Bộ t pháp
trờng đại học luật hà nội
----------------------------------------
Bài TậP lớn học kỳ
MÔN: luật tố tụng dân sự
Đề Số 13 :
Phạm vi xét xử vụ án dân sự của tòa án cấp sơ thẩm,
phúc thẩm và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
liên quan đến vấn đề này.
Sinh viên
: Nguyễn Ngọc Phơng
MSSV
: 341024
Nhóm
:2
Lớp
: NO3.TL1
Hà Nội - 2012
LI NểI U
tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như
1
thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của
đương sự… Hội đồng xét xử thực hiện việc xét xử qua việc nghe các bên đương
sự trình bày, tranh luận, kiểm tra, xác mình các tài liệu, chứng cứ của vụ án một
cách toàn diện và khách quan; áp dụng đúng pháp luật quyết định giải quyết vụ
án.
Phiên tòa sơ thẩm là phiên xử lần đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối
với việc giải quyết vụ án dân sự. Nếu cấp sơ thẩm xét xử chính xác, nghiêm túc
thì bản án sẽ ít bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, vụ án sẽ
không bị kéo dài. Do đó, xét xử sơ thẩm dân sự là quá trình giải quyết lần đầu
vụ án dân sự của TA và được bắt đầu bằng việc khởi kiện của người khởi kiện.
Nếu việc khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện về nội dung và hình thức
khởi kiện sẽ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý của tòa án, chuẩn bị xét xử, hòa giải
và mở phiên tòa sơ thẩm.
1.2. Phạm vi xét xử sơ thẩm.
Trong BLTTDS cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS chưa
có một quy định giải thích chính thức thế nào là phạm vi xét xử sơ thẩm. Theo
từ điển tiếng việt: “Phạm vi được hiểu là khoảng được giới hạn của một hoạt
động hay của một vấn đề hay một cái gì” (1). Khi đương sự thực hiện quyền khởi
kiện, họ có quyền quyết định về việc tự tham gia hay ủy quyền cho người khác,
tự quyết định về phạm vi, nội dung, mức độ yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích của
họ. Trong quá trình tố tụng, họ có quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi, bổ sung, rút
yêu cầu(2). Trách nhiệm của Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của
đương sự, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Vì vậy, Tòa án không tự mình xác
định phạm vi xét xử tại phiên tòa sơ thẩm mà dựa trên yêu cầu được đưa ra tại
đơn khởi kiện của đương sự, điều này phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của các
đương sự.
tòa án cấp dưới, qua đó có thể chỉ đạo một cách kịp thời và thống nhất việc áp
dụng pháp luật trong hoạt động xét xử tại các tòa án ở địa phương.
2.2. Phạm vi xét xử phúc thẩm.
Đối tượng của xét xử phúc thẩm là các quyết định, bản án của TA sơ thẩm
chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị. Do đó, phạm vi xét xử phúc thẩm là
những bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan
đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Điều này được hiểu là: TA
cấp phúc thẩm khi xét xử phúc thẩm phải xem xét trong phạm kháng cáo, kháng
3
nghị. Ngoài ra, nếu cần thiết cho quá trình giải quyết, TA phúc thẩm có thể xem
xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án, quyết định.
3. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phạm vi xét xử sơ
thẩm.
Theo như quy định của pháp luật TTDS thì để được Tòa án thụ lý và giải
quyết tranh chấp: cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua
người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tới tòa án có thẩm quyền (3). Ngoài ra,
theo điều 162 BLTTDS thì: cơ quan về dân số, gia đình trẻ em; hội liên hiệp phụ
nữ; công đoàn cấp trên; cũng có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình, vụ án
lao động, và các cơ quan, tổ chức khác có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án
bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
Để được Tòa án thụ lý thì người khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. Theo quy
định tại điểm g khoản 2 điểu 164 BLTTDS thì đơn khởi kiện phải có nội dung
chính sau: “Những vấn đề cụ thể thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan”. Qua quy định này chúng ta có thể hiểu
rằng phạm vi xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm phải dựa trên những yêu cầu của
người khởi kiện nêu trong đơn khởi kiện, Tòa án chỉ có quyền xét xử theo những
yêu cầu đó. Theo điều 217 khi tiến hành xét xử tại phiên tòa sơ thẩm thì chủ tọa
phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề sau: “1. hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ
* Tòa án phúc thẩm chỉ xem xét trong nội dung kháng cáo, kháng nghị và
những vấn đề có liên quan đến việc xem xét nội dung có kháng cáo, kháng nghị.
Theo mục III. 1 nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP thì: “Có liên quan đến việc
xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị là trường hợp việc giải quyết kháng
cáo, kháng nghị đối với phần này của bản án, quyết định sơ thẩm đòi hỏi phải
xem xét, giải quyết đồng thời phần khác của bản án, quyết định sơ thẩm đó mặc
dù phần này không bị kháng cáo, kháng nghị”(4).
Theo khoản 2 điều 268 BLTTDS thì: “Chủ tọa phiên tòa hỏi về các vấn đề
sau đây: a, hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không; b, hỏi người kháng
cáo, viện kiểm sát có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không”.
Nếu như trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút
đơn khởi kiển, nếu bị đơn đồng ý, thì hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án
sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu bị đơn không chấp nhận và nếu không
4
Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dân
thi hành một số quy định trong phần thứ ba: “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS
5
có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn, thì bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
II. Thực trạng PL và kiến nghị hoàn thiện PL về phạm vi xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án.
1. Thực trạng PL về phạm vi xét xử sơ thẩm
Thứ nhất, các quy định về xét xử cấp sơ thẩm đã làm xuất hiện tình trạng
một số người tiến hành tố tụng cho rằng “cứ xét xử, sai đã có cấp phúc thẩm xét
xử lại”, từ đó việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của nhiều tòa án không dựa
khởi kiện trong thời hạn nhất định (6). Tại phiên tòa thì người khởi kiện vẫn có
quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng việc sửa đổi bổ xung, thay đổi
của họ không được vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu. Trên thực tế đã có trường
hợp người khởi kiện đã yêu cầu đòi 1.066 m 2 đất, nhưng khi xét xử thì tòa án đã
buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn 3.815 m 2 đất điều này đã làm vượt quá yêu
cầu của nguyên đơn (vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là
ông nguyễn văn Nhanh và bị đơn là ông hồng công Luyến do tòa án nhân dân
tỉnh T xét xử tại bản án dân sự phúc thẩm số 146/2007/DSPT ngày 14-5-2007)
2. Thực trạng PL về phạm vi xét xử phúc thẩm
Thứ nhất, theo quy định của BLTTDS thì Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
các nội dung kháng cáo, kháng nghị trước rồi mới xem xét tới các phần khác của
bản án, quyết định tố tụng không bị kháng cáo, kháng nghị. Nhưng thực tế cho
thấy: tòa án cấp phúc thẩm hầu như chỉ xem xét trong kháng cáo kháng nghị mà
chưa xem xét các phần khác của của bản án, quyết định không bị kháng cáo,
kháng nghị nhưng có liên quan.
Thứ hai, với hướng dẫn tại mục III. 1 nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP thì
nhiều thẩm phán đã hiểu không đúng với các quy định của pháp luật. Ví dụ,
Tháng 3-2009, TAND tỉnh Kiên Giang đã xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng
hùn vốn mở lò đường giữa hai ông Võ Văn Tám, Nguyễn Văn Bảy với ông Lê
Văn Tấn. Điều đáng chú ý là sau phiên phúc thẩm, ông Tấn (bị đơn) đã liên tục
khiếu nại, yêu cầu cấp có thẩm quyền xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc
thẩm vì cho rằng TAND tỉnh Kiên Giang đã xét xử vượt quá án sơ thẩm…)(7).
6
7
Khoản 1 điều 169 BLTTDS năm 2004
/>
7
8
nhận toàn bộ yêu cầu của đương sự; chấp nhận một phần yêu cầu của đương sự;
không chấp nhận yêu cầu của đương sự.
Thứ tư, cần quy định và hướng dẫn rõ ràng hơn nữa phạm vi điều 263
BLTTDS để tránh tình trạng khi xét xử tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ
vụ án, kể cả những bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị.
Thứ năm, đối với mục III. 1 nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP chúng ta
cần có những quy phạm hướng dẫn cụ thể hơn nữa thế nào là “có liên quan” đến
việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
KẾT LUẬN
Trong quy định của pháp luật tộ tụng dân sự, quá trình xét xử sơ thẩm cũng
như xét xử phúc thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động
giải quyết vụ án. Do đó, để đảm bảo được ý nghĩa này ở mỗi phiên tòa sơ thẩm
cũng như phúc thẩm, chúng ta phải xác định đúng phạm vi xét xử sơ thẩm và
phạm vi xét xử phúc thẩm. Nếu Tòa án xác định đúng phạm vi xét xử thì tính
pháp chế sẽ không còn nữa
Trước những thực trạng của pháp luật nêu ở trên, chúng ta cần phải có
những quy định hoàn thiện pháp luật, để đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa
án được riễn ra một cách thuận tiện và nhanh chóng, đảm bảo được các quyền
lợi của đương sự trong vụ án dân sự.
Vấn đề này cần được các nhà làm luật nghiên cứu và chuyên sâu hơn nữa.
Do kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian thực hiện đề tài không có nhiều nên
bài tiểu luận chưa được hoàn chỉnh. Em mong nhận được sự góp ý, phê bình của
thầy cô!
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
phán tòa án nhân dân tối cao hướng dân thi hành một số quy định trong
phần thứ ba: “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm” của
BLTTDS
Vũ Thị Oanh/Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự-Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn/ khóa luận tốt nghiệp năm 2010.
Bùi Thị Huyền/Phiên tòa sơ thẩm dân sự-Những vấn đề lý luận và thực
tiễn/Luận án tiễn sĩ luật học năm 2008.
Nguyễn Thị Bích Ngọc/Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
dân sự/khóa luận tốt nghiệp năm 2010
Trung tâm từ điển học (2005)/ Từ điển Tiếng Việt/NXB Đà Nẵng
/> />
10