Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp xã Xuất Hóa - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VI THỊ HƯƠNG NHÀI

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI VÀ ĐỊNH
HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP XÃ XUẤT
HÓA, THỊ XÃ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN” KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: THS. HOÀNG HỮU CHIẾN
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm THÁI NGUYÊN - 2014
59
MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp 3
2.1.1. Khái niệm và quá trình hình thành đất 3
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp 3
2.2. Tình hình đánh giá đất đai trên thế giới 4
2.2.1. Khái niệm chung 4
2.2.2. Một số phương pháp nghiên cứu trên thế giới 5
2.3. Tình hình nghiên cứu và đánh giá đất đai tại Việt Nam 9
2.4. Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất 11
2.4.1. Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 11
2.4.2. Vấn đề suy thoái tài nguyên đất và quan điểm sử dụng đất bền vững 13
2.4.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 16
2.4.4. Hiệu quả và tính bền trong sử dụng đất 20
2.5. Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 23
2.5.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn trong đề xuất sử dụng đất 23
2.5.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 23
2.5.3. Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Error! Bookmark not defined.
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

4.3.1.Nguyên tắc lựa chọn 49
4.3.2. Tiêu chuẩn lựa chọn 49
4.3.3. Lựa chọn các loại hình sử dụng đất 49
4.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho xã Xuất
Hóa 51
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1. Kết luận 54
5.2. Đề nghị 55 62
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
UBND : Uỷ ban nhân dân
LUT : Land Use Type (loại hình sử dụng đất)
FAO : Food and agricuture Organnization
Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc
GIS : Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System
STT : Số thứ tự
BVTV : Bảo vệ thực vật
VL : Very Low (rất thấp)
L : Low ( thấp)
M : Medium ( trung bình)
H : High (cao)
VH : Very high ( rất cao)
63
DANH MỤC CÁC BẢNG

Lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con người
đã tìm mọi cách để khai thác và sử dụng đất đai nhằm thoải mãn những nhu cầu ngày
càng tăng đó [4]. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích
nhưng có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của
con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất
nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai
hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá tiềm năng đất đai để sử dụng hợp
lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với
mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và tương lai [9].
Xuất Hóa là một xã nằm ở phía Nam của thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Đây là
một xã thuần nông nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính. Hiện nay, trên địa bàn xã
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này đã gây áp
lực mạnh tới việc sử dụng đất đai, chuyển đổi cơ cấu đất đai và cơ cấu lao động đặc
biệt là việc chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác đòi
hỏi xã Xuất Hóa phải phát huy được thế mạnh và tiềm năng đất đai cũng như lao động
của mình. Đồng thời để áp dụng được yêu cầu phát triển chung của tỉnh. Vì vậy, việc
điều tra đánh giá một cách tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng
tới sử dụng đất, hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất. Từ đó định hướng cho người dân
trong xã khai thác sử dụng đất đai hợp lý, bền vững là một trong những vấn đề hết sức
cần thiết.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Tài
nguyên và Môi trường - trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, đồng thời được sự
hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: Hoàng Hữu Chiến, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp xã
Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn”.

2

1.2. Mục đích của đề tài
- Trên cơ sở các nguồn tài liệu đánh giá hiệu quả đất đai, xác định mức độ thích

2.1.1. Khái niệm và quá trình hình thành đất
2.1.1.1. Khái niệm về đất
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá và
khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp phủ thổ nhưỡng, là thổ
quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể
tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác
động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản [10].
Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đookutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được
hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và
thời gian. Đất được xem như một thể sống, nó luôn vận động, biến đổi và phát triển [3].
Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch việt Nam cho rằng: “ Đất đai là
một phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”.
Như vậy, đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái
niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều
thẳng đứng gồm: lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, mặt
nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất theo chiều nằm ngang - trên mặt đất (là sự
kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật, cùng với các thành phần
quan trọng khác) giữ vai trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn đối với hoạt động sản xuất
và cuộc sống của xã hội loài người [8].
2.1.1.2. Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí ngiệm
về nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng;
Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm
muối và đất nông nghiệp khác [12].
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là
cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. C. Mác đã nhấn mạnh “đất là mẹ, lao
động là cha của mọi của cải vật chất xã hội”, “ Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho
tàng cung cấp các tư liệu lao động, vât chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể “.


gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên và xã hội. Vì thế nên đánh giá đất đai không
chỉ là lĩnh vực khoa học tự nhiên mà còn là kinh tế kĩ thuật.
Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia và trở
thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử

5

dụng đất. Công tác đánh giá đất trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong
nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng ngoài thực tế sản xuất nông nghiệp [3].
2.2.2. Một số phương pháp nghiên cứu trên thế giới
Tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung và phương
pháp của mình. Tuy có nhiều phương pháp khác nhau nhưng vẫn chủ yếu có hai khuynh
hướng: Đánh giá đất theo điều kiện tự nhiên có xem xét tới những điều kiện kinh tế- xã
hội và đánh giá kinh tế đất có xem xét tới những điều kiện tự nhiên. Dù là đánh giá theo
phương pháp nào thì cũng phải lấy đất đai làm nền và loại sử dụng đất cụ thể để đánh giá,
kết hợp được thể hiện bằng các bản đồ, báo cáo và các số liệu thống kê.
2.2.2.1. Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ)
Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) được hình thành từ những năm
đầu thập kỷ 50 củ thế kỷ XX và hoàn thiện vào năm 1986 để phục vụ cho đánh giá đất
và thống kê chất lượng đất đai nhằm mục đích xây dựng chiến lược quản lý và sử dụng
đất cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổ thuộc Liên bang Xô Viết. Kết
quả đánh giá đất dã giúp cho việc hoạch định chiến lược sử dụng và quản lý nguồn tài
nguyên đất đi trên phạm vi toàn liên bang phân vùng nông nghiệp tự nhiên [11].
Thống kê các đặc tính cơ bản của đất đai để hướng cho các mục đích sử dụng
và bảo vệ đất hợp lý. Tuy nhiên, đối với các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chưa đi
sâu một cách cụ thể từng loại sử dụng, phương pháp mới chỉ tập chung chủ yếu vào
đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai và chưa có những quan tâm cân nhắc tới các
điều kiện kinh tế xã hội.
2.2.2.2. Phương pháp đánh giá đất đai ở Mỹ
Năm 1951 cục cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Mỹ (USBR) đã xây dựng

Liệu này đã đưa ra hàng loạt các khái niệm dùng trong đánh giá đất đai như chất
lượng đất đai, đơn vị đất đai và bản đồ đơn vị đất đai, loại hình sử dụng đất và hệ
thống sử dụng đất .
Tiếp đó, đề cương này đuợc bổ sung, chỉnh sửa cùng với hàng loạt các tài liệu
hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau như:
- Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời (Land evaluation for rainfed
agriculture, 1983).
- Đánh giá đất cho nông nghiệp có tưới (Land evaluation irrigated agriculture, 1985).
- Đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for
extensive grazing, 1989).
- Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (Land evaluation for development, 1990).
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng
đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning, 1992).

7

Đề cương đánh giá đất đai của FAO mang tính khái quát toàn bộ những nguyên
tắc và nội dung cũng như các bước tiến hành quy trình đánh giá đất đai cùng với
những gợi ý và ví dụ minh họa giúp cho các nhà khoa học đất ở các nước khác nhau
tham khảo. Tùy theo điều kiện sinh thái đất đai và sản xuất của từng nước để vận dụng
những tài liệu của FAO cho phù hợp và có kết quả tại nước mình.
Phương pháp đánh giá đất của FAO đã “ dung hòa” các phương pháp đánh giá
đất đai trên thế giới, lựa chọn và phát huy được ưu điểm của các phương pháp đánh giá
đất đai khác nhau. FAO đã đề ra phương pháp đánh giá đất đai dựa trên cơ sở phân
loại đất thích hợp “ Land suitability classification”.Cơ sở phương pháp này là sự so
sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất với phân tích các khía cạnh về kinh
tế - xã hội và môi trường để lựa chọn phương án sử dụng tối ưu. Đề cương đánh giá
đất của FAO đã nêu ra các nguyên tắc như sau:
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá phân hạng cho các loại hình sử
dụng đất cụ thể.

Thu
thập tài
liệu
Xác định
loại hình
sử dụng
đất
(LUT)
Đánh
giá khả
năng
thích
hợp
Xác
định
hiện
trạng
KT-XH
và môi
trường
Xác
định
loại
hình sử
dụng
đất
thích
hợp
nhất
Quy

dụng đất của các loại hình sử dụng đất đã được dùng để phân hạng thích hợp đất đai

9

cho các loại hình sử dụng đất cụ thể.
- Bước 6: Xác định giải pháp về kinh tế - xã hội, môi trường
Dựa trên kết quả đánh giá, phân hạng thích hợp đề xuất các loại hình sử dụng đất
cho từng vùng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đảm bảo sự ổn định về môi trường.
- Bước 7: Xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp nhất
Đây là bước chuyển tiếp giữa công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất
dựa trên các loại hình thích hợp hiện tại.
- Bước 8: Quy hoạch sử dụng đất
Từ kết quả xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp nhất để đưa ra định
hướng sử dụng đất có hiệu quả.
- Bước 9: áp dụng của việc đánh giá đất
Áp dụng công tác đánh giá đất của FAO vào thực tiễn, phục vụ cho phát triển
nền nông nghiệp bền vững.
Các công đoạn của quá trình đánh giá đất phải được nghiên cứu kỹ và cần thiết phải
trở đi trở lại nhiều lần tiến trình trong sơ đồ cho tới khi nào các nhà quy hoạch thỏa mãn
rằng tất cả các loại hình sử dụng đất được lựa chọn đã được xem xét đánh giá [11].
2.3. Tình hình nghiên cứu và đánh giá đất đai tại Việt Nam
Khái niệm và công tác đánh giá tài nguyên đất, phân hạng đất cũng đã có từ lâu
ở Việt Nam. Trong thời kỳ phong kiến, thực dân, để tiến hành thu thuế đất đai, đã có
sự phân chia “ Tứ hạng điền - lục hạng”.
Năm 1954, ở miền Bắc, Vụ quản lý ruộng đất và Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa,
sau đó là Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã có những công trình nghiên cứu
và quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường công tác quản
lý độ màu mỡ của đất và xếp hạng thuế nông nghiệp. Dựa vào các chỉ tiêu về điều kiện
sinh thái và tính chất đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp, đất đã phân thành từ 5 -
7 hạng theo phương pháp tính điểm. Nhiều tỉnh đã xây dựng được các bản đồ phân

cho các dự án quy hoạch sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở cấp cơ sở .
Có thể khẳng định được: nội dung và phương pháp đánh giá đất của FAO đã
được vận dụng có kết quả ở Việt Nam, phục vụ cho chương trình quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới cũng như trong các dự án quy hoạch sử
dụng đất ở các địa phương. Các cơ quan nghiên cứu đất ở Việt Nam đang và sẽ tiếp
tục nghiên cứu, vận dụng các phương pháp đánh giá đất của FAO vào các vùng sản
xuất nông lâm nghiệp khác nhau sao cho phù hợp với các điều kiện sinh thái, cấp tỷ lệ
bản đồ, các điều kiện kinh tế - xã hội, để nhanh chóng hoàn thiện việc đánh giá đất và
phân hạng thích hợp đất đai cho Việt Nam [8].

11
2.4. Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất
2.4.1. Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
2.4.1.1. Sử dụng đất là gì?
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người -
đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường căn cứ vào quy
luật phát triển kinh tế - xã hội cùng với những yêu cầu không ngừng ổn định và bề
vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất ãhợp
lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hữu ích
sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định,việc sử
dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của
đất đai. “Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất
đai được thể hiện theo các khía cạnh:
- Sử dụng đất đai hợp lý về không gian và thời gian, hình thành hiệu quả kinh tế
không gian sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế
sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng hình thành
cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành sử dụng đất đai một cách kinh

để khắc phục từ đó đưa ra được hướng sử dụng đất hiệu quả hợp lý nhất.
2.4.1.3. Cơ cấu cây trồng trong sử dụng đất
Cơ cấu cây trồng là thành phần của cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp và là giải
pháp kinh tế quan trọng của phân vùng sản xuất nông - lâm nghiệp. Nó là thành phần
các giống là loại cây được bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng
trong mọi hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên
- kinh tế - xã hội.
Cơ cấu cây trồng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển chăn nuôi, phải kết hợp
chặt chẽ với lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đồng thời tạo cơ sở cho ngành nghề khác
phát triển. Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao, nếu bố trí một cơ cấu thích hợp sẽ
giảm bớt sự căng thẳng thời vụ và hạn chế lao động nhàn rỗi theo các chu kỳ sinh
trưởng khác nhau, không trùng nhau theo cây trồng vật nuôi và các hình thức đa canh
bao gồm: trồng xen trồng gối.
Cơ cấu cây trồng về diện tích là tỷ lệ các loại cây trên một diện tích canh tác.Tỷ
lệ này một phần nào đó nói lên trình độ thâm canh sản xuất.Tóm lại, hệ thống cây
trồng bền vững là hệ thống có khả năng duy trì sức sản xuất của cơ cấu cây trồng đó

13
khi chịu tác động của những điều kiện bất lợi. Để xác định được cơ cấu cây trồng hợp
lý, đạt hiệu quả tối ưu trong sử dụng đất thì phải căn cứ vào một số điều kiện cụ thể
trong không gian và thời gian nhất định [11].
2.4.2. Vấn đề suy thoái tài nguyên đất và quan điểm sử dụng đất bền vững
2.4.2.1.Vấn đề suy thoái
Đất bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định
theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành
các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của
các loại cây trồng nông lâm nghiệp.
Việt Nam quá trình thoái hóa đất đang diễn ra một cách đáng báo động. Các
loại hình thoái hóa và những vấn đề môi trường đất Việt Nam được thể hiện rất đa
dạng và phong phú. Các loại đất “có vấn đề” ở Việt Nam thể hiện qua một số loại đất


Đất bạc màu 2.984

356

112

4.650

411

455

Đất ngập úng 396

73

244

67

12

0

Đất phèn 2.146

426

1.714


Tổng 24.662

2.493

2.616

3.863

5378

10.312

(Nguồn: sinh thái môi trường đất - Lê Văn Khoa)
- Sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật quá mức: việc sử dụng
phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là chìa khóa của sự thành công trong cách
mạng xanh, trong nền nông nghiệp thâm canh cao để đảm bảo nhu cầu về lương thực,
thực phẩm Tuy nhiên trong những năm gần đây con người đã lo ngại về ảnh hưởng
của phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường và sức khỏe con người,

14
làm cho đất giảm độ phì, làm đất mất cân bằng dinh dưỡng trong hệ thống đất và tăng
độc tố Al
3+
, Fe
3+
, Mn
3+
gây thoái hóa môi trường đất.
- Chặt phá rừng: chiến tranh phá hoại, chặt rừng lấy gỗ, khai hoang, cháy rừng đã làm

(triệu ha)
%
Diện tích
(triệu ha)
%
Diện tích
(triệu ha)
%
Trung du miền
núi Bắc Bộ
9,8

9,3

94,9

0,9

9,2

7,8

79,6

Bắc Trung Bộ 5,2

4,2

80,8


23,6

3,3

60,0

Tổng số 24,9

21,63,417,6(Nguồn: sinh thái môi trường đất - Lê Văn Khoa)

15
Loại đất dốc phân bố rải rác ở khắp các tỉnh miền núi và trung du, nhưng tập
trung chủ yếu ở vùng trung du phía Bắc, Tây Nguyên. Diện tích đất thoái hóa ở vùng
Trung du miền núi Bắc Bộ diện tích đất thoái hóa chiếm tỷ lệ cao với diện tích là 7,8
triệu ha, chiếm 79,6% tổng diện tích đất của vùng. Do đó chúng ta cần phải tìm ra
những giải pháp sử dụng đất một cách hợp lý và hiệu quả nhất [6].
2.4.4.2.Quan điểm về sử dụng đất bền vững
Theo Fetry, “ Sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự
bảo tồn đất, nước, các nguồn động thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật
thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội” (FAO, 1994). FAO đã
đưa các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:

- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội
phát triển.
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được màu
mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất [10].
2.4.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.4.3.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là một nhân tố quan trọng đối với sản xuất đất nông
nghiệp.Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không
giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng
thừa nhận. Tuy nhiên, khi dân số ngày càng tăng lên thì nhu cầu lương thực, thực
phẩm là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực con người phải tăng cường
các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái nhiều vùng, đất
đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì
nhiêu cho đất chưa được coi trọng. Mặt khác, cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội,
công nghệ, khoa học và kỹ thuật thì chức năng của đất ngày càng mở rộng và có vai
trò quan trọng đối với cuộc sống của con người. Tổng diện tích bề mặt của toàn thế
giới là 510 triệu km
2
trong đó đại dương chiếm 361 triệu km
2
(71%), còn lại là diện
tích lục địa chỉ chiếm 149 triệu km
2
(29%). Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so
với Nam bán cầu.Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là
3.256 triệu ha, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền. Diện tích đất nông nghiệp
phân bố không đồng đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu âu chiếm
13%, Châu phi chiếm 6%. Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000 m
2
. Đất

công nghiệp thì ngày càng tăng lên. Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của
con người ngày càng cao do đó mà việc chuyển đổi cơ cấu sao cho phù hợp với xã hội
hiện nay sẽ đặt ra nhiều thách thức ảnh hưởng tới việc sử dụng đất. Đất sản xuất nông
nghiệp ở nước ta được phân bố qua bảng sau:
Bảng 2.4: Phân bố diện tích đất sản xuất nông nghiệp
của các vùng trên cả nước
Vùng Diện tích (ha) Diện tích (%)
Đồng bằng sông Hồng 802,6 8,5
Trung du và miền núi phía Bắc 1.423,2 15,1
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 1.758,3 18,7
Tây Nguyên 1.626,9 17,3
Đông Nam Bộ 1.248,7 13,3
Đồng sông Cửu Long 2.560,6 27,2
(Nguồn: theo quyết định số 16842/QĐ- BTNMT ngày 26 tháng 8 năm 2008 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Biểu đồ 2.1: Diệ
n tích
Theo báo cáo Tổ
ng đ
kê của cả nướ
c là 33.093.857 ha. Theo m
chính: đất nông nghiệ
p; đ
Tình hình sử dụ
ng đ
Một là, hiện trạ
ng và bi
nhóm đất nông nghiệp c


nghiệp khác
402
(
Ngu
13%
Diện tích

18
n tích
đất sản xuất nông nghiệp củ
a các vùng trên c
ng đi
ều tra đất đai năm 2010, tổng diệ
n tích các lo
c là 33.093.857 ha. Theo m
ục đích sử dụng, đất đượ
c phân thành 3 nhóm
p; đ
ất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng.
ng đ
ất của nước ta cụ thể như sau:
ng và bi
ến động đất nông nghiệp trên cả


a cả nướ
c năm 2010 là 26.100.160 ha, tăng 5.179.385 ha (g
ăm 2000. Trong đó, lư
ợng tăng chủ yếu ở loạ
i đ

11.575.027

14.677.409

15.249.025

3.102.382

571.616
367.846
700.061 690.218 332.215

14.075 17.562 -4.829
15.447 25.462 15.045
Ngu
ồn: Tổng điều tra đất đai năm
2000, năm 2005 và n
9%
15%
19%
17%
13%
27%
đồng bằng sông Hồng
trung du và miền núi phía b
bắc trung bộ và duyên h
tây nguyên
đông nam bộ
đồng bằng sông cửu long


3.673.998

-9.843 322.372
3.487 -1.342
10.015 25.060
ăm 2005 và năm 2010
)
ồng
ền núi phía bắc
ộ và duyên hải miền trung
ửu long

19
Biến động sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện trên các điểm sau:
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giai đoạn
2000-2010, tăng bình quân 114.000 ha/năm. Sự gia tăng này có thể đến từ việc mở
rộng một phần quỹ đất chưa sử dụng, khai phá rừng, đất lâm nghiệp
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm
đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha. Có 41/63 tỉnh
giảm diện tích đất trồng lúa. Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa
kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng
cây công nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và
các loại đất phi nông nghiệp (công trình công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư
nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh doanh).
- Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh, từ 11.575.027 ha
lên 14.677.409 ha, bình quân hằng năm tăng trên 620.000 ha và mức tăng trưởng này
giảm nhẹ trong giai đoạn kế tiếp. Đất lâm nghiệp của cả nước năm 2010 tăng 571.616
ha so với năm 2005, tính chung cho cả giai đoạn diện tích đất lâm nghiệp tăng
3.673.998 ha. Nguyên nhân tăng chủ yếu do các địa phương đã đẩy mạnh việc giao đất
để trồng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là do quá trình đo đạc, vẽ bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status