BÀI LÀM
Công ước Berne là công ước quốc tế đa phương về bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, nhằm loại trừ các
hành vi khai thác, sử dụng bất hợp pháp các tác phẩm của công dân nước
này trên lãnh thổ của một nước khác mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc
người đại diện hợp pháp của tác phẩm. Tuy nhiên, ở Việt Nam, xâm phạm
quyền tác giả và vi phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ngày càng phổ
biến và mức độ nghiêm trọng, phức tạp của tình hình xâm phạm quyền tác
giả ngày càng tăng. Để khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền hiện nay,
cần tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả của công
ước Berne một cách nghiêm túc. Mục đích của bài tập nhằm nêu ra ý nghĩa
của bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài trạng và đưa ra kiến nghị
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài
kể từ khi Việt Nam tham gia công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác
giả.
I, Những vấn đề chung về bảo hộ quyền tác giả.
1, Khái niệm quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả.
1.1, Quyền tác giả.
về mặt pháp lý, “quyền tác giả là quyền của cá nhân, tổ chức đối với các tác
phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” (theo khoản 2 điều 4 luật SHTT). Như vậy,
khái niệm quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học được
xem xét dưới hai góc độ: khách quan và chủ quan.
- Phương diện khách quan: quyền tác giả là một chế định pháp luật, bao gồm
các quy phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác
giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của các chủ thể trong việc
sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đồng thời quy
định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi bị xâm phạm.
- về chủ quan: là quyền dân sự cụ thể gồm quyền tài sản và quyền nhân thân
của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm
văn học, nghệ thuật công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khi quyền
của mình bị xâm hại.
dân của các nước thành viên liên hiệp với công dân nước sở tại trong lĩnh vực xác
lập và bảo hộ quyền tác giả khi đặt ra cho các quốc gia thành viên việc thực hiện
bảo hộ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác tương tự như sự
bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia mình.
- nguyên tắc bảo hộ tự động (Automatic Protection): quy định tại khoản 2
điều 5 công ước berne. Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm định hình dưới
một dạng vật chất nhất định mà không lệ thuộc vào bất kì thủ tục nào.
- nguyên tắc bảo hộ độc lập (Independence of Proctection): được quy định
tại khoản 2 điều 5 của công ước. Theo đó Việc hưởng và thực thi các quyền theo
Công ước là độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm.
- nguyên tắc bảo hộ tối thiểu: Các quốc gia thành viên khi bảo hộ cho các
tác phẩm có xuất xứ từ các quốc gia thành viên phải đảm bảo ít nhất các tiêu
chuẩn được quy định trong Công ước.
2.2) tác phẩm được bảo hộ (giới hạn bảo hộ)
Đối tượng bảo hộ của công ước berne là các tác phẩm văn học, nghệ thuật
và khoa học được liệt kê khá đầy đủ và toàn diện trong điều 2. bao gồm: các tác
phẩm gốc trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học không phân biệt hình thức
hay phương thức biểu hiện (khoản 1 điều 2); các tác phẩm phái sinh (khoản 3 điều
2); các tuyển tập tác phẩm văn học và nghệ thuật (khoản 5 điều 2). Ngoài ra công
ước còn dành cho các quốc gia thành viên quyền quyết định việc bảo hộ đối với
2
công văn nhà nước về lập pháp, hành pháp hay tư pháp cũng như các bản dịch
chính thức của văn kiện đó (khoản 4 điều 2).
2.3) điều kiện bảo hộ
Căn cứ vào điều 3 công ước berne thì các tác phẩm muốn được bảo hộ sẽ
phải thỏa mãn một trong hai tiêu chí sau: tiêu chí quốc tịch của tác giả (nguyên tắc
nhân thân) và tiêu chí nơi công bố tác phẩm đầu tiên (nguyên tắc lãnh thổ).
một văn bản luật riêng rẻ để điều chỉnh vấn đề quyền tác giả. Các vấn đề về quyền
tác giả chỉ được quy định tại chương I phần thứ sáu BLDS 1995. Nhưng các quy
định của pháp luật việt nam về quyền tác giả trước đây cũng đã có phần phù hợp
cơ bản với công ước berne. Chẳng hạn quy định về đối tượng bảo hộ, về tiêu
3
chuẩn bảo hộ quyền tác giả, thời điểm phát sinh quyền tác giả, giới hạn quyền tác
giả, thực thi quyền tác giả, thời hạn bảo hộ quyền tác giả…. Có thể nói, những
quy định về quyền tác giả pháp luật việt nam trước khi tham gia berne đã bước
đầu tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền tác giả. Nhưng các quy định thời kì
này còn tản mạn gây nhiều khó khăn cho việc thực thi quyền tác giả. Còn rất
nhiều vấn đề liên quan đến quyền tác giả được quy định trong công ước mà chưa
được quy định cụ thể hoặc chưa được điều chỉnh trong pháp luật quyền tác giả
việt nam. Sở dĩ Có sự khác biệt này là bởi khi xác định nguyên tắc xây dựng pháp
luật và sự chênh lệch về kĩ thuật lập pháp.
2. sự tương thích của pháp luật quyền tác giả sau khi Việt Nam gia nhập công
ước Berne.
Công ước Berne có hiệu lực ở Việt Nam từ 26/10/2004, từ đó trở về trước
chỉ có BLDS 1995 điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền tác giả. Đây là các quy định về
bảo hộ quyền tác giả nói chung, trong đó bao gồm cả quyền tác giả có yếu tố nước
ngoài. Sau khi gia nhập Công ước Berne, nhà nước ta đã ban hành một loạt văn
bản luật và dưới luật như BLDS 2005, Luật sở hữu trí tuệ 2005... nhằm đồng bộ
hóa tới mức tối đa hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền tác giả của nước ta với
Công ước Berne.
Về tiêu chuẩn bảo hộ: điều 737 BLDS 2005 quy định Nhà nước bảo hộ các
tác phẩm thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không
phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào. Điều này
phù hợp với tinh thần của Công ước Berne. Đương nhiên việc thể hiện dưới hình
thức và phương tiện nào đi nữa thì cũng đều là chất xám, trí tuệ của tác giả sáng
Về đối tượng bảo hộ: ở đây vẫn chưa có sự thống nhất, pháp luật Việt Nam
quy định những tác phẩm được nhà nước bảo hộ mang tính chất „đóng“, tức là
không linh hoạt, khoa học như quy định trong Công ước mang tính chất mở. Điều
này sẽ bất cập khi có sự xuất hiện của một thể loại tác phẩm mới cần được bảo hộ
trong pháp luật Việt Nam.
Thêm vào đó, điều kiện bảo hộ cũng có chút khác biệt, pháp luật Việt Nam
quy định nội dung các tác phẩm được bảo hộ (khoản 1 Điều 8 LSHTT sửa đổi, bổ
sung 2009), trong khi đó trong Công ước không hề có quy định này.
Quy định về quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm: Công ước Berne chỉ
quy định 2 loại quyền là quyền tinh thần và quyền kinh tế. Pháp luật Việt Nam lại
quy định tác giả, chủ sở hữu tác phẩm có quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều
738 BLDS 2005). Sự khác biệt này không đơn thuần chỉ là sự khác biệt về cách
gọi tên mà còn khác biệt ở chính nội hàm của thuật ngữ. Điều này làm cho quy
định về các loại quyền của tác giả và chủ sở hữu tác phẩm ở Việt Nam phức tạp
hơn so với Công ước Berne.
Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa có quy định về quyền “droit de suit” đối với
tác phẩm mỹ thuật và bản thảo viết tay.
Quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả: được quy định tại Điều 7 Công
ước. Tuy nhiên, Công ước quy định thời hạn bảo hộ dựa trên đối tượng được bảo
hộ, trong khi đó, pháp luật Việt Nam lại quy định thời hạn bảo hộ là loại quyền
nào. Ngoài ra, Công ước chỉ quy định thời gian bảo hộ là có thời hạn, nhưng trong
pháp luật Việt Nam quy định cả thời gian bảo hộ là vô thời hạn (Điều 27 LSHTT
sửa đổi, bổ sung 2009). Bên cạnh đó, pháp luật nước ta cũng chưa quy định thời
hạn bảo hộ đối với quyền của nghệ sỉ biểu diễn và nhà sản xuất băng ghi âm như
Công ước Berne.
Đây chỉ là một số vấn đề chưa tương thích cơ bản giữa pháp luật trong nước
với Công ước Berne. Từ đó, các nhà làm luật cần chú ý xem xét đồng bộ hóa các
quy định hợp lý tới mức cao nhất trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa đang diễn
ra mạnh mẽ, việc tham gia và tôn trọng Công ước Berne là rất cần thiết.
lĩnh vực. +) Trong lĩnh vực xuất bản: Vấn đề sách lậu với quy mô phát triển ngày
càng lớn, thậm chí ảnh hưởng của sách lậu đã thực sự ghìm chân sự phát triển của
thị trường xuất bản. nhiều kế hoạch, dự án xuất bản đã bị hủy bỏ do sách lậu lộng
hành khiến nhà làm sách chân chính mất lòng tin. Ngoài ra, một vấn đề hết sức
nhức nhối nữa là xuất bản vi phạm bản quyền. Đó là những ấn phẩm được nhà
xuất bản cấp giấy phép nhưng lại vi phạm luật SHTT khi chưa được người sở hữu
bản quyền ấn phẩm cho phép.
+) Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh băng đĩa: tình trạng nhập lậu, in lậu,
lưu hành và kinh doanh băng đĩa lậu vi phạm bản quyền đã diễn ra trong nhiều
năm, đây là vấn đề nhức nhối trong lĩnh vực bản quyền. Mặc dù các cơ quan ban,
ngành có tiến hành kiểm tra, tịch thu, xử phạt nhưng băng đĩa lậu vẫn tràn lan,
khiến những nhà sản xuất chân chính rơi vào cảnh” dở khóc, dở cười’. Nhưng khi
6
đĩa vừa phát hành, lập tức xuất hiện đĩa sao chép, khiến các hãng sản xuất bị thiệt
hại rất lớn.
+) lĩnh vực âm nhạc: Bên cạnh việc một số ít đài truyền hình đã tiến hành
trả thù lao cho các nhạc sĩ khi phát sóng tác phẩm thì theo Trung tâm bảo vệ
quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, hiện có khoảng 20 vạn bài hát lưu hành trên
mạng mà không xin phép, trong đó, các bài hát của tác giả nước ngoài chiếm con
số không nhỏ.
+) trong lĩnh vực phần mềm máy tính: Đây là lĩnh vực béo bở cho việc
buôn bán lậu và sử dụng lậu các phần mềm. Trong vụ kiểm tra hành chính 2 công
ty tại TPHCM trong năm 2005, cơ quan chức năng đã phát hiện các chương trình
máy tính sử dụng trái phép như Microsoft Windows, ACD See, Adobe
Photoshop… với tổng giá trị khoảng hơn 200 triệu đồng. Điều này cho thấy không
chỉ những phần mềm của các doanh nghiệp phần mềm nước ngoài bị xâm hại mà
ngay chính những phần mềm trong nước cũng đang bị sao chép tràn lan.
luật thương mại. Việc hoàn thiện phải mang tính thống nhất trong cả hệ thống
pháp luật chứ không phải chỉ riêng pháp luật SHTT đồng thời hướng tới các cấp
về việc xây dựng, ban hành luật bản quyền riêng như nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong pháp luật dân sự, cần quy định về việc xác định hành vi xâm phạm
SHTT, nâng cao vai trò của tòa án dân sự trong việc giải quyết tranh chấp về
SHTT. Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn thực thi quyền SHTT một cách kịp thời
và có hiệu quả. Xác định rõ thẩm quyền vụ việc tòa án trong việc xét xử các tranh
chấp về SHTT, bổ sung những quy định chi tiết về các chế tài đủ mạnh để chống
lại các hành vi xâm phạm quyền SHTT, tham khảo một số biện pháp khẩn cấp tạm
thời đã được áp dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp bản quyền trên thế giới.
Trong luật hành chính, Chính phủ cần quy định theo hướng mở rộng thẩm
quyền giải quyetes khiếu nại hành chính trong bảo vệ quyền SHTT cho tòa án.
Xây dựng và ban hành những quy định, hướng dẫn riêng về thủ tục tố tụng và các
vấn đề cụ thể, riêng biệt cần được áp dụng trong quá trình giải quyết các khiếu
kiện hành chính về quyền tác giả.
* tăng cường tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về quyền tác
giả: Cần đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn về quyền tác giả. Việc đào tạo này
cần thực hiện trong phạm vi cả nước, từ cơ quan trung ương cho đến địa phương
và trước hết phải đào tạo chuyên sâu về pháp luật, quyền tác giả cho đội ngũ cán
bộ thông qua các lớp đào tạo chính quy, các cuộc tập huấn… Thiết lập sự phối
hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tạo nên sự phối hợp
nhịp nhàng trong thực thi quyền tác giả. Đồng thời cần thành lập một cơ quan nhà
nước thống nhất về SHTT
* tuân thủ các điều ước quốc tế đã tham gia và các hiệp định song phương
đã kí kết: cho đến nay việt nam đã tham gia các điều ước quốc tế quan trọng cũng
như đã kí kết các điều ước quốc tế song phương về quyền SHTT nói chung và bản
quyền tác giả nói riêng. Việc tham gia các công ước là một điều kiện thiết yếu để
việt nam tham gia bình đẳng vào các hoạt động thương mại quốc tế, các tổ chức
thế giới, đẩy mạnh quá trình hội nhập. Việc gắn bảo hộ SHTT với thương mại
quốc tế sẽ tạo điều kiện để có những cơ chế bảo hộ quốc tế hữu hiệu hơn về
nữa, chủ động hơn nữa trong việc đưa ra những điều khoản berne vào thực tiễn áp
dụng.
Lê thị thu – bảo hộ quyền tác giả theo quy định của công ước berne và vấn đề
thực thi công ước tại việt nam – khóa luận tốt nghiệp –đh luật hn -2011.
ThS. Nguyễn bá bình “ công ước berne 1886- công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác
giả” nxb tư pháp.
Ths. Vũ thị phương lan “ công ước berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ
thuật” tạp chí luật học số 2005/
Nguyễn thị quyên – bảo hộ quyền tác giả theo công ước berne năm 1886 và vấn
đề thực thi công ước tại việt nam – khóa luận tốt nghiệp.
9