BT học kỳ công pháp quốc tế tác động của luật quốc tế đối với quá trình hoàn thiện các quy định của hệ thống pháp luật việt nam trong lĩnh vực bảo vệ - Pdf 53

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU...................................................................................................................1
NỘI DUNG........................................................................................................................ 1
1. Một số khái niệm cơ bản...........................................................................................1
1.1. Quyền của phụ nữ là gì?....................................................................................1
1.2. Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ...........................................1
2. Quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của phụ nữ................................2
3. Tác động của Luật quốc tế đối với quá trình hoàn thiện các quy định của pháp
luật Việt Nam về bảo vệ quyền phụ nữ........................................................................2
3.1. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền phụ nữ trước khi có sự tác động của
Luật quốc tế (trước năm 1982 – thời điểm Việt Nam phê chuẩn Công ước CEDAW)
..................................................................................................................................... 2
3.2. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền phụ nữ sau khi kí kết các Công ước
quốc tế (sau thời điểm Việt Nam phê chuẩn Công ước CEDAW)...............................3
4. Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
và một số phương hướng hoàn thiện...........................................................................7
KẾT LUẬN.......................................................................................................................7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................8

0


LỜI NÓI ĐẦU
Trong một thời gian dài của lịch sử, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, không
phải lúc nào người phụ nữ cũng được hưởng một cuộc sống tươi đẹp, xứng đáng với
những hy sinh, vất vả mà họ phải gánh chịu, họ thường bị phân biệt đối xử, bị ngược đãi
mà không nhận được sự quan tâm, bảo vệ thích đáng của xã hội. Vì vậy, vấn đề bảo vệ
quyền của phụ nữ, tạo điều kiện cho họ phát triển tốt nhất khả năng của mình trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội luôn là vấn đề mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm của
cả cộng đồng quốc tế hiện nay.


biện pháp bảo vệ các quyền đó. Bởi trên thực tế, do ảnh hưởng của các yếu tố tôn giáo,
định kiến xã hội và sinh lý nên quyền của phụ nữ thường hay bị xâm phạm và người phụ
nữ thường phải chịu sự phân biệt đối xử trong mọi lĩnh vực.

2. Quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của phụ nữ
Vào đầu thế kỉ XX, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành một số công ước
có ý nghĩa bảo vệ người phụ nữ. Tuy nhiên, những công ước này chỉ giới hạn trên lĩnh
vực lao động, việc làm và trợ cấp xã hội chứ chưa đề cập đến khái niệm cụ thể là “quyền”
của phụ nữ. Vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ chỉ nhận được mối quan tâm đặc biệt và
có những chuyển biến mạnh mẽ kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập. Trong lời nói
đầu của Hiến chương Liên hợp quốc đã xác định mục tiêu của tổ chức này là: “…khẳng
định lòng tin tưởng ở những quyền cơ bản của con người ở phẩm giá và giá trị của con
người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ…”.
Để thực hiện mục tiêu này, Liên hợp quốc đã tiền hành thành lập Ủy ban về địa vị
phụ nữ trực thuộc Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên Hợp Quốc vào năm 1946.
Năm 1949, Liên hợp quốc đã ban hành Công ước về trấn áp việc buôn người và
bóc lột mại dâm người khác.
Năm 1952, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước về các quyền chính
trị của phụ nữ.
Năm 1957, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua công ước thứ ba, đó là Công
ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn.
Năm 1962, Điều ước quốc tế thứ tư nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ được
ban hành, đó là Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và kết hôn tự
nguyện.
Năm 1967, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua tuyên ngôn về xóa bỏ tất cả
các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.
Năm 1972, Công ước CEDAW về xóa bỏ tất cả những hình thức phân biệt đối xử
với phụ nữ được soạn thảo và có hiệu lực từ ngày 03/09/1981. Hiện nay, có 186 quốc gia
trên thế giới tham gia Công ước. CEDAW đã và đang trở thành một khuôn khổ pháp lý

Công ước CEDAW loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1981; Công
ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế - xã hội và văn hóa năm 1982. Trong lĩnh vực lao động, Việt Nam đã phê
chuẩn nhiều công ước quan trọng đảm bảo quyền của người lao động, trong đó có quyền
của phụ nữ như: Công ước số 45 năm 1935 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về làm
việc dưới mặt đất của phụ nữ; Công ước số 100 năm 1951 của ILO về bình đẳng trong trả
công lao động; Công ước số 111 năm 1958 của ILO về phân biệt đối xử về việc làm, nghề
nghiệp… Việc tham gia các công ước này, Nhà nước Việt Nam thừa nhận giá trị cao quý
về các quyền và tự do cơ bản của phụ nữ, từng bước hoàn thiện chính sách, pháp luật
trong công cuộc đổi mới.
Để thực hiện các công ước quốc tế trên, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản
pháp luật để “nội luật hóa” quy định của các công ước. Có thể nói rằng, việc “nội luật
hóa” các Công ước quốc tế về bảo vệ quyền phụ nữ đã được Đảng, Nhà nước và các
ngành chức năng hết sức quan tâm. Cho đến nay, Việt Nam đã có một hệ thống văn bản
pháp luật khá đầy đủ điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ. Vấn đề này được thể
hiện rõ trong nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật lao động năm 1994; Luật hôn nhân gia
3


đình năm 2000; Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003; Luật đất đai năm
2003; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Pháp lệnh phòng chống tệ nạn mại
dâm năm 2003; Pháp lệnh Dân số năm 2003; Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Bình đẳng
giới năm 2006; Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Quốc tịch năm
2008… Có thể điểm qua những quy định đáng chú ý như:
3.2.1. Trong lĩnh vực chính trị
Quyền chính trị của phụ nữ là một trong những quyền quan trọng, nhạy cảm được
đề cập khá toàn diện, sâu sắc trong CEDAW. Theo Công ước "các quốc gia thành viên
của công ước cam kết đảm bảo quyền bình đắng giữa nam và nữ đối với tất cả các quyền
kinh tế, xã hội... mà Công ước này đề ra'' (Điều 3). Tại Điều 63 Hiến pháp năm 1992 quy
định: “Công dân nữ và nam ngang quyền nhau về mọi mặt chính trị, văn hóa, xã hội và

5a, khoản 1 Điều 9, Điều 12 và đặc biệt là Điều 16 của Công ước CEDAW. Các nội dung
này được quy định trên cơ sở tính đến sự khác biệt đặc thù về giới tính giữa nam và nữ
nhằm xóa bỏ những định kiến truyền thống của xã hội về vai trò của nam giới và nữ giới,
xác lập những khuôn mẫu ứng xử trên cơ sở bình đẳng giới. Quyền bình đẳng giới theo
quy định của pháp Luật hôn nhân gia đình 2000 được thể hiện qua các góc độ: bình đẳng
trong việc kết hôn của nam và nữ; bình đẳng trong quan hệ vợ chồng; bình đẳng giữa cha
và mẹ trong việc thực hiện quyền cha mẹ đối với con.
- Điều 1 Công ước 1957 về quốc tịch của người phụ nữ lấy chồng quy định: “Mỗi
nước kí kết thỏa thuận rằng không vì việc kết hôn, li hôn giữa công dân và người nước
ngoài, không vì việc thau đổi quốc tịch của người chồng trong thời gian hôn nhân mà có
thể đương nhiên có hiệu lực với quốc tịch của người vợ...". Để phù hợp với tinh thần của
Công ước, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định: "Việc vợ hoặc chồng nhập hoặc
mất quốc tịch Việt Nam không làm thay đổi quốc tịch của người kia".
- Luật Đất đai năm 2003 thể hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam không có sự
phân biệt theo giới. Nam, nữ bình đẳng trước pháp luật về đất đai. Điều 195, 106 Luật Đất
đai năm 2003 quy định hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất có các quyền chung của
người sử dụng đất. “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng” (Khoản 3
Điều 48 Luật Đất đai 2003).
- Pháp lệnh Dân số năm 2003 quy định: “Nghiêm cấm hành vi lựa chọn giới tính
thai nhi dưới mọi hình thức”.
- Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2008 góp phần củng cố, xây dựng gia
đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc và tiến bộ; chú trọng các biện pháp phòng ngừa bạo lực
gia đình, xử lý nghiêm minh các hành vi bạo lực gia đình và có các biện pháp bảo vệ nạn
nhân, nhất là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi…
3.2.4. Trong lĩnh vực lao động
- Công ước quốc tế số 111 của ILO về chống phân biệt đối xử trong việc làm và
nghề nghiệp năm 1960 ghi nhận nguyên tắc: “Mọi người không phân biệt chủng tộc, màu
da, giới tính, tôn giáo… đều có cơ may về đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, trên cơ
sở không có sự ưu đãi hay biệt đãi vì bất kì lí do gì”. Pháp luật Việt Nam cũng tiếp cận

CEDAW là bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia đã được ghi nhận
tại Điều 6 Luật Bình đẳng giới.
Với hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện phù hợp với đặc điểm, tình hình
của đất nước, nhận thức xã hội về bảo vệ quyền của phụ nữ ngày càng được nâng cao.
Theo “Báo cáo phân tích tình hình giới ở Việt Nam” năm 2006 của Ngân hàng Thế giới,
Ngân hàng phát triển châu Á, Vụ phát triển quốc tế Anh và Cơ quan phát triển quốc tế
Canada thì: “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia
các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới… là
quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong hai
mươi năm qua ở khu vực Đông Á”

4. Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt
Nam hiện nay và một số phương hướng hoàn thiện
Sau gần 30 năm thực hiện và áp dụng các Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của
phụ nữ, địa vị của phụ nữ Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã được cải
6


thiện và nâng cao. Quyền bình đẳng thực chất của phụ nữ ngày càng được bảo đảm hơn.
Việt Nam đã từng bước khắc phục tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ từ trong gia đình
đến ngoài xã hội. Là một trong những nước đứng đầu khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (chiếm 25,76% nhiệm kỳ 2007 – 2011, tăng 4% so
với nhiệm kỳ 1981 – 1987), tỷ lệ biết đọc, biết viết của phụ nữ tăng từ 82,,3% năm 1993
lên 90,5% năm 2008. Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực
hiện mục tiêu thiên niên kỷ với 5/8 mục tiêu cơ bản hoàn thành trước thời hạn, trong đó
có mục tiêu về bình đẳng giới và nâng cao địa vị cho phụ nữ. Báo cáo Phát triển con
người năm 2010 của Liên hợp quốc đã đánh giá Việt Nam có chí số bất bình đẳng giới
đứng thứ 58/138 quốc gia, ở vị trí tốt hơn so với các nước như Thái Lan, Philipppin.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Việt Nam cũng gặp không ít khó
khăn, thách thức trong quá trình triển khai CEDAW và thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền

mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)”, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội,
2011.
4. Mai Thị Diệu Thúy, “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một
số lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay”, Luận án thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2007.
5. TS. Lê Mai Anh, “Tổng quan các vấn đề pháp lí cơ bản của Công ước quốc tế về
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)”, Tạp chí luật học, số
3/2006.
6. TS. Lê Hồng Bắc, “Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong pháp luật quốc tế và pjap
luật VIệt Nam”, Tạp chí luật học, số đặc san 3/2004.
7. ThS. Nguyễn Thị Phương, “Hiến pháp Việt Nam với việc thực hiện quyền bình
đẳng nam nữ theo Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ (CEDAW)”, Tạp chí luật học, số 3/2006.
8. TS. Đỗ Ngân Bình, “Bảo vệ quyền lợi của lao động nữ theo Công ước quốc tế về
xóa bo mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và pháp luật lao động Việt Nam”,
Tạp chí luật học, số 3/2006.
9. TS. Dương Tuyết Miên, “Pháp luật hình sự Việt Nam với việc bảo đảm quyền bình
đẳng của phụ nữ”, Taph chí luật học, số 3/2006.

Văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế
10. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
11. Bộ luật lao động năm 1994.
12. Bộ luật hình sự năm 1999.
13. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
14. Luật bình đẳng giới năm 2006
15. Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2008.
16. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948.
17. Công ước về cấc quyền chính trị của phụ nữ năm 1952.
18. Công ước số 100 năm 1951 của ILO về bình đẳng trong trả công lao động
19. Công ước số 111 năm 1958 của ILO về phân biệt đối xử về việc làm, nghề nghiệp.
20. Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status