặc
tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo... như cộng đồng người Do Thái,
cộng đồng người da đen tại Chicago. Nhỏ hơn nữa, danh từ cộng đồng được sử
dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có
những đặc tính xã hội chung về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thân phận xã hội
như nhóm những người lái xa taxi, nhóm người khiếm thị...
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán,
được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay ngắn như
phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông...
Bên cạnh đó, còn có một cách nhìn nhận khác, coi cộng đồng như một đặc thù
chỉ có ở nền văn minh con người, ở đó con người hợp tác với nhau nhờ những lợi
ích chung.
Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới thiệu vào
giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh
phía nam, trong lĩnh vực giáo dục. Từ ngành giáo dục, phát triển cộng đồng chuyển
tham quan. Những lúc như vậy, những khách này rất cần có sự trợ giúp như dẫn
đường để tránh lạc, nơi ở qua đêm, ăn uống đã được người dân bản xứ tạo điều kiện
giúp đỡ, cung cấp các dịch vụ; lúc đó, khách du lịch thường gọi là chuyến du lịch có
sự hỗ trợ của người bản xứ – đây là tiền đề cho phát triển loại hình du lịch dựa vào
cộng đồng.
Ngày nay, du lịch cộng đồng được chính phủ, tổ chức kinh tế, xã hội của các
nước quan tâm nên đã trở thành lĩnh vực mới trong ngành công nghiệp du lịch. Bên
cạnh đó, các tổ chức phi chính phủ tạo điều kiện giúp đỡ và tham gia vào lĩnh vực
này nên từ đó các vấn đề xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế và sinh thái trong khuôn
viên làng bản trở thành những tác nhân tham gia cung cấp dịch vụ cho du khách và
thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan, người dân bản xứ cũng có thu
nhập từ việc cung cấp dịch vụ và phục vụ khách tham quan nên loại hình du lịch
dựa vào cộng đồng ngày càng được phổ biến và có ý nghĩa không chỉ đối với khách
du lịch, chính quyền sở tại mà với cả cộng đồng.
Trên thực tế, du lịch dựa vào cộng đồng đã được hình thành, lan rộng và tạo ra
sự phong phú, đa dạng cho các loại sản phẩm dịch vụ cho các loại khách du lịch vào
thập kỷ 89 và 90 của thế kỷ trước tại các nước trong khu vực châu Phi, châu Úc,
châu My La Tinh, du lịch cộng đồng được phát triển thông qua các tổ chức phi
chính phủ, Hội thiên nhiên Thế giới. Du lịch dựa vào cộng đồng bắt đầu phát triển
mạnh ở các nước châu Á, trong đó có các nước trong khu vực ASEAN: Indonesia,
Philipin, Thái Lan; các nước khu vực khác: Ấn Độ, Nepal, Đài Loan.
Về mặt lý luận về du lịch cộng đồng: Các nước ASEAN như Indonesia,
Philipin, Thái Lan đã tổ chức rất nhiều cuộc hội thảo về xây dựng mô hình và tập
huấn, đào tạo ky năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng.
16
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
1.1.2.2. Một số khái niệm cơ bản của du lịch cộng đồng
Do vị trí về du lịch dựa vào cộng đồng, tùy theo góc nhìn, quan điểm nghiên
cứu mà du lịch cộng đồng có những khái niệm khác nhau.
Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đưa ra khái niệm: “Du lịch
cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra
17
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa
phương” (Nicole Hausler and Wolfang Strasdas, Community Based Sustainable
Tourism A Reader, 2000). Quan niệm trên nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân
địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn họ quản lý.
Du lịch cộng đồng là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn
hóa xã hội. Du lịch cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và
cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống
đời thường của họ” (Rest: Respondsible Ecological Social Tours, Thailand, 1997).
Từ việc nghiên cứu các khái niệm về du lịch dựa vào cộng đồng, tiến sy Vo
Quế đã rút ra khái niệm Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng trong cuốn sách của
mình: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng
đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia
bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng
quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”.
Tiến sĩ – Kiến trúc sư Dương Đình Hiển – Viện Nghiên cứu phát triển du lịch
Một số mục tiêu chính của du lịch cộng đồng đã được coi là kim chỉ nam cho
loại hình phát triển này gồm:
- Du lịch cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa,
bao gồm cả sự đa dạng về sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa,...
- Du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua
việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng địa phương.
- Du lịch cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương.
- Du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách một sản phẩm có trách nhiệm
đối với môi trường và xã hội.
1.1.2.4. Các nguyên tắc tham gia phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Các nguyên tắc tham dự của cộng đồng đối với phát triển du lịch:
- Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực
hiện và quản lý đầu tư để phát triển du lịch, trong một số trường hợp có thể trao
quyền làm chủ cho cộng đồng.
- Phù hợp với khả năng của cộng đồng: Khả năng bao gồm:
+ Khả năng nhận thức về vai trò và vị trí của cộng đồng trong việc sử dụng tài
nguyên.
+ Nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch cho sự phát triển của cộng
đồng cũng như biết được các bất lợi từ hoạt động du lịch và khách du lịch đối với
tài nguyên, cộng đồng.
- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng. Theo nguyên tắc này, cộng đồng phải
cùng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào hoạt động kinh doanh
cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch. Nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân
chia công bằng cho mọi thành viên tham gia, đồng thời được trích lại để phát triển lợi
ích chung của xã hội như: tái đầu tư cho cộng đồng, xây dựng cơ sở hạ tầng...
19
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng.
- Sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước về
nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và các công ty
lữ hành trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch đến tham quan.
1.1.2.6.Vai trò và đặc điểm của du lịch cộng đồng
Vai trò của du lịch cộng đồng
Một nhà nghiên cứu đã từng nói: Tình bạn và đồng minh không tồn tại vĩnh
viễn mà chỉ có lợi ích là tồn tại vĩnh viễn. Do vậy, ngành du lịch muốn khai thác
tài nguyên, phát triển hoạt động du lịch tại địa phương thì lợi ích của người dân
nơi đây cũng phải được đảm bảo. Chính vì thế, một trong những nguyên tắc để
phát triển bền vững là không thể tách rời CĐĐP tại điểm du lịch đó ra khỏi hoạt
động du lịch. Bởi chính họ mới là chủ nhân của những vùng đất, là người chủ thực
sự hiểu ro, sống cùng, gắn bó và dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa. Họ là
những người bảo vệ, tôn tạo các giá trị văn hoá bản địa và tự nhiên7của nơi diễn
ra hoạt động du lịch.
“Nhìn từ góc độ kinh tế và môi trường, nếu không có sự tham gia củangười
dân, nguồn tài nguyên, làm cơ sở cho du lịch, sẽ có thể dần dần bị huỷ hoại và
không đầu tư được nữa”.
Đối với cộng đồng địa phương, ít ai hiểu ro về DLST, DLCĐ như thế nào. Hầu
hết, vì cuộc sống mưu sinh mà vô tình họ trở thành một trong những phần quan
trọng của hoạt động du lịch.
21
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
thể nói DLCĐ mang lại rất nhiều lợi ích về mọi mặt và có vai trò rất lớn đối với
nhiều vấn đề như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, tài nguyên
môi trường của quốc gia, khu vực và chính bản thân cộng đồng.
22
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
- Đối với công tác bảo tồn tài nguyên:
+ Góp phần bảo vệ bền vững tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái.
+ Bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hoá vật thể và phi vật thểcủa
cộng đồng.
- Đối với du lịch:
+ Tạo ra sự đa dạng sản phẩm dịch vụ du lịch của một vùng, một quốcgia.
+ Góp phần thu hút khách du lịch.
+ DLCĐ góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và tàinguyên du
lịch nói riêng.
- Đối với cộng đồng:
+ DLCĐ mang lại lợi ích kinh tế cho các thành viên trực tiếp tham giacung
cấp dịch vụ du lịch cho du khách. Đồng thời những thành viên khác của cộng đồng
cùng được hưởng lợi từ sự tái đầu tư của nguồn doanh thu du lịch vào việc hỗ trợ
cung cấp phát triển cơ sở hạ tầng góp phần thay đổi xã hội địa phương.
+ DLCĐ giúp cộng đồng nhận ra trách nhiệm của mình đối với việc bảovệ tài
nguyên thiên nhiên và môi trường của địa phương tại khu du lịch, từ đó tác động
nguyên du lịch đặc trưng, hấp dẫn và còn khá nguyên vẹn giá trị.
- Cộng đồng dân cư làm du lịch cộng đồng phải là người sinh sống trên địa
bàn phát triển du lịch hoặc liền kề với khu vực chứa tài nguyên du lịch.
- Các dịch vụ du lịch do người dân địa phương cung cấp có tính đặc trưng, đặc
thù của địa phương cao và ít mang tính chuyên môn hóa.
- Ngoài việc phát triển du lịch, cộng đồng dân cư còn có trách nhiệm bảo vệ
môi trường, bảo tồn tài các giá trị tự nhiên và nhân văn của địa phương.
- Khách du lịch thường không đòi hỏi dịch vụ mang tính tiện nghi hay chất
lượng cao.
- Khách du lịch thường có nhận thức cao, thích khám phá, tìm hiểu những
điều mới lạ, những giá trị nguyên bản.
- Địa điểm tổ chức phát triển du lịch dựa vào DLCĐ diễn ra tại nơi cư trú hoặc
gần nơi cư trú của cộng đồng địa phương. Đây là khu vực có tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, hấp dẫn, có độ nhạy cảm về đa
dạng sinh học, chính trị, văn hoá, xã hội và hiện đang bị tác động của con người.
- DLCĐ đóng vai trò quan trọng trong công việc xoá đói giảm nghèo. Điều
này được thể hiện ở việc DLCĐ có tác động tích cực đối với việc chuyển đổi cơ cấu
kinh tế ngành nghề và lao động. Trước khi tham gia DLCĐ người dân chủ yếu sinh
sống trong điều kiện kinh tế tự cung tự cấp, nghề chính của họ là sản xuất nông
nghiệp. Khi DLCĐ phát triển người dân có điều kiện phát triển và các ngành nghề
truyền thống phát triển và duy trì trở thành sản phẩm du lịch độc đáo. Từ đó việc
tiêu thụ những sản phẩm tại chỗ được dễ dàng hơn. Thu nhập từ dịch vụ cho thuê
phòng, bán hàng, chở khách, biểu diễn văn nghệ…giúp cải thiện cuộc sống của
nhân dân, cùng với đó cơ cấu ngành nghề lao động cũng có sự thay đổi, hình thành
các công việc mang tính du lịch mới.
- Phát triển DLCĐ góp phần làm đa dạng hoá các ngành kinh tế, trong khi vẫn
duy trì và phát triển các ngành kinh tế truyền thống.
24
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
Du lịch nông nghiệp: đây là một hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như
vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo dược và các trang trại
động vật đã được chuẩn bị phục vụ cho khách du lịch. Khách du lịch xem hoặc
tham gia vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp như làm việc với dụng cụ của nhà nông
hoặc thu hoạch mùa mà không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của
gia đình chủ nhà. Một sản phẩm mới đặc biệt là nghỉ ngơi ở các trang trại hữu cơ,
nơi du khách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canh
tác không dung thuốc trừ sâu.
Du lịch bản địa: du lịch bản địa/dân tộc đề cập đến một loại hình du lịch, nơi đồng
bào dân tộc thiểu số hoặc người dân bản địa tham gia trực tiếp vào hoạt động du
lịch, nền văn hóa vốn có của họ chính là yếu tố chính thu hút khách du lịch.
Du lịch làng: khách du lịch chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống thôn bản, và các
làng nông thôn thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch. Dân làng cung cấp
các dịch vụ ăn ở, nhà trọ cho khách nghỉ ngơi qua đêm. Nhà trọ chính là các điểm
25
SVTH: Nguyễn Quốc Chiến
K47 Kinh tế Du Lịch