Chơng 1
Đảng lãnh đạo cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền bắc
(1954 - 1975)
Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông D-
ơng đợc ký kết, nớc ta tạm thời chia làm hai miền, với hai chế độ chính trị xã hội khác
nhau. Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân. Dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã nỗ lực phấn
đấu, vợt qua mọi khó khăn, thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa
xã hội, lập nên những kỳ tích vĩ đại, góp phần to lớn quyết định thắng lợi đối với toàn
bộ sự nghiệp cách mạng của cả nớc.
I. Đờng lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
1. Đặc điểm tình hình thế giới và trong nớc khi miền Bắc bớc vào thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Miền Bắc bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh thế giới
và trong nớc có những thuận lợi to lớn, nhng cũng gặp những khó khăn không nhỏ.
Nét nổi bật của tình hình thế giới là hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đang lớn
mạnh về mọi mặt, quyết định chiều hớng phát triển của thời đại mới. Sức mạnh đó là
kết quả chung về sự phát triển toàn diện của các nớc xã hội chủ nghĩa bao gồm các mặt:
kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, trong đó Liên Xô là trung tâm, trụ cột của
hệ thống xã hội chủ nghĩa. Sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã thức tỉnh, cổ
vũ mạnh mẽ nhân dân các nớc thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam đứng lên
chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hào bình thế giới.
Sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt sau chiến thắng Điện Biên
Phủ của nhân dân Việt Nam đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân thế giới không ngừng phát triển mạnh trên khắp các châu
lục.
Tình hình trên làm cho lực lợng của chủ nghĩa đế quốc ngày càng suy yếu
nghiêm trọng. Biểu hiện trớc hết ở sự tan rã của hệ thống thuộc địa, tiếp đến là sự suy
thoái của hệ thống kinh tế t bản chủ nghĩa và sự gia tăng mâu thuẫn trong nội bộ, làm
cho chủ nghĩa đế quốc đứng trớc vực thẩm của tổng khủng khoảng.
nhằm tạo cơ sở ban đầu thuận lợi để chuẩn bị tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hội nghị lần thứ bảy (3-1955) và lần thứ tám (8-1955) của Ban Chấp hành Trung
ơng (khóa II), Đảng ta đề ra nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy
mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, Đặc biệt Hội nghị lần thứ tám của Đảng
đã chủ trơng đa miền Bắc tiến dần từng bớc lên chủ nghĩa xã hội, củng cố miền Bắc
phải luôn luôn chiếu cố miền Nam, đó là hai nhiệm vụ không tách rời nhau.
Việc xác định đờng lối đa miền Bắc tiến dần từng bớc lên chủ nghĩa xã hội hoàn
toàn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thích ứng
với điểm xuất phát thấp của thực tiễn kinh tế xã hội và con ngời miền Bắc.
Cụ thể hóa Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ tám, tháng 1 năm 1956,
trong tài liệu Mấy vấn đề về đờng lối cách mạng Việt Nam, Bộ Chính trị nhận định:
Từ khi hòa bình lập lại, miền Bắc nớc ta đã chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa,
bất kể tình hình nh thế nào, miền Bắc cũng phải đợc củng cố và phải tiến lên chủ nghĩa
xã hội. Đến đây, nhận thức của Đảng ngày càng thể hiện rõ quyết tâm tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Quyết tâm đó hoàn toàn có cơ sở khoa học, bởi vì
miền Bắc đã đợc giải phóng, thế lực đế quốc và phong kiến đã bị đánh đổ, nhân dân
phấn khởi tin tởng, khối liên minh công nông đợc củng cố, sự lãnh đạo của Đảng đợc
tăng cờng, chính quyền nhân dân đợc xây dựng ngày càng vững mạnh và đang chuyển
sang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, sự giúp đỡ của các nớc xã hội chủ
nghĩa anh em ngày càng có hiệu lực. Vì vậy, chủ trơng của Đảng đa miền Bắc đi lên
chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa là phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại và nguyện vọng thiết tha của toàn dân, đồng thời đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp giải phóng miền Nam, bớc chuẩn bị cần thiết cho chiến lợc cách
mạng lâu dài đa cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội sau này.
Để cụ thể hóa và phát triển đờng lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
(tháng 12-1957), hội nghị lần thứ mời ba của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (khóa II),
họp bàn nhiệm vụ soạn thảo đờng lối cách mạng trong giai đoạn mới. Hội nghị tổng kết
nhiệm vụ khôi phục kinh tế miền Bắc; bàn phơng hớng phát triển chủ nghĩa xã hội
trong những năm tiếp theo; thông qua cải tiến chế độ tiền lơng cho cán bộ, công nhân
viên; đề ra chủ trơng xây dựng Đảng, kiện toàn bộ máy Nhà nớc đủ sức lãnh đạo cách
khai mạc Đại hội và nêu rõ: Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nớc nhà.
Nội dung cơ bản của đờng lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đợc
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng thông qua là:
Về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: Xây dựng đời sống ấm no,
tự do, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho
cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nớc nhà, góp phần tăng cờng phe xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam á và thế giới.
Con đờng để đạt mục tiêu trên: Sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm
nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, để cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thơng nghiệp nhỏ và công thơng nghiệp t bản t doanh ; phát
triển thành phần kinh tế quốc doanh ; thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng
cách u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về t tởng, văn
hóa và kỹ thuật.
Về nhịp độ, bớc đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc: Tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Yêu cầu cần đạt đến của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là biến nớc ta
thành một nớc xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn
hóa, khoa học tiên tiến.
Điều kiện để thực hiện thắng lợi đờng lối trên là: Tăng cờng sự lãnh đạo của
Đảng, tăng cờng vai trò của Nhà nớc dân chủ nhân dân; củng cố sự nhất trí về chính trị,
tinh thần của nhân dân; tăng cờng sự đoàn kết, hợp tác với các nớc trong phe xã hội chủ
nghĩa; mở rộng quan hệ hữu nghị với các nớc có chế độ chính trị khác nhau, với nhân
dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Cùng với việc xác định đờng lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc, Đại hội còn xác định vị trí, vai trò của cách mạng miền Bắc có ý nghĩa quyết định
nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nớc ta, đối với sự nghiệp thống nhất n-
ớc nhà. Đồng thời, Đại hội đã cụ thể hóa đờng lối chung bằng việc đề ra nhiệm vụ và
phơng hớng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 1965), nhằm xây dựng cơ sở vật chất
thiết bị hoặc phá hoại trớc khi rút đi, công nhân thát nghiệp là phổ biến; thơng nghiệp
và thủ công nghiệp cũng rơi vào tình trạng tê liệt không hoạt động hoặc hạot động kém
hiệu quả. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ cuối năm 1953 cũng chỉ mới thực hiên đợc
ở một số địa phơng thuộc vùng tự do. Đời sống các tầng lớp nhân dân vô cùng khó
khăn, có nhiều vùng xuất hiện tình trạng thiếu ăn, đói kém nghiêm trọng.
Nhận thức sâu sắc những thuận lợi và khó khăn của miền Bắc, đồng thời để tạo
tiền đề kinh tế - xã hội mở đờng đa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã mở các
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ sáu, lần thứ bảy, lần thứ tám và lần thứ mời
(khoá II), bàn nhiều vấn đề quan trọng liên quan đế sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc: Trong giai đoạn mới, toàn Đảng, toàn dân cần tập trung mọi nỗ lực
kinh tế đó là nhiệm vụ trọng tâm trớc mắt và khâu chính là nông nghiệp; tiến hành cải
cách ruộng đất ,thực hiện ngời cày có ruộng là nhiêm vụ trọng yếu; đồng thời phát triển
các lĩnh vực văn hóa, xã hội, củng cố Đảng và chính quyền dân chủ nhân dân, làm
nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản; củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, tạo
điều kiện đa miwnf Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Triển khai thực hiện nhiệm vụ trên, trong khôi phục kinh tế ở miền Bắc sau chiến
tranh, Đảng ta đã chỉ đạo toàn dân thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ. Trớc hét là nhiệm
vụ khôi phục sản xuất nông nghiệp và bớc đầu xây dng bộ phân kinh tế tập thể. Giai
cấp nông đan phấn khởi đợc giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của đế quốc và phong
kiến, lại đợc Đảng, chính phủ chia ruộng đất nên đã hăng hái vợt mọi khó khăn, ra sức
khai hoang phục hóa, chống hạn, đẩy mạnh sản xuất,tăng nhanh sản lợng lơng thực.
Tính đến năm 1957, sản lợng lơng thực ở miền Bắc đạt 4,2 triệu tấn, vợt mức trớc chiến
tranh thế giới lần thứ hai(1939) là 2,4 triệu tấn. Đời sống của nhân dân mà chủ yếu là
nông dân dần dần đi vào ổn định, đẩy lùi nạn đói. Về khôi phục sản xuất công nghiệp
và thủ công nghiệp, Đảng chủ trơng phải tập trung khôi phục và phát triển công nghiệp
trong phạm vi cần thiết và có khả năng phục vụ cho nông nghiệp. Do đó trong các năm
1955 đến năm 1957 hầu hết các cơ sở công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp quan trọng
nh: Mỏ than Hồng Gai, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy
điện Hà Nội, đi vào hoạt động có hiệu quả, công nhân phấn khởi trở thừnh ngời làm chủ
cơ sở sản xuất của mình. Đồng thời, Đảng và Nhà nớc chỉ đạo xây dựng thêm một số
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vững bớc tiến lên. Tháng 4 năm 1958, Hội nghị lần
thứ mời bốn Ban Chấp hành Trung ơng Đảng bàn về kế hoạch 3 năm (1958 1960)
cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công,
thành phần kinh tế t bản t doanh, ngời buôn bán nhỏ, đồng thời mở mang xây dựng cơ
bản, tăng cờng lực lợng của thành phần kinh tế quốc doanh.
Đảng chủ trơng tập trung sự lãnh đạo cải tạo toàn diện nền kinh tế xã hội, khâu
chính là cải tạo nông nghiệp bằng cách hợp tác hóa toàn bộ nông nghiệp, thực hiện hợp
tác hóa trớc khi cơ giới hóa, từ hợp tác hóa trong nông nghiệp làm đòn bẩy thúc đẩy và
phát triển các ngành kinh tế khác.
Mục đích cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa là để xác lập chế độ
công hữu về t hiệu sản xuất, dới hai hình thức chủ yếu: sở hữu nhà nớc (toàn dân) và sở
hữu tập thể, nhằm hình thành quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, cải thiện và nâng
cao đời sống nhân dân.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng trong khi lấy cải tạo là trọng tâm, phải tiến hành
đồng thời với xây dựng cải tạo để xây dựng và xây dựng phải kết hợp với cải tạo, thúc
đẩy cải tạo nhanh chóng hoàn thành.
Hớng phấn đấu đến năm 1960, nhân dân miền Bắc sẽ có đủ lơng thực, cớ thêm
rau, thịt, cá, đờng; tự cung cấp phần lớn hàng tiêu dùng, chủ yếu là vấn đề ăn , mặc,
học, đồ dùng gia đình; trình độ văn hóa và kỹ thuật đợc nâng dần; nạn thấp nghiệp do
chế độ vũ để lại sẽ đợc giải quyết căn bản.
Cụ thể hóa Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ mời bốn, Đảng ta
đã có các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí th chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cải
xã hội chủ nghĩa toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tạo nên phong trào sản
xuất sôi nổi trên toàn miền Bắc. Trong xu thế phát triển đó, tháng 4 năm 1959 Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ mời sáu (khóa II) họp, tập trung bàn về vấn đề hợp
tác hóa trong nông nghiệp và cải tạo xã hội chủ nghĩa với công thơng nghiệp t bản t
doanh.
Về hợp tác hóa nông nghiệp, hội nghị chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng lúc này là chuẩn
bị mọi mặt về đờng lối, chính sách, t tởng, tổ chức, cán bộ và kế hoạch để phát triển tổ
đổi công, mở mang hợp tác xã nông nghiệp một cách tích cực, vững chắc tiến tới cao
giáo dục, y tế luôn đợc Đảng, Nhà nớc quan tâm xây dựng. Tính đến cuối năm 1960,
miền Bắc đã căn bản xóa nạn mù chữ ở miền xuôi cho những ngời dới 50 tuổi. Hệ
thống giáo dục phổ thông đợc hoàn chỉnh và mở rộng, với số học sinh tăng 80% so với
năm 1957. Các trờng đại học và trung học chuyên nghiệp không ngừng mở rộng. Đến
năm 1960, miền Bắc có 9 trờng đại học, với 11,070 sinh viên (gấp 2 lần so với năm
1957). Hệ thống y tế hình thành căn bản trên khắp các địa phơng miền Bắc, bao gồm
các bệnh viện, bệnh xá, trạm y tế phục vụ nhân dân miễn phí.
Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trong những năm từ 1958 đến
1960. Đảng còn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền,
xây dựng Nhà nớc và các đoàn thể quần chúng. Các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ơng Đảng lần thứ mời bốn, lần thứ mời lăm đợc quán triệt toàn Đảng, trong
đó chú trọng khâu chỉnh đốn tổ chức, tăng cờng giáo dục lý luận Mác Lênin, cải tạo
t tởng, nhằm chống lại các quan điểm phản động, sai trái, làm cho Đảng trong sạch
vững mạnh cả về chính trị, t tởng và tổ chức. Tháng 12 năm 1959, Quốc hội nớc Việt
Nam dân chủ cộng hòa thông qua Hiến pháp mới. Ngày 1 tháng 1 năm 1960, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã công bố với toàn dân và thế giới bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu
tiên của nớc ta. Thông qua bầu cử dân chủ, Hội đồng Chính phủ, Hội đồng nhân dân
các cấp đã đợc mở rộng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nớc ngày
càng phát huy hiệu quả. Các tổ chức quần chúng nh Tổng liên đoàn lao động Việt Nam,
đoàn thanh niên lao động Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Mặt trận dân tộc
thống nhất đều đợc củng cố và hoạt động tích cực. Quân đội nhân dân Việt Nam nòng
cốt của nền quốc phòng toàn dân, trụ cột của chuyên chính vô sản đợc Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng từng bớc, tiến lên chính quy hiện đại.
Những thành tựu thu đợc trong sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh
tế, văn hóa ở miền Bắc (1958 1960), đã chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của
Đảng trong lãnh đạo và chỉ đạo toàn dân bắt tay vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội, tiến dần từng bớc vững chắc, phù hợp với thực tiễn đất nớc và trình độ nhận thức
của nhân dân.
3. Đảng lãnh đạo thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1961 1965).
- Đi đôi với phát triển kinh tế, cần ra sức củng cố quốc phòng, tăng cờng trật tự
an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu
của kế hoạch 5 năm là: Giá trị tổng sản lợng công nghiệp và thủ công nghiệp tăng
148% so với năm 1960, bình quân hàng năm tăng khoảng 20%. Về nông nghiệp, giá trị
tổng sản lợng dự tính tăng 10%. Về xây dựng cơ bản, Nhà nớc sẽ đầu t 5,1 tỷ đồng,
chiếm 48% ngân sách. Thu nhập thực tế bình quân đầu ngời đến năm 1965 tăng khoảng
30% so với năm 1960.
Triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm (1961 1965), Đảng ta đã liên tiếp họp
các Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ơng nhằm giải quyết các vấn đề hệ trọng
về phát triển kinh tế xã hội, từng bớc cụ thể hóa đờng lối của Đại hội III: Hội nghị
lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa III (7-1961) chủ trơng đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp toàn diện, giải quyết vấn đề lơng thực lúa nớc, coi trọng cây
công nghiệp, đẩy mạnh chăn nuôi. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ơng
Đảng (khóa III) (6-1962), bàn về phát triển công nghiệp. Hội nghị lần thứ mời Ban
Chấp hành Trung ơng Đảng (12-1964), bàn về công tác thơng nghiệp và giá cả ... Qua
các hội nghị nói trên, Đảng ta đã nghiên cứu phân tích, làm rõ mối quan hệ giữa ba
cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng t tởng
và văn hóa, cùng nhiều vấn đề quan trọng khác nh: tích lũy vốn ban đầu, mối quan hệ
giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng, giữa công
nghiệp và nông nghiệp, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp
Trung ơng và công nghiệp địa phơng.
Hởng ứng chủ trơng của Đảng, toàn thể nhân dân miền Bắc đã dấy lên phong
trào thi đua sôi nổi, tiến công vào nghèo nàn lạc hậu, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của
kế hoạch 5 năm.
Về nông nghiệp: Nổi lên phong trào thi đua học tập và tiến kịp hợp tác xã nông
nghiệp Đại Phong, tiến hành cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ
thuật. Nhiều công trình thủy lợi đợc xây dựng. Các nông trờng quốc doanh, trạm trại
cây trồng và chăn nuôi đợc đầu t xây dựng. Tỷ lệ sử dụng cơ khí trong nông nghiệp
tăng nhanh (số máy kéo năm 1965 tăng hơn 3,3 lần so với năm 1960). Những biện pháp
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nớc, xây dựng quân đội, xây
dựng con ngời mới, nền văn hóa mới không ngừng phát triển và phát huy hiệu quả phục
vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho chiến trờng miền
Nam.
Kế hoạch 5 năm (1961 1965) đang thực hiện có kết quả thì ngày 5 tháng 8
năm 1964, đế quốc Mỹ cho máy bay ném bom, bắn phá miền Bắc. Đến ngày 7 tháng 2
năm 1965, Mỹ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải
quân trên toàn miền Bắc Việt Nam. Nh vậy, kế hoạch 5 năm (1961 1965) mới thực
hiện đợc 4 năm phải tạm dừng, chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế xã hội
thời chiến. Nhng đánh giá toàn diện kế hoạch đã căn bản hoàn thành và có tác dụng to
lớn đối với cách mạng cả nớc, ngày càng tỏ rõ tính u việt của chế độ mới xã hội chủ
nghĩa.
4. Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong những năm
1965 1975)
a. Chủ trơng và sự chỉ đạo của Đảng chuyển hớng xây dựng miền Bắc, đánh
thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất từ 1965 đến 1968.
Tính đến năm 1965, miền Bắc đã có 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
điều kiện có hòa bình, thu đợc nhiều thành tựu to lớn. ở miền Nam, nhân dân ta đã đánh
bại chiến lợc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Thắng lợi đó làm cho đế quốc Mỹ
nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vì thế từ tháng 2
năm 1965 trở đi, một mặt. Mỹ ồ ạt đa quân viễn chinh vào miền Nam thực hiện chiến l-
ợc chiến tranh cục bộ, mặt khác, chúng dùng không quân và hải quân đánh phá miền
Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam.
Đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng cả nớc, Ban Chấp hành Trung ơng Đảng đã
liên tiếp mở hai Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ơng, Hội nghị lần thứ mời một
(3-1965), lần thứ mời hai (12-1965), xác định quyết tâm chiến lợc đánh Mỹ và thắng
Mỹ cho nhân dân cả nớc. Đối với miền Bắc, Đảng chủ trơng phải đánh bại chiến tranh
phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ
hàng đầu; động viên sức ngời, sức của đến mức cao nhất để chi viện cho cách mạng
miền Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.
Trong khu u tiên cho nhiệm vụ chiến đấu nhân dân miền Bắc thực hiện chủ trơng
của Đảng và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cờng bám trụ tiếp tục đẩy
mạnh sản xuất, với tinh thần " Mỗi ngời làm việc bằng hai", "làm ngày không đủ tranh
thủ làm đêm". Trong nông nghiệp vẫn duy trì đợc nhịp độ sản xuất liên tục theo thời vụ,
ngày càng có nhiều hợp tác xã, nhiều địa phơng đạt đợc "3 mục tiêu". Từ 7 huyện đạt
năng suất 5 tấn thóc trên 1 héc ta trong 2 vụ năm 1965, đã tăng lên 14 huyện vào năm
1966 và 30 huyện vào năm 1967 ... Trong công nghiệp, tuy bị máy bay địch đánh phá
nặng nề nhng công nhân vẫn ngày đêm bám máy duy trì sản xuất, vì thế năng lực sản
xuất ở một số ngành đợc giữ vững. Các cơ sở công nghiệp lớn đã kịp thời sơ tán và sớm
ổn định đi vào sản xuất, bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của quốc phòng và đời sống
nhân dân. Trên lĩnh vực thơng nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục, y
tế vẫn duy trì hoạt động và đạt hiệu quả cao. Trong đó, phải kể đến những cố gắng to
lớn của ngành giao thông vận tải. Hệ thống giao thông đờng bộ và đờng thủy, vận tải
Bắc Nam ngày đêm hoạt động liên tục, đạt hiệu suất vận tải cao. Bất chấp sự đánh
phá ác liệt của giặc Mỹ, trong 4 năm (1965 1968) hai tuyến đờng vận tải thủy, bộ
mang tên đờng mòn Hồ Chí Minh đã đa vào miền Nam hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội tham
gia chiến đấu giải phóng miền Nam, cùng với hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dợc, quân
trang, quân dụng, xăng dầu, lơng thực, thực phẩm, thuốc men và nhiều hàng hóa khác.
Với việc chỉ đạo kiên quyết toàn dân, toàn quân đánh thắng chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ, đồng thời chỉ đạo chuyển hớng xây dựng kinh tế miền Bắc trong hoàn
cảnh chiến tranh, đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo của Đảng không ngừng trởng thành.
Do đó, sức mạnh của hậu phơng miền Bắc xã hội chủ nghĩa ngày càng đợc tăng cờng và
chi viện có hiệu quả cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
b. Đảng lãnh đạo xây dựng miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại
lần thứ hai của đế quốc Mỹ từ năm 1969 đến năm 1973.
Từ khi Giônxơn buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn
phá miền Bắc (1-11-1968), song miền Bắc vẫn nằm trong hoàn cảnh cả nớc còn chiến
tranh ác liệt, hòa bình chỉ là tơng đối, vì đế quốc Mỹ vẫn ngang nhiên vi phạm lệnh
ngừng bắn. Chúng lén lút đột nhập và cho máy bay, tàu chiến bắn phá vùng giáp gianh
Vĩ tuyến 17 thuộc khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tính, Nghệ An ...
củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội đợc tăng cờng.
Những thắng lợi có ý nghĩa chiến lợc của quân và dân miền Nam trong Xuân
Hè 1970 và 1971, đặc biệt là thắng lợi trong cuộc tiến công chiến lợc năm 1972, đã làm
cho chiến lợc "Việt Nam hóa chiến tranh" của Nichxơn đứng trớc nguy cơ phá sản hoàn
toàn. Để cứu vãn tình thế, chính quyền Nichxơn huy động lực lợng lớn không quân và
hải quân ồ ạt đánh phá cả hai miền Nam Bắc.
Mục tiêu của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ vào miền
Bắc nhằm phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngăn chặn nguồn tiếp cận
của miền Bắc cho miền Nam, làm giảm ý chí chiến đấu của nhân dân ta, cứu nguy cho
Mỹ ngụy trên chiến trờng miền Nam, tạo thế mạnh trên bàn đàm phán tại Pari.
Thực hiện mục tiêu trên, ngày 6 tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ cho không quân
và hải quân trở lại đánh phá cùng Khu IV (cũ). Ngày 16 tháng 4 năm 1972, Nichxơn
tuyên bố chính thức mở rộng chiến tranh phá hoại lần thứ hai với miền Bắc, đe dọa
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.
Trớc tình hình đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng triệu tập cuộc
họp khẩn cấp (1-6-1972), xác định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc trong mọi
tình huống, tiếp tục chuyển hớng xây dựng kinh tế, đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu phù
hợp với thời chiến.
Thực hiện chủ trơng của Đảng, nhân dân miền Bắc nhanh chóng chuyển mọi
hoạt động sang thời chiến, chủ động sơ tán các cơ sở công nghiệp, trờng học, dân c ...
Duy trì sản xuất nông nghiệp nhằm bảo đảm lơng thực cho nhân dân và các lực lợng vũ
trang. Trên lĩnh vực công nghiệp, Đảng chỉ đạo phát triển công nghiệp địa phơng, công
nghiệp quốc phòng, đình hoãn những công trình lớn và tiến hành sơ tán an toàn. Duy trì
mạch máu giao thông vận tải, đặc biệt là hoạt động của tuyến đờng Hồ Chí Minh bảo
đảm thông suốt. Cùng với chuyển hớng xây dựng kinh tế, Đảng quan tâm đến công tác
t tởng, xây dựng quyết tâm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đánh thắng giặc Mỹ
xâm lợc, tiến hành kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nớc trong điều hành sản xuất và chiến
đấu phù hợp với thời chiến.
Trong lĩnh vực chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, quân và dân ta đã
giáng trả đích đáng các hoạt động leo thang chiến tranh của Mỹ. Trong cuộc chiến đấu
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai mơi của Ban Chấp hành Trung ơng
Đảng, nhân dân miền Bắc hăng hái lao động sản xuất, nhanh chóng ổn định tình hình
kinh tế, xã hội. Sau hai năm (1973 1974), về cơ bản miền Bắc đã khôi phục xong các
cơ sở kinh tế, các hệ thống thủy nông, giao thông vận tải, công trình văn hóa, giáo dục,
y tế. Nền kinh tế quốc dân bắt đầu có bớc phát triển tốt. Tổng sản phẩm xã hội năm
1973 cao hơn năm 1965, năm 1974 cao hơn năm 1973 là 12,4%. Sản lợng lúa năm
1973, 1974 đạt hơn 5 triệu tấn. Giá trị tổng sản lợng công nghiệp và thủ công nghiệp
năm 1974 tăng 15% so với năm 1973. Tổng khối lợng hàng vận chuyển năm 1974 tăng
30% so với năm 1973 và tăng 60% so với năm 1964.
Cùng với quá trình lao động khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển sản xuất,
nhân dân miền Bắc đã tích cực chi viện sức ngời, sức của cho cách mạng miền Nam,
chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nôi dậy (1974 1975). Trong hai năm (1973
1974) nhân dân miền Bắc đã đa vào miền Nam gần 20 vạn bộ đội; hàng vạn thanh niên
xung phong, cán bộ chuyên môn kỹ thuật. Đặc biệt trong 2 tháng đầu năm 1975, do yêu
cầu của cuộc tổng tiến công chiến lợc, miền Bắc gấp rút đa vào miền Nam 57.000 bộ
đội. Về vật chất, kỹ thuật, từ đầu mùa khô 1973 1974 đến đầu mùa khô 1974
1975, miền Bắc đã đa vào chiến trờng miền Nam hơn 26 vạn tấn hàng hóa, gồm vũ khí,
đạn dợc, xăng dầu quân trang, quân dụng và nhiều nhu yếu phẩm khác. So với năm
1972, số hàng chi viện trên gấp 9 lần, riêng dầu gấp 27 lần ...
Trong những năm 1973 đến đầu năm 1975, nhân dân miền Bắc đạt đợc nhiều
thành tựu to lớn, trong đó có nhiều mặt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo điều kiện
thuận lợi cho cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc vững vàng đi lên, đồng thời là nhân
tố quyết định tới sự nghiệp giải phóng miền Nam vào Xuân 1975.
III. Thành tựu, khuyết điểm và kinh nghiệm trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 1975)
1. Thành tựu, khuyết điểm và nguyên nhân.
a. Thành tựu
Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1954 đến năm 1975, trong hoàn
cảnh vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh; với bao khó khăn chồng chất, nhng dới sự
lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã giành đợc nhiều thành tựu to lớn: Chế độ xã
hiện miễn phí việc chữa bệnh cho nhân dân.
Sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lợng vũ trang nhân dân không
ngừng phát triển và phát huy tác dụng to lớn trong chiến tranh. Trật tự kỷ cơng xã hội
đợc giữ vững, ngời với ngời sống có nghĩa có tình, đoàn kết thơng yêu nhau, tấm lòng
hậu phơng và tiền tuyến, tinh thần dám xả thân vì Tổ quốc trở thành truyền thống tốt
đẹp của nhân dân miền Bắc ...
Hai là, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ, bảo vệ miền Bắc, làm tròn nhiệm vụ của hậu phơng đối với tiền tuyến lớn miền
Nam.
Với tinh thần" không có gì quý hơn độc lập tự do", quân và dân miền Bắc vừa
sản xuất, vừa chiến đấu đã đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và
hải quân của đế quốc Mỹ, bắn rơi 4.181 máy bay các loại, trong đó có 68 máy bay B52,
13 máy bay F111, diệt và bắt sống hàng ngàn giặc lái, bắn chìm, bắn cháy 271 tàu
chiến của Mỹ, đã buộc đế quốc Mỹ phải cam kết chấp nhận rút quân Mỹ về nớc, thừa
nhận độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nớc ta, ngừng ném bom miền Bắc, tạo
điều kiện cho nhân dân miền Nam vùng lên đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn.
Cùng với chiến đấu bảo vệ thành quả chủ nghĩa xã hội, nhân dân miền Bắc còn
làm tròn nhiệm vụ của hậu phơng lớn đối với cách mạng miền Nam và cách mạng Lào,
cách mạng Campuchia. Đúng nh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12-
1976) đã đánh giá: Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nớc và giữ nớc với toàn bộ sức
mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ văn cứ địa
cách mạng của cả nớc, xứng đáng là pháođài vô địch của chủ nghĩa xã hội. Nhân dân
miền Bắc đã lần lợt tiễn đa hàng chục vạn con em của mình vào Nam, sang Lào,
Campuchia đánh giặc. Hàng triệu tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, hàng hóa, nhu yếu phẩm
đợc chuyển vào các chiến trờng phía Nam. Khối lợng vận chuyển hàng hóa chi viện cho
tiền tuyến miền Nam ngày một tăng cao, đến năm 1975 đã vận chuyển đợc 1.400.000
tấn hàng hóa, vũ khí và 5.500.000 tấn dầu vào chiến trờng miền Nam, trong đó chuyên
chở hàng hóa cho cách mạng Lào, Campuchia hơn 583.000 tấn hàng hóa các loại. Năm
1974 vận chuyển số lợng hàng gấp 22 lần năm 1960. Mùa Xuân năm 1975, vận chuyển
đợc 413.450 tấn gấp đôi năm 1974. Từ 1960 đến đầu 1975 Đoàn 559 đã đa đón hơn hai
hội mà nhân dân ta đã tốn biết bao công sức để xây dựng nền, làm chậm tiến độ xây
dựng chủ nghĩa xã hội, làm đảo lộn nền nếp quản lý kinh tế.
Nguyên nhân chủ quan: Do bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện kém hiệu lực.
Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nớc và nhân dân ở từng cấp, từng đơn vị cha xác định rõ.
Mỗi bộ phận, mỗi tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản cha làm tốt chức năng
của mình. Pháp chế xã hội chủ nghĩa còn nhiều thiếu sót. Công tác xây dựng Đảng,
công tác cán bộ, công tác t tởng cha gắn chặt với phát triển kinh tế. Phơng pháp lãnh
đạo và công tác của Đảng ít đợc cải tiến. Công tác t tởng thiếu sắc bén, công tác đoàn
thể quần chúng cha thật sát với sản xuất và đời sống.
Nhìn chung, những thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
do Đảng lãnh đạo vẫn là cơ bản. Miền Bắc đã hình thành rõ nét mô hình xã hội mới
xã hội chủ nghĩa với đầy đủ tính u việt, bản chất tốt đẹp, đợc nhân dân thừa nhận và tin
tởng. Những thành tựu đó đặt trong hoàn cảnh miền Bắc phải đơng đầu với hàng triệu
tấn bom đạn của đế quốc Mỹ, đồng thời cùng một lúc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội,
vừa chi viện sức ngời, sức của cho đồng bào miền Nam đánh giặc, vừa gánh vác nghĩa
vụ quốc tế giúp cách mạng Lào, Campuchia thì những thành tựu đã đạt đợc thật sự là
những kỳ tích. Mặt khác, thử thách của chiến tranh càng làm sáng ngời giá trị nhân đạo,
nhân văn cao cả của chủ nghĩa xã hội do nhân dân ta dày công xây dựng nên. Đó chính
là nguồn sức mạnh vô tận để bảo đảm cho miền Bắc phát huy vai trò quyết định đối với
toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả nớc trong suốt 21 năm trờng kỳ lao động sản xuất
và chiến đấu.
2. Kinh nghiệm của quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc.
Một là, xác định mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội là vấn đề có ý
nghĩa quyết định toàn bộ quá trình phát triển của cách mãng ã hội chủ nghĩa.
Lý luận Mác Lênin đã chỉ rõ: Cách mạng vô sản là một úa trình phát triển liên
tục không ngừng qua nhiều giai đoạn khác nhau trong phạm vi một nớc cũng nh trên
phạm vi toàn thế giới. Sự kết thúc của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cũng là sự
mở đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tuy hai cuộc cách mạng ấy khác nhau về mục
đích, tính chất, nhiệm vụ nhng đầu nằm trong một quá trình phát triển không ngừng của
đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Nhận thức của cán bộ, đảng viên nói chung cha chuyển kịp trớc tình hình mới, do đó
lúc đầu chúng ta gặp nhiều khó khăn. Nhng điều quan trọng hơn cả, do Đảng sớm xác
định phơng pháp, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nên đã có
tác dụng to lớn đến xây dựng ý chí quyết tâm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vững
tin vào con đờng cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là cơ sở đánh bại mọi luận
điệu sai trái hòng phủ nhận tiến trình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
Hai là, phải có sự chỉ đạo chiến lợc đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ xây dựng
chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh.
Lý luận Mác Lênin đã chỉ rõ, giữa mục tiêu chiến lợc của cách mạng vô sản
với quá trình chỉ đạo chiến lợc có mối quan hệ biện chứng, tác động thúc đẩy lẫn nhau,
trong đó chỉ đạo chiến lợc có vai trò đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến thành
bại của cách mạng, đồng thời nó là lĩnh vực đòi hỏi chính đảng của giai cấp vô sản phải
hết sức linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo mới có khả năng hoàn thành thắng lợi những
mục tiêu, nhiệm vụ lớn lao do đờng lối chiến lợc đã đề ra.
Trung thành với mục tiêu lý tởng chủ nghĩa xã hội, trong suốt quá trình chỉ đạo
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng ta đã không ngừng cụ thể hóa các mục
tiêu chiến lợc, đồng thời phát triển đờng lối phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng
giai đoạn cách mạng. Thực tiễn đã chứng minh, thời kỳ mở đầu của cách mạng xã hội
chủ nghĩa, Đảng ta đã đề ra chủ trơng đúng đắn: đặt nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn
gắn vết thơng chiến tranh là vấn đề có ý nghĩa tiên quyết, để tạo cơ sở kinh tế xã hội
cho bớc tiếp theo là cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Qua đó chẳng
những làm cho nền kinh tế nớc ta mau chóng hồi phục, mà còn có điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển về sau, tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, bảo đảm không ngừng cải thiện đời sống nhân dân.
Thành công nổi bật trong chỉ đạo chiến lợc của Đảng thể hiện sâu sắc trong quá
trình chuyển hớng xây dựng kinh tế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
trong hoàn cảnh miền Bắc có chiến tranh (1965 1973). Thực tế trong những năm đế
quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn
vào miền Bắc, Đảng đã bình tĩnh, chủ động, sáng suốt chỉ đạo chuyển hớng về mọi mặt
Cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản lãnh đạo là một cuộc cách mạng
diễn ra trên quy mô rộng lớn cha từng thấy trong lịch sử nhân loại, nó trải qua nhiều
thời kỳ, chặng đờng khác nhau trên con đờng tiến tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản. Vì vậy, các nhà kinh điển Mác Lênin luôn luôn căn dặn những ngời cộng
sản phải đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể để đa ra các quyết định chính xác,
vừa bảo đảm thắng lợi của từng giai đoạn cách mạng, đồng thời giữ vững tính liên tụ và
sự phát triển không ngừng của cách mạng vô sản. ý thức đợc điều đó, ngay từ khi bắt
tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
sớm xác định chủ trơng đa miền Bắc tiến dần từng bớc vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Trong đó, Đảng chú trọng đột phá vào lĩnh vực nông nghiệp làm chuyển biến tình hình
sản xuất lơng thực, thực phẩm để giữ vững ổn định từng bớc cải thiện đời sống nhân
dân, qua đó tạo cơ sở vững chắc để tiến hành phát triển công nghiệp, thơng nghiệp, xây
dựng văn hóa, y tế và các lĩnh vực xã hội khác. Theo phơng hớng đó, mời năm đầu xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955 1965), Đảng đã duy trì nhịp độ phát triển
kinh tế tơng đối vững chắc, xã hội và con ngời đều đổi mới. Nhng sau đó, do tác động
của quy luật chiến tranh, cùng với những hạn chế trong nhận thức, nôn nóng chủ quan
muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ quan muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã
hội, chúng ta đã phạm phải một số sai lầm thiếu sót nh: thực hiện kế hoạch phát triển
công nghiệp tràn lan, không tính đến hiệu quả kinh tế thiết thực; cha tạo ra cơ cấu kinh
tế kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp với nông nghiệp; nhiều phơng hớng và biện pháp
lớn trong cải tạo xã hội chủ nghĩa với nông nghiệp cha phản ánh đúng tình hình; nôn
nóng đa mô hình hợp tác xã nông nghiệp lên bậc cao khi điều kiện bảo đảm cha cho
phép; quy mô quản lý kinh tế ngày càng lớn kéo theo tình trạng bao cấp mở rộng, phân
phối lu thông thiếu tính khả thi không có tác dụng kích thích ngời lao động ... Tuy
nhiên, xét trên lĩnh vực kinh tế thì đó là những hạn chế kìm hãm sự phát triển sản xuất,
nhng đặt hoàn cảnh miền Bắc có chiến tranh, phải dốc toàn bộ sức lực để đánh trả giặc
Mỹ bắn phá mang tính chất hủy diệt và đặt lên hàng đầu nhiệm vụ đánh giặc cứu nớc,
thì những hạn chế, yếu kém trên là khó trách khỏi. Điều quan trọng hơn cả là phơng h-
ớng đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc không bị chệch hớng, đồng thời nó đã tỏ rõ sức
mạnh vô địch của chế độ mới xã hội chủ nghĩa, làm tròn một cách xuất sắc nhiệm vụ
Thờng vụ Quốc hội nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa hợp phiên đặc biệt bàn việc thống
nhất nớc nhà và cử đoàn đại biểu hiệp thơng với đoàn đại biểu miền Nam. Tháng 11
năm 1975, ủy ban Trung ơng Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ủy ban
Trung ơng Liên minh các lực lợng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam, Hội đồng Vố
vấn Chính phủ và đại biểu nhân sỹ, trí thức đã họp hội nghị liên tịch bàn thống nhất nớc
nhà và cử đoàn đại biểu hiệp thơng với đoàn đại biểu miền Bắc.
Từ ngày 15 đến ngày 21 tháng 11 năm 1975, Hội nghị hiệp thơng chính trị của
hai đoàn đại biểu Bắc, Nam họp tại Sài Gòn ra thông báo khẳng định: Nớc Việt Nam,
dân tộc Việt Nam là một, nớc nhà cần sớm thống nhất về mặt Nhà nớc.
Thực hiện chủ trơng thống nhất nớc nhà về mặt Nhà nớc của Đảng, ngày 25
tháng 4 năm 1976, đã tiến hành Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung của nớc Việt Nam
thống nhất.
Từ ngày 24 tháng 6 năm 1976 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976, kỳ họp thứ nhất
Quốc hội của nớc Việt Nam thống nhất đã họp tại Thủ đô Hà Nội. Quốc hội quyết định
đặt tên nớc ta là nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyết định quốc kỳ, quốc
huy, quốc ca, Thủ đô là Hà Nội, thành phố Sài Gòn đợc mang tên là thành phố Hồ Chí
Minh. Quốc Hội bầu Chủ tịch và các Phó Chủ tịch nớc, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tớng
Chính phủ và các thành viên Chính phủ.
Tháng 6 năm 1976, các tổ chức quần chúng: thanh niên, phụ nữ, công đoàn và
Mặt trận Tổ quốc cũng họp hội nghị hợp nhất, thống nhất cơ quan lãnh đạo trong toàn
quốc, hoàn thành thống nhất nớc nhà về mặt Nhà nớc.
2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12-1976).
Sau khí hoàn thành thống nhất nớc nhà về mặt Nhà nớc, tháng 12 năm 1976, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã họp tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông
qua Báo cáo Chính trị, phơng hớng nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ hai
(1976 1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng,
bầu Ban Chấp hành Trung ơng mới.
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm cơ bản của đất nớc khi bớc vào thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Báo cáo chính trị vạch ra đờng lối chung cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta trong giai đoạn mới là: "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy mạnh
nhân dân ta đã chọn, xác định đờng lối chung, đờng lối kinh tế cho cả nớc đi lên chủ
nghĩa xã hội.
3. Đảng chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
trong những năm 1976 1979.
a. Về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Sau 30 năm chiến tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc, nguyện vọng
thiết tha của nhân dân ta là đợc sống trong hòa bình để xây dựng đất nớc, tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Nhng do sự phản bội của tập đoàn Pôn pốt ở Campuhia, chúng đã thi hành
chính sách cực kỳ phản động ở trong nớc và gây chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam
Tổ quốc ta.
Ngày 3 tháng 5 năm 1975 chính quyền Pôn pốt cho quân đổ bộ lên đảo Phú
Quốc và sau đó chiếm đảo Thổ Chu của ta. Tháng 4 năm 1977, họ coi Việt Nam là kẻ
thù số một tiến hành chiến tranh quy mô lớn chống Việt Nam ...
Trớc hành động thù địch của tập đoàn Pôn pốt đối với cách mạng nớc ta, Đảng và
Chính phủ Việt Nam nhiều lần đề nghị hai bên cùng đàm phán để giải quyết bằng con
đờng thơng lợng, nhng họ đã khớc từ.
Để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từ đầu tháng 12
năm 1977 đến đầu tháng 1 năm 1979, quân và dân ta đã mở chiến dịch lớn đánh đuổi
quân Pôn pốt ra khỏi đất nớc. Đồng thời theo lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc
cứu nớc Campuchia, quân và dân ta đã giúp đỡ nhân dân Campuchia nổi dậy đánh đổ
chính quyền phản động Pôn pốt. Hành động chính đáng của quân tình nguyện việt Nam
một lần nữa thể hiện tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung, vì lợi ích của hai dân
tộc. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, Thủ đô Nông Pênh đợc giải phóng, nhân dân
Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Ngày 18 tháng 2 năm 1979, Việt Nam và
Campuchia ký Hiệp ớc hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Theo nội dung Hiệp ớc, Quân đội
Việt Nam tiếp tục ở lại Campuchia để cùng với bạn bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của cả hai nớc,
Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng có mối quan hệ hữu nghị, truyền
thống lâu đời với nhau. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nhng ngời cộng sản và nhân dân hai nớc đã đoàn kết, ủng hộ giúp đỡ lẫn
trong công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp nhng không phù hợp với thực tiễn lúc đó.
Mô hình hợp tác xã, tập thể hóa đợc đẩu tới trình độ cao, bộc lộ những nhợc điểm của
nó. Tình trạng thất thoát, mất mắt, t hao tiền vốn, tài sản cố định trong các hợp tác xã
trở nên phổ biến. Tình hình đó làm cho nông dân trễ nải trong công việc hợp tác xã,
hiện tợng ruộng đất bị bỏ hoang, xã viên không thiết tha với đồng ruộng ra thành thị tìm
việc làm ngày càng nhiều ... Từ cuối những năm 1970 đã xuất hiện hiện tợng "khoán
chui" ở một số nơi.
Tháng 8 năm 1977 Ban Bí th ra chỉ thị 15 về việc làm thí điểm cải tạo xã hội chủ
nghĩa đối với nông nghiệp ở miền Nam.
Từ cuối năm 1978 đến cuối năm 1980. phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở
miền Nam đợc đẩy mạnh. Tính đến tháng 7-1980 toàn miền Nam đã xây dựng đợc
1.518 hợp tác xã, 9.350 tập đoàn sản xuất, thu hút 35,6% nông dân vào làm ăn tập thể.
Các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đến đầu năm 1979 đã căn bản hoàn thành
việc đa nông dân vào làm ăn tập thể dới hai hình thức: hợp tác xã và tập đoàn sản xuất.
ở Nam Bộ đã lập đợc 12.246 tập đoàn sản xuất.
Trong những năm 1976 1980 trên phạm vi cả nớc, đầu t cho nông nghiệp
không ngừng tăng lên (chiếm tỉ trọng từ 19%-23%) nhng năng suất lúa, sản lợng lơng
thực giảm mạnh, không đáp ứng nhu cầu trong nớc. Nhà nớc buộc phải nhập khẩu lơng
thực ngày càng lớn.
Về phát triển sản xuất công nghiệp, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của
Đảng đề ra cho ngành công nghiệp phấn đấu đến năm 1980 đạt các chỉ tiêu sau: 10
triệu tấn than, 5 tỷ KW giờ điện, 2 triệu tấn xi măng, 1,3 triệu tấn phân bón hóa học,
25-30 vạn tấn thép, 450 triệu mét cải, 13 vạn tấn bông ... Trong vài năm đầu công
nghiệp phát triển đều, nhng sau đó tụt dần xuống. Tốc độ tăng bình quân hàng năm thời
kỳ 1976 1980 là 0,6%. Các mục tiêu do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đề ra
đều không đạt. Tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân hàng năm là 1,4%, thu nhập quốc
dân tăng 0,4%, trong khi đó dân số tăng 2,24% một năm.
Nền kinh tế nớc ta thời kỳ 1976 1980 có chiều hớng đi xuống. Từ cuối những
năm bảy mơi của thế kỷ XX, nớc ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội; sản
xuất trì trệ, năng suất, chất lợng, hiệu quả thấp; giá cả tăng vọt, đồng tiền mất giá; đời
Tình hình trong nớc và thế giới đặt ra đòi hỏi Đảng phải tìm tòi, đổi mới. Từ năm
1979 đến năm 1985 là thời kỳ đổi mới từng phần, có vị trí rất quan trọng đối với quá
trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
1. Đảng lãnh đạo đổi mới từng phần từ năm 1979 đến năm 1981.
Mở đầu của quá trình đổi mới từng phần là Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ơng khóa IV (8-1979), họp bàn về những vấn đề cấp bách về kinh tế xã hội và
sản xuất hàng tiêu dùng. Hội nghị đã có những đổi mới t duy quan trọng, thể hiện trên
những nội dung cơ bản sau:
Trớc hết, hội nghị đã nhìn thẳng vào sự thật, vạch rõ những khuyết điểm, sai lầm
trong lãnh đạo kinh tế: xây dựng kế hoạch tập trung quan liêu, cha kết hợp chặt chẽ kế
hoạch hóa với sử dụng thị trờng, cha sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, cha khắc
phục sự bảo thủ, trì trệ trong việc xây dựng các chính sách kinh tế cụ thể
Hai là, hội nghị chủ trơng phải ban hành các chính sách phát triển sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Trớc hết là sản xuất nông
nghiệp, với các chính sách nhằm ổn định mức nghĩa vụ lơng thực trong 5 năm, phần
còn lại bán cho nhà nớc với giá thỏa thuận và đợc tự do lu thông.
Ba là, hội nghị xác định rõ: Phải tận dụng các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh, tập thể kể cả t bản t nhân đợc kinh nghiệm hợp pháp để tận dụng mọi khả năng
lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật, trình độ quản lý, nhằm phát triển sản xuất.
Bốn là, về cải tạo đối với nông nghiệp ở miền Nam phải nắm vững phơng châm
tích cực và vững chấc, hiện nay phải nhấn mạnh tính vững chắc, chống t tởng nóng vội,
chủ quan, cỡng ép theo mệnh lệnh, làm ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống của
nhân dân.
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (khóa IV), đánh dấu bớc
mở đầu của quá trình tìm tòi đổi mới của Đảng về con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở n-
ớc ta. Tuy cha toàn diện, đầy đủ nhng đó là bớc mở đầu có ý nghĩa quan trọng. T tởng
cơ bản của nghị quyết là "làm cho sản xuất bung ra", khắc phục những khuyết điểm, sai
lầm trong lãnh đạo, quản lý kinh tế, sử dụng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
và tập thể để phát triển sản xuất, ổn định cải thiện đời sống nhân dân. Nghị quyết ra đời
đợc nhân dân cả nớc hồ hởi đón nhận, bớc đầu phát huy tác dụng tích cực. Nhng sau