Chương I
MIỀN BẮC ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ - DIỆM CƯỠNG ÉP ĐỒNG
BÀO DI CƯ, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, KHÔI PHỤC
KINH TẾ, CẢI TẠO QUAN HỆ SẢN XUẤT, MIỀN NAM ĐẤU TRANH
CHỐNG CHẾ ĐỘ MỸ - DIỆM GÌN GIỮ HOÀ BÌNH (1954 - 1960)
I. TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 VÀ NHIỆM VỤ
CÁCH MẠNG TRONG THỜI KỲ MỚI
1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954
Hiệp định Genève (21-7-1954) về Đông Dương được ký kết đã chấm dứt cuộc
chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đối với ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
Đây là một thắng lợi to lớn của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung và Việt
Nam nói riêng sau gần 9 năm kháng chiến gian khổ. Ngoài việc thủ tiêu ách thống trị
của thực dân Pháp gần một thế kỷ trên đất nước ta, thắng lợi này còn là một đòn
mạnh đánh vào âm mưu mở rộng và kéo dài chiến tranh Đông Dương của đế quốc
Mỹ.
Theo Hiệp định Genève, việc ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao
khu vực được thi hành trong vòng 300 ngày, kể từ ngày 21-7-1954. Tuy nhiên, ngay
từ những ngày đầu, đế quốc Mỹ, bọn phản động Pháp và chính quyền tay sai Ngô
Đình Diệm tìm mọi cách gây khó khăn và phá hoại việc thi hành các điều khoản của
Hiệp định Genève, như cố tình khiêu khích, trì hoãn việc ngừng bắn trên các chiến
trường; tiến hành dụ dỗ và cưỡng bức gần 1 triệu đồng bào miền Bắc, chủ yếu là
đồng bào Thiên Chúa giáo, di cư vào Nam; tháo dỡ, mang đi hoặc phá hoại máy móc,
dụng cụ, tài sản công cộng nhằm làm tê liệt và gây khó khăn cho ta trong việc tiếp
quản vùng giải phóng ở miền Bắc; cài lại hàng ngàn gián điệp, hàng trăm nhóm phản
động cùng với các toán biệt kích được tung ra miền Bắc phá hoại các cơ sở kinh tế,
các công trình công cộng. Các phần tử tay sai, các đảng phái phản động lén lút kích
động quần chúng, gây bạo loạn ở một số địa phương, tung truyền đơn, tài liệu xuyên
tạc chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nhằm lung lạc
quần chúng, gây hoang mang dao động trong nhân dân.
Về phía Việt Nam, với chủ trương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève,
ngày 22-7-1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh cho các lực
khai vừa bí mật. Đó là một đảo lộn lớn, một tình thế nguy hiểm đối với cách mạng ở
miền Nam. Sự thay đổi đó tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm đồng bào, đồng chí
hai miền Bắc - Nam và đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới vô cùng
khó khăn.
2. Nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới
Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước
sau Hiệp định Genève 1954 như đã đề cập; đồng thời cũng xuất phát từ chính sách
của Mỹ đi từ can thiệp đến xâm lược Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương được Mỹ đặc biệt quan tâm. Vì đây là
một hướng chiến lược quan trọng nhằm bao vây các nước xã hội chủ nghĩa (trước hết
là Liên Xô và Trung Quốc) từ hướng Đông và chống lại các trào lưu cách mạng ở
khu vực Đông Nam Á. Đây là vùng được thiên nhiên ưu đãi có dư thừa các tiền đề
vật chất (tài nguyên và nhân lực), chứa đựng một tiềm năng phát triển to lớn chưa thể
lường trước được. Đây còn là nơi có các tuyến đường hàng hải (Bắc - Nam và Tây -
Đông) vận chuyển phần lớn hàng hoá của “thế giới tự do” mà Mỹ cần phải bảo vệ.
Vì vậy, ngay khi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp (1945 -
1954) đang diễn ra, Mỹ đã bằng mọi cách giúp Pháp tránh được thất bại. Theo nhãn
quan của các nhà chiến lược Mỹ, cuộc kháng chiến của Việt Nam đang uy hiếp trực
tiếp quyền lợi của chủ nghĩa đế quốc ở vùng Đông Nam Á. Tổng thống Mỹ
Eisenhower đã lập luận rằng nếu để Việt Nam và Đông Dương rơi vào tay cộng sản
thì không chỉ Đông Nam Á mà "chuỗi đảo phòng thủ gồm Nhật Bản, Đài Loan, Phi-
líp-pin và hướng về phía Nam, nó chuyển sang ... cả Úc và Tân Tây lan"
1
đều bị đe
1
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987,
tr 18.
2
dọa. Mặt khác, Mỹ còn coi Việt Nam và Đông Dương có một vị trí quan trọng ở châu
Á . Theo giới cầm quyền Mỹ, nếu coi Đông Nam Á là cái ổ khóa để mở cửa đi vào
.
Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo một số nước (Anh, Pháp, Niu Dilân, Ôxtrâylia,
Philippin, Thái Lan và Pakixtan) lập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam Á”
(SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này.
Như thế, miền Nam Việt Nam từ sau khi ký kết Hiệp định Genève, tồn tại ba
lực lượng chính trị, quân sự chủ yếu là: Pháp (và các thế lực thân Pháp), Mỹ (và các
thế lực thân Mỹ) và các lực lượng cách mạng miền Nam. Pháp và các lực lượng thân
Pháp nhanh chóng bị gạt bỏ, còn lại hai lực lượng đối lập nhau gay gắt: Mỹ - Diệm
và nhân dân miền Nam.
Về phía Việt Nam, ngay khi Hội nghị Genève đang đi vào hồi kết, ngày 17-7-
1954, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp ở Việt Bắc. Hội nghị
đã thảo luận và nhất trí với đường lối và chủ trương mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh
1
Trần Bá Đệ. Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000, tr
310.
2
Hoàng Tùng. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1974, tr 18.
3
nêu ra. Hội nghị nhận định: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại
hoà bình ở Đông Dương ... và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân
dân Đông Dương”
1
. Hội nghị quyết định: “Thay đổi phương châm, chính sách và
sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi mục đích trước mắt. Đây là
một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng mục
đích của cách mạng vẫn là một”
2
.
Đầu tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã kịp thời ra nghị quyết về "Tình hình mới,
dân trong cả nước, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân
chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mỗi chiến lược cách mạng nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể riêng của
từng miền, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít, tạo điều kiện cho nhau cùng
phát triển. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựng
1
Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15 (1954). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 225.
2
Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15 (1954). Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 226.
3
Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15 (1954). Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 287.
4
Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 16 (1955). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002, tr.
576-577.
4
cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, mà còn nhằm giải phóng miền
Nam và đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước sau khi đất nước thống nhất. Cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam vừa có nhiệm vụ giải phóng miền Nam, vừa có
nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc. Phải dùng sức mạnh của cả nước để giải phóng miền
Nam, đồng thời cũng sử dụng sức mạnh của cả nước để bảo vệ và xây dựng miền
Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng đồng thời
cũng là mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến. Thắng lợi giành được ở mỗi
miền là thắng lợi chung của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc. Đây là
đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta trong giai đoạn lịch
sử 1954 - 1975.
Như vậy, về phía Mỹ do yêu cầu chiến lược phải ngăn chặn bằng được lực
lượng cách mạng ở Đông Nam Á và chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ đã
chọn Việt Nam làm điểm then chốt; còn một bên là các lực lượng cách mạng mà
nhân dân Việt Nam là đội xung kích, cần phải đẩy lùi chủ nghĩa đế quốc ra khỏi vị trí
Hoàng Tùng. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1974, tr 18.
5
Tại các vùng tự do cũ, tuy nông nghiệp và công nghiệp được chú ý phát triển,
nhưng quy mô nhỏ bé, kỹ thuật lạc hậu. Do đó, năng suất thấp, không đáp ứng được
nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên trong thời bình. Cuộc cải cách ruộng
đất bắt đầu từ năm 1953 cũng chỉ mới thực hiện ở một số địa phương thuộc vùng tự
do. Chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vẫn tồn tại. Giai cấp
nông dân tuy đã đã được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân, nhưng vẫn còn
bị giai cấp địa chủ bóc lột, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất.
Sau khi hòa bình lập lại, nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng đặt ra. Số người mù
chữ rất đông. Hệ thống y tế nhỏ bé, lạc hậu. Các bệnh xã hội như lao phổi, hoa liễu,
sốt rét... hoành hành. Các tệ nạn mại dâm, nghiện hút, cướp giật, cờ bạc ... phổ biến
khắp nơi. Hàng trăm ngàn người thất nghiệp, lâm vào đói kém, 240.000 tề ngụy rã
đám chưa qua cải tạo, 11.000 phỉ vẫn tác oai, tác quái ở vùng cao.
Một tình hình nghiêm trọng hơn là địch cưỡng ép, dụ dỗ đồng bào miền Bắc,
chủ yếu là tín đồ Thiên Chúa giáo di cư vào Nam. Thực ra, âm mưu này của Mỹ đã
có từ trước: ''Ngay từ khi vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương
còn đang đàm phán, Tổng thống Mỹ Aixenhao đã lớn tiếng hô hào: Nếu Hội nghị
Giơnevơ đi đến ký kết, sẽ tổ chức một cuộc di cư có kế hoạch người Việt Nam từ Bắc
vào Nam”
1
.
Để gây hoang mang và thúc ép đồng bào bỏ nhà cửa tài sản di cư vào Nam,
Mỹ - Pháp cho tay sai tung tin bịa đặt tuyên truyền luận điệu rằng Chính phủ Việt
Minh cấm đạo, Chúa đã vào Nam, là con chiên ngoan đạo thì phải theo Chúa để được
yên phần xác lẫn phần hồn, ở với cộng sản sẽ bị mất linh hồn... Chúng còn đe dọa
chiến tranh sẽ trở lại, Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống Hà Nội, Đồng Hới, Vĩnh
Linh... Mặt khác, Mỹ cung cấp phương tiện chuyên chở, "Mỹ đã đưa một đoàn 19
máy bay và một đoàn 41 tàu thủy để chuyên chở những người bị cưỡng ép di cư này
2. Đấu tranh chống Mỹ - Diệm cưỡng ép đồng bào di cư
Ngay sau Hiệp định Genève, ngày 23-7-1954, Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các
Tổng trưởng và Bộ trưởng, Ủy ban bảo vệ Bắc Việt, Đại biểu Chính phủ ở Trung
Việt, Đổng lý Văn phòng Đức Quốc trưởng tại Đà Lạt ”Cần phải tổ chức gấp rút
chuyển vào Trung và Nam dân chúng và tài sản công”, trong đó ưu tiên trước hết là
ngân khố, sau là quân đội chính quy và địa phương quân và gia đình, công chức và
gia đình. Về “dân chúng, lưu ý trước tiên đến những phần tử chuyên nghiệp (thợ
chuyên môn) và những phần tử có khả năng sản xuất”
1
. Tiến hành chính sách cưỡng
ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, đế quốc Mỹ và tay sai nhằm mục đích cơ bản
sau:
Một là, về mặt chính trị, đối với thế giới, Mỹ và tay sai cố tạo ra dư luận xấu
về chế độ ta ở miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với
cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta, tạo ra ảnh hưởng xấu của cách
mạng Việt Nam đối với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tờ Revue Socialist
(Pháp) ra ngày 2-11-1954 viết: “Cuộc di cư này trước hết là một hành động chính
trị, nhằm làm cho dư luận thế giới ngỡ rằng nhân dân Việt Nam chán ghét Việt Minh
và chủ nghĩa cộng sản”
2
. Tuy nhiên, âm mưu của Mỹ - Diệm đã bị báo chí phương
Tây vạch mặt: “Sự thật, đại đa số nhân dân Việt Nam đều biểu lộ cảm tình của mình
đối với Việt Minh”
3
.
Hai là, về kinh tế - xã hội, đối với miền Bắc, Mỹ - Diệm hy vọng rút được
một số lượng trí thức, công nhân kỹ thuật vào Nam, tạo ra những xáo động lớn, phá
hoại sản xuất, làm cho miền Bắc không ổn định về kinh tế, khiến cho lòng người ly
tán, nội bộ lục đục, gây khó khăn cho ta trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và
hàn gắn vết thương sau chiến tranh. Đối với miền Nam, vùng bị tạm chiếm, dân di cư
.
Ba là, ở miền Nam, với số người di cư, địch nhằm “thăng bằng sự chênh lệch
giữa dân số miền Bắc 12 triệu và dân số miền Nam 11 triệu”. Nghĩa là “tăng thêm
hy vọng của thắng lợi tổng tuyển cử đối với những lãnh tụ quốc gia”
3
; đồng thời tạo
ra cơ sở xã hội vững chắc cho chế độ Ngô Đình Diệm. Đồng bào di cư là nguồn nhân
lực quan trọng đáng kể để xây dựng ngụy quân, củng cố ngụy quyền. Tờ Le Monde
(Pháp), ra ngày 29-11-1954, viết: “Nhà cầm quyền miền Nam quyết tuyển mộ binh
lính trong số những người miền Bắc di cư; họ xem số người miền Bắc như là một
khối dự trữ cho quân đội của họ, cho những tổ chức chính trị của họ, trong khối dự
trữ đó, họ mộ được những tay chân cuồng tín”
4
và “Thanh niên công giáo di cư sẽ
là nguồn bổ sung cho một đội quân nguỵ dự kiến là 10 sư đoàn ... Mỹ - Diệm hy vọng
rằng một quân đội gồm phần lớn là người công giáo sẽ có một tinh thần chống cộng
mạnh mẽ”
5
.
Để thực hiện việc cưỡng ép đồng bào di cư, Mỹ - Diệm cho thành lập “Phủ
Tổng ủy di cư tị nạn”, với nhiệm vụ điều khiển việc di cư từ Bắc vào Nam. Bên cạnh
”Phủ Tổng ủy di cư tị nạn”, một tổ chức cứu trợ di cư cũng được thành lập do Linh
mục Phạm Ngọc Chi đứng đầu. Tiếp theo, Ngô Đình Diệm còn thành lập “Ủy ban di
cư Bắc Việt” lo việc huấn luyện gián điệp, tổ chức hoạt động dụ dỗ, cưỡng bức di cư.
Chính đế quốc Mỹ đã cung cấp nhiều phương tiện vận tải, tiền bạc, thuốc men, lương
thực, thực phẩm và cử Hồìng y Spellman, Tổng tuyên uý trong quân đội Mỹ sang
Việt Nam để chỉ đạo chiến dịch này. Ngày 2-8-1954, Ngô Đình Diệm đích thân ra Hà
Nội kiểm tra công việc tổ chức di cư. Diệm đã trắng trợn tuyên bố rằng: “Tôi sẽ
hướng mọi nỗ lực của tôi vào công việc tổ chức di cư”
6
1
để cưỡng ép giáo dân
di cư vào Nam.
Đối tượng mà Mỹ - Diệm tập trung cưỡng ép di cư vào Nam bao gồm ngụy
binh và gia đình của họ, giáo dân, thanh niên, công chức, giáo viên và những người
trí thức, nhà chuyên môn... Và để cưỡng bức được nhiều đồng bào di cư vào Nam,
cuối tháng 7-1954, địch đóng cửa Ngân hàng Đông Dương, không cho rút tiền ra.
Sang tháng 8, địch chuyển tiền vào Nam, buộc những người có tiền gửi ngân hàng
phải vào Sài Gòn để lĩnh, v.v..
Cùng với các biện pháp trên, Mỹ - Diệm còn sử dụng quân đội, công an, cảnh
sát để càn quét, khủng bố bắt ép nhân dân di cư. Tại thôn Vạn Lộc (Quảng Bình),
địch dùng máy bay thả bom, bắn đạn cháy 34 nhà cùng tất cả tài sản, làm 4 người
chết, 439 người bị bắt đi. Tại Thanh Giã và Giã Khê (Bắc Giang), ngày 29-7-1954,
Mỹ - Diệm đã lừa bắt nhân dân xếp đầy 100 xe chở đi mà không ai kịp lấy quần áo,
gạo thóc. Tại Móng Cái, ngày 31-7-1954, chúng đã bắt hơn 1000 người,... Không chỉ
ở nông thôn mà cả những thành phố lớn, như Hà Nội, Hải Phòng,... địch cũng sử
dụng lực lượng quân sự, công an, cảnh sát,... để vây ráp, bắt nhân dân di cư. Ngày
20-8-1954, chúng vây Quảng Bá (Hà Nội) bắt 20 người; ngày 25-8-1954, vây bãi
Phúc Xá (Hà Nội) bắt 50 người,... Việc dùng bạo lực cưỡng ép di cư diễn ra phổ biến
khắp miền Bắc, nhất là những địa phương có đông tín đồ Thiên Chúa giáo.
Nắm bắt kịp thời âm mưu của Mỹ - Diệm về chính sách cưỡng ép đồng bào
miền Bắc di cư vào Nam, ngày 5-9-1954, Ban Bí thư ra chỉ thị nêu rõ: “Cuộc đấu
tranh chống địch bắt ép một số nhân dân ta vào Nam... là một cuộc đấu tranh chính
trị gay go và cấp bách. Các cấp uỷ Đảng phải nhận rõ tính chất và ý nghĩa quan
trọng của cuộc đấu tranh này”
2
. Tiếp theo, ngày 6-11-1954, Ban Bí thư ra tiếp chỉ
thị và nhấn mạnh rằng: “Địch đang theo đuổi một âm mưu rất thâm độc để phá
chúng ta. Các cấp ủy phải coi cuộc đấu tranh chống địch ngụy bắt dân di cư vào
Nam là một cuộc vận động chính trị to lớn, một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt với
cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư.
Thực hiện chủ trương của Đảng, trên nhiều địa phương ở miền Bắc, các Ban
chỉ đạo chống cưỡng ép di cư được thành lập, hàng vạn cán bộ, bộ đội được huy
động về giúp các địa phương vận động quần chúng đấu tranh, vạch trần âm mưu và
thủ đoạn của địch.
Ở khu Tả ngạn sông Hồng, Mỹ - Diệm đã tạo ra một tình hình hết sức căng
thẳng. Tại Kim Động (Hưng Yên), trước khi rút vào khu tập kết, địch đốt phá làng
Thiên Chúa giáo Ngọc Đồng rồi vu khống cho Việt Minh. Ở Thanh Miện, Ân Thi,
Tứ Kỳ, Gia Lộc và Cẩm Giàng (Hải Dương), địch cho máy bay thả côn trùng phá
hoại mùa màng. Ở Hải Phòng, tại nhà thờ phố Dinh (nay là phố Trần Nguyên Hãn),
tháng 1-1955, sau buổi lễ, cha xứ tháo chuông và ảnh Đức Mẹ, chúng ép buộc ai
không đi Nam phải bước qua ảnh Đức Mẹ. Giáo dân kinh hoàng, khóc than và tất cả
phải ký giấy đồng ý ra đi. Chúng bắt giáo dân ký vào đơn kiện lên Ủy ban quốc tế và
giám sát đình chiến ở Việt Nam rằng Chính phủ Việt Nam vi phạm điều 14c, 14d của
Hiệp định Giơnevơ.
Ngày 6-8-1954, Khu ủy Tả ngạn ra Chỉ thị 27-CT, phân tích âm mưu địch, đề
ra 6 nhiệm vụ mà các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần thực hiện nhằm vận động giáo
dân ở lại. Hội nghị cán bộ Khu tả ngạn tháng 8-1954 chỉ rõ: “Tranh thủ giáo dân
chống âm mưu cưỡng bức di cư của địch” là một trong 8 công tác cấp bách của toàn
khu. Tiếp theo, Khu ủy tổ chức các đoàn cán bộ xuống các vùng có đông đồng bào
Thiên Chúa giáo, vùng mới giải phóng và nơi địch sắp rút quân, làm công tác vận
động. Nhiều giáo dân chuẩn bị đi, sau khi nghe cán bộ tuyên truyền, giải thích, đã
quyết định ở lại; hoặc nhiều người đang đi thì trốn về. Từ ngày 21-7 đến ngày 18-8-
1954, toàn Khu vận động được 56 gia đình (khoảng 4.370 người) đang đi quay trở
lại.
Tỉnh Nam Định, có 936 giáo dân đến gặp chính quyền ta tố cáo kẻ chủ mưu
dụ dỗ, cưỡng ép họ bỏ nhà ra đi. Giáo dân ở đây cũng đã kịp thời báo cáo và giúp đỡ
chính quyền cách mạng đập tan âm mưu của bọn đầu sỏ tập trung giáo dân ở 14 xứ
đạo về Xuân Ninh (Xuân Trường) dụ dỗ họ di cư hàng loạt.
Đối với những phần tử ngoan cố, vi phạm pháp luật Nhà nước, ta kiên quyết
Hoá mở phiên toà xét xử bọn phản động cầm đầu gây ra vụ bạo loạn ở Ba Làng nhằm
đưa đồng bào di cư vào Nam.
Tại Diễn Tiến (Nghệ An), tháng 4-1955, địch cho 17 tên phản động từ trong
Nam ra, tổ chức một đội vũ trang 100 người, được trang bị giáo mác, kết hợp với bọn
phản động địa phương lôi kéo giáo dân đi Nam, kích động bạo loạn... Trước tình hình
đó, Liên khu IV và Tỉnh đội Nghệ An đã chỉ đạo và phối hợp với địa phương đấu
tranh chống địch. Ta tổ chức giáo dục, huấn luyện 1.000 đồng bào đi vào đám đông,
giải thích rõ âm mưu của kẻ thù, khuyên bà con trở về làm ăn. Tiếp đó, ta cho một
đội vũ trang vào nhà thờ Diễn Tiến bắt 5 tên phản động đội lốt linh mục đưa ra trước
quần chúng buộc phải công khai thú tội.
Tại xã Thạch Tân (Hà Tĩnh), địch tổ chức một đội “cảm tử vì đạo” gồm 30
người có vũ trang cưỡng ép giáo dân bán nhà, làm đơn gửi lên chính quyền đòi đi
Nam. Trước hành động ngang ngược của địch, ta bắt 3 tên đầu sỏ, đồng thời giải
thích cho dân hiểu rõ âm mưu của địch. Kết quả, đã có 70 gia đình xin ở lại.
Ở Vĩnh Linh (Quảng Trị), số người di cư đổ dồn về đây để vượt tuyến vào
Nam đông tới hàng vạn người. Tình hình này đã gây ra những khó khăn, phức tạp đối
với ta khi hoà bình mới lập lại. Căn cứ vào chủ trương của Trung ương và tình hình
thực tế của địa phương, Đảng ủy khu vực đề ra chủ trương chống địch dụ dỗ, cưỡng
ép đồng bào di cư vào Nam. Ban chống cưỡng ép di cư được thành lập, gồm 28 đồng
chí, phân công nhau về cơ sở bám địa bàn, bám dân, tuyên truyền giải thích chính
sách tôn giáo của Đảng, giúp giáo dân sửa lại nhà thờ, giải quyết khó khăn về đời
sống, đẩy mạnh việc việc tăng gia sản xuất, nổi lên là công tác vận động ở 2 nhà thờ
lớn nhất: Di Loan và Phước Sơn. Ngoài ra, Ban chống cưỡng ép di cư còn lập nhiều
11
trạm dọc Quốc lộ I để đón khoảng trên 2 vạn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc bị mắc
mưu địch di cư vào Nam, giải thích cho giáo dân rõ về âm mưu của Mỹ - Diệm trong
việc dụ dỗ, cưỡng ép, lừa gạt giáo dân di cư vào Nam.
Cuộc đấu tranh chống địch dụ dỗ và cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào
Nam diễn ra rất phức tạp. Nhờ sự lãnh đạo kịp thời, kiên quyết của Đảng và Chính
phủ, cán bộ, bộ đội công an ta kiên trì, chịu đựng gian khổ, bám sát nhân dân nên đã
3. Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương
chiến tranh (1954-1957)
a. Hoàn thành cải cách ruộng đất
Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế và yêu cầu về quyền lợi kinh tế và chính trị của
nông dân, nhằm củng cố khối liên minh công nông, mở rộng mặt trận dân tộc thống
nhất, Ủy ban cải cách ruộng đất Trung ương ra nghị quyết: "Đẩy mạnh phát động
quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất".
Thực hiện chủ trương của Trung ương, đợt 6 giảm tô và đợt 2 của cải cách
ruộng đất là những việc đầu tiên được tiến hành trong hoàn cảnh đất nước hoàì bình.
1
Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 16 (1955). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 269-
270.
2
Tỉnh ủy Thanh Hóa. Bản kiểm thảo của Tỉnh ủy trong hội nghị cán bộ từ ngày 8 đến ngày
16-10-1955. Phòng lưu trữ Tỉnh ủy, Hồ sơ 15, cặp số 3, tr. 3.
3
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1999). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, Tập 2
(1954-1975). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 78-79.
4
Vũ Văn Mẫu (2003). Sáu tháng Pháp nạn 1963. Giao Điểm, USA, tr. 227.
12
Từ đó việc đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất bắt đầu lan
rộng vào vùng trung du và đồng bằng mới giải phóng. Từ sau hoà bình lập lại cho
đến tháng 7-1956, cải cách ruộng đất ở miền Bắc được tiến hành liên tiếp 4 đợt, từ
đợt 2 đến đợt 5. Riêng đợt 5 bắt đầu từ tháng 12-1955, tiến hành ở 1720 xã
1
thuộc 20
tỉnh và 2 thành phố. Đây là những vùng trước đó không lâu còn bị địch chiếm đóng,
vì thế so với các đợt trước, đợt 5 diễn ra gay go, phức tạp.
Qua 5 đợt cải cách ruộng đất, 1.595.203 ha ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu
.
Mặt khác, trong tiến hành cải cách ruộng đất, không giữ vững đường lối độc
lập tự chủ, áp dụng máy móc, giáo điều kinh nghiệm nước ngoài một cách giản đơn,
nên trong chỉ đạo đã cường điệu tính chất đấu tranh giai cấp ở nông thôn, ngả sang tả,
đánh nhầm vào nội bộ nông dân, đặc biệt là tầng lớp trung nông lớp trên. "Đó là
những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những
vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng,... trái với chế độ pháp luật của nhà
1
Nếu tính cả 5 đợt, tổng cộng số xã tiến hành cải cách ruộng đất là 3.314 .
2
Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 17 (1956). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 539.
3
Kết luận của Bộ Chính trị về một số vấn đề lịch sử Đảng thời kỳ 1954 - 1975, ngày 25-5-
1994.
13
nước... Những sai lầm đó không những đã hạn chế những thắng lợi đã thu được, mà
lại gây ra nhiều tổn thất... ảnh hưởng tai hại đến chính sách mặt trận của Đảng...,
làm cho tình hình nông thôn căng thẳng ..."
1
.
Những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất đã gây tổn thất lớn cho
nhân dân và hạn chế nhất định những thành quả cải cách ruộüng đất.
Ngay trong tháng 4-1956, khi phát hiện ra những sai lầm, Đảng và Chính phủ
đã có chỉ thị sửa chữa. Ngày 18-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng
bào nông thôn và cán bộ, chỉ rõ những thắng lợi và những sai lầm trong cải cách
ruộng đất. Tháng 9-1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp,
thảo luận và đi đến kết luận về những thắng lợi và những sai lầm trong cải cách
ruộng đất. Hội nghị khẳng định: “Chúng ta không sợ vạch rõ sai lầm, khi thấy sai
lầm thì chúng ta kiên quyết sửa chữa được”; đồng thời Hội nghị đề ra một số chủ
trương, biện pháp để sửa chữa sai lầm, như khôi phục danh dự, quyền lợi cho những
tự phê bình, xin từ chức Tổng bí thư và được Hội nghị đồng ý. Văn kiện Đảng toàn tập, tập
17 (1956). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 577.
3
Đối với ông Hồ Viết Thắng, cách chức Phó chủ nhiệm, Uỷ viên thường trực ban cải cách
ruộng đất trung ương và buộc từ chức Thứ trưởng Bộ Nông Lâm; đối với ông Lê Văn
Lương, chấp nhận đơn xin từ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chủ nhiệm Văn phòng Nội
chính Thủ tướng phủ.
14
Ngày 8-12-1956, trong cuộc nói chuyện tại trường Đại học Nhân dân, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Chế độ dân chủ cộng hoà của ta dù có những sai lầm
thiếu sót vì chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và còn có nhiều khó khăn. Đảng và Chính
phủ chỉ lo việc phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động
chân tay và lao động trí óc. Trong cải cách ruộng đất, cán bộ đã phạm sai lầm,
khuyết điểm nghiêm trọng, cần phải kiên quyết sửa chữa, nhưng không nên vì sai
lầm, khuyết điểm mà bi quan. Trái lại vẫn vững lòng tin tưởng vào Đảng và Chính
phủ”
1
.
Do có chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng và được toàn dân ủng hộ, nên
đến cuối năm 1957, công tác sửa sai đã đem lại kết quả tốt. Nông thôn dần dần đi vào
ổn định, nội bộ Đảng đoàn kết, lòng tin của nhân dân được khôi phục, sản xuất nông
nghiệp được đẩy mạnh, khối liên minh công nông được củng cố, chính quyền nhân
dân được ổn định và sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, nhờ đó ý nghĩa thắng
lợi của cải cách ruộng đất vẫn hết sức to lớn. Bộ mặt nông thôn miền Bắc có nhiều
thay đổi. Thắng lợi của cải cách ruộng đất đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn
thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.
b. Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh
Chủ trương và phương châm khôi phục kinh tế được Chính phủ trình bày
trước Quốc hội khoá I kỳ họp thứ 4 (3-1955) và được Quốc hội thông qua tại kỳ họp
thứ 5 (9-1955). Mục tiêu là khôi phục cơ sở sản xuất và mức sản xuất bằng trước
nhiều thành phần dưới sự chỉ đạo và quản lý của nhà nước dân chủ nhân dân.
Khôi phục sản xuất nông nghiệp: Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung,
kinh tế nông nghiệp có vị trí hết sức quan trọng. Nông nghiệp cung cấp lương thực,
nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp. Sản xuất nông nghiệp được khôi
phục mới giải quyết được vấn đề lương thực, làm cơ sở cho việc khôi phục và phát
triển các ngành kinh tế khác, nâng cao mức sống cho nhân dân, do đó, sẽ củng cố
vững chắc khối liên minh công nông. Vì vậy, Đảng và Nhà nước chủ trương lấy khôi
phục nông nghiệp làm chủ yếu, trên cơ sở đó khôi phục toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Giai cấp nông dân miền Bắc, với niềm phấn khởi và tin tưởng vô hạn vì mới
được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và được chia ruộng
đất, đã tích cực hưởng ứng phong trào khôi phục và phát triển sản xuất. Vượt qua
mọi khó khăn, thiếu thốn, nông dân đã ra sức khai hoang, chống hạn, bảo đảm cấy
hết diện tích ruộng đất, tăng thêm đàn trâu bò, sắm thêm nông cụ... Đến cuối năm
1957, những vết thương chiến tranh trên đồng ruộng đã hàn gắn xong: 125.000 mẫu
ruộng hoang đã trở thành những cánh đồng xanh tốt; 12 hệ thống nông giang bị địch
phá hoại trong chiến tranh được sửa chữa, cùng với việc xây dựng những công trình
thủy nông mới, như đập nước Đô Lương, Bái Thượng, Thác Huống. Hệ thống đê
điều dài 3.500 km bị hư hỏng trong chiến tranh cũng được sửa chữa, củng cố lại,...
Kết quả, sản lượng lương thực và hoa màu tăng nhanh. Trong thời gian này,
tổng sản lượng lương thực hàng năm đạt 4.000.000 tấn, vượt xa mức trước chiến
tranh (năm 1939: 2.407.000 tấn). Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt bình quân
hàng năm là 680.000 tấn, gấp ba lần mức năm 1939 (220.000 tấn). Do vậy, nạn đói
có tính chất kinh niên ở miền Bắc bước đầu được giải quyết, đời sống nhân dân lao
động được cải thiện một bước quan trọng.
Khôi phục sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp: Do bị chính sách thuộc
địa của thực dân Pháp kìm hãm, nền công nghiệp Việt Nam nói chung, công nghiệp
miền Bắc nói riêng, rất nhỏ bé. Công nghiệp nặng miền Bắc hầu như không đáng kể
(cuối năm 1954, giá trị sản lượng công nghiệp chiếm 1,5% tổng sản lượng công nông
nghiệp). Công nghiệp nhẹ đã nhỏ bé lại bị chiến tranh tàn phá, kỹ thuật lạc hậu. Từ
thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương trước hết phải tập trung khôi phục và
dân sinh trong các vùng tự do cũ, lại có thêm thương nghiệp vùng mới giải phóng còn
mang tính chất phụ thuộc kinh tế thực dân. Phần lớn hàng hóa giao lưu trên thị
trường nằm trong tay tư nhân. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa còn bé nhỏ.
Căn cứ vào tình hình cụ thể trên, Nhà nước chủ trương chuyển hoạt động
thương nghiệp theo hướng phục vụ sản xuất, phục vụ nhân dân; hướng dẫn một số
thương gia trước đây buôn bán những mặt hàng không cần thiết sang kinh doanh
công nghiệp; tăng cường mậu dịch quốc doanh, làm cho mậu dịch quốc doanh phát
huy tác dụng đối với đời sống nhân dân. Hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác
xã mua bán được mở rộng và cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng cho nhân dân. Việc
giao lưu hàng hóa giữa các địa phương ngày càng phát triển. Hoạt động ngoại thương
dần dần tập trung trong tay nhà nước. Quan hệ buôn bán với nước ngoài bước đầu
được tăng cường. Đến năm 1957, miền Bắc nước ta đã đặt quan hệ thương mại với
27 nước trên thế giới.
Khôi phục ngành giao thông vận tải: Hệ thống giao thông miền Bắc dưới
thời Pháp rất lạc hậu, lại bị tàn phá, hư hỏng nghiêm trọng trong thời gian chiến
tranh. Trước khi rút quân khỏi miền Bắc, thực dân Pháp tiếp tục phá hoại hoặc mang
đi hầu hết các thiết bị máy móc...
Sau hòa bình, với yêu cầu, nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, cải
thiện đời sống nhân dân và tăng cường quốc phòng, Nhà nước chủ trương khôi phục
nhanh chóng đường xe lửa, đường ô tô, vận tải sông ngòi, bưu điện... Đây chính là
những công tác có ý nghĩa quan trọng bậc nhất, là điều kiện không thể thiếu trong
việc phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế.
Cuối năm 1957, trên toàn miền Bắc, nhân dân ta đã khôi phục được 681 km
đường sắt (quan trọng nhất là tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn); khôi phục và làm
thêm được 10.607 km đường ô tô. Các bến cảng, cửa sông được tu sửa và củng cố,
góp phần rất quan trọng trong việc phát triển giao lưu hàng hóa, hồi phục kinh tế.
Đường hàng không dân dụng quốc tế được khai thông.
17
Tóm lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự nỗ lực của toàn dân, mà nòng cốt là
công nông, đến năm 1957 miền Bắc đã có những đổi thay về nhiều mặt. Thành phần
đến năm 1957, miền Bắc đã có 49 bác sĩ, 1.087 y sĩ trung cấp, 175 dược sĩ trung cao
cấp, 683 nữ hộ sinh và 6.641 y tá
2
.
Nghệ thuật và văn hoá quần chúng được Đảng và Nhà nước quan tâm phát
triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp khôi phục kinh tế. Phương châm chung là
phát triển nền văn hoá dân tộc, học tập văn hoá tiên tiến của thế giới, trước hết là của
các nước bạn, quét sạch tàn dư văn hoá nô dịch. Phát triển sinh hoạt văn hoá vui tươi,
1
Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam. Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1955 -
1976. Hà Nội, 2004, tr.19.
2
Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam. Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1955 -
1976. Hà Nội, 2004, tr. 20.
18
lành mạnh trong nhân dân, gây phấn khởi sản xuất và đấu tranh chính trị. Ba nhiệm
vụ chính được triển khai trong văn hoá nghệ thuật:
1. Phát triển văn hoá quần chúng.
2. Phục hồi và bước đầu phát triển nghệ thuật.
3. Đẩy mạnh việc trao đổi văn hoá với nước ngoài.
Trên cơ sở thực hiện ba nhiệm vụ trên đây, các ngành văn hóa quần chúng như
xuất bản và phát hành sách, báo, thư viện, chiếu bóng, biểu diễn văn nghệ đều được
phát triển. Cụ thể: Sách xuất bản năm 1957 tăng gấp 6 lần so với năm 1939. Năm
1957 đã xây dựng được 33 thư viện với 458.000 cuốn sách. Tới tháng 9-1956 đã có
53 câu lạc bộ của các xí nghiệp, cơ quan, công trường và 732 nhà văn hóa nông thôn.
Năm 1957, ngoài 5 rạp hát quốc doanh còn có 35 rạp hát tư doanh được Chính phủ
cho phép hoạt động, v.v... Các tổ chức văn hoá, văn nghệ được củng cố và phát triển
thêm, như Đại hội Văn công toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức năm 1955. Hội
Liên hiệp văn học nghệ thuật, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội
Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam lần lượt ra đời. Giao lưu nghệ
Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 8. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 483.
19
họp thứ 9, Quốc hội khóa I đã thông qua kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế
- văn hóa (1958-1960) bao gồm những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông
nghiệp làm khâu chính, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực, đồng thời rất chú
trọng sản xuất công nghiệp, hết sức tăng thêm các tư liệu sản xuất và giải quyết phần
lớn hàng tiêu dùng.
- Cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư
doanh theo hướng xã hội chủ nghĩa, khâu chính là hợp tác hóa nông nghiệp, đồng
thời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh.
- Trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao thêm một bước đời sống vật chất và
văn hóa của nhân dân, nhất là đời sống của nhân dân lao động; và tăng cường củng
cố quốc phòng.
Cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp: Cải tạo theo định hướng xã hội
chủ nghĩa trong nông nghiệp tức là phải thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất kết hợp
với cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động và giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa
cho nông dân, nhằm đưa giai cấp nông dân từ chỗ làm ăn riêng lẻ đi dần vào con
đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa. Đây là khâu chính trong toàn bộ sự nghiệp cải
tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp được tiến hành qua ba bước, từ thấp
đến cao là: “Tổ đổi công có mầm mống xã hội chủ nghĩa, hợp tác hóa bậc thấp nửa
xã hội chủ nghĩa và hợp tác hóa bậc cao hoàn toàn xã hội chủ nghĩa”
1
; từng bước
làm cho nông dân quen dần với lối làm ăn tập thể và phù hợp với trình độ quản lý của
cán bộ hợp tác xã.
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình vận động hợp tác hóa, một mặt phải
đi đúng đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn; mặt khác phải đảm bảo tuân thủ ba
nguyên tắc: Tự nguyện, cùng có lợi và quản lí dân chủ.
thành cải cách dân chủ. Cuộc vận động đã diễn ra trong 2.000 xã với 3 triệu dân. Tính
đến tháng 6 - 1961, toàn miền núi có 357.000 hộ nông dân vào hợp tác xã, chiếm
75,64% tổng số hộ nông dân.
Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng. Nó không
chỉ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, mà còn đảm bảo những điều kiện vật
chất, tinh thần, chính trị cho bộ phận tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Thắng
lợi của công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp góp phần tạo điều kiện cho việc cải tạo
các thành phần kinh tế khác theo hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ số phát triển tổng sản
lượng nông nghiệp: Lấy năm 1957 là 100 thì năm 1958 là 116,9, năm 1959 là 124,5,
năm 1960 là 113,7
2
. Nhiệm vụ hợp tác hoá nông nghiệp được Đảng và Chính phủ
tổng kết là về cơ bản đã hoàn thành. Nhưng xét theo phương châm “vững chắc” mà
Chính phủ đề ra thì chưa đảm bảo, vì phong trào tiến quá nhanh
3
, chất lượng hợp tác
xã yếu kém; đặc biệt là ba nguyên tắc “tự nguyện”, dân chủ, cùng có lợi đều bị vi
phạm
4
. Như vậy, tuy Nhà nước chăm lo dân chủ hoá, pháp chế hoá bộ máy và cơ
quan vận hành, nhưng ở đây lại chưa được quán triệt và thực thi đầy đủ. Xét chỉ tiêu
kế hoạch nông nghiệp có tăng nhưng xét về hợp tác hoá, ngay từ năm 1960 đã có
chiều hướng giảm sút
5
.
1
Trần Thục Nga (Chủ biên). Lịch sử Việt Nam (1945 - 1975). Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1987,
tr. 79.
2
Tổng cục thống kê. Số liệu thống kê “Ba năm cải tạo và phát triển kinh tế phát triển văn
theo định hướng xã hội chủ nghĩa bằng phương pháp hòa bình vì giai cấp tư sản miền
Bắc nhỏ yếu, đã từng là đồng minh của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân. Hơn thế nữa, công cuộc cải tạo diễn ra trong một hoàn cảnh lịch sử
đặc biệt: Nhà nước dân chủ nhân dân được củng cố vững mạnh, thành phần kinh tế
quốc doanh nắm vai trò lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ ngày hòa bình lập
lại, nói chung giai cấp tư sản vẫn tán thành cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc, có khả
năng tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, cải tạo bằng phương pháp hòa bình
là nhằm đoàn kết lực lượng cả nước trong cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước
nhà.
Với chủ trương cải tạo bằng phương pháp hoà bình, Nhà nước không tịch thu
tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản dân tộc mà dùng chính sách chuộc lại hoặc dưới
hình thức công tư hợp doanh; về chính trị, tư sản dân tộc vẫn là một thành phần của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đến cuối năm 1960, miền Bắc có 783 hộ tư sản công
nghiệp (100%), 826 hộ tư sản thương nghiệp (97,1%) và 319 hộ tư sản vận tải cơ giới
(99%) ... được cải tạo. Hàng vạn công nhân được giải phóng khỏi ách bóc lột của giai
cấp tư sản. Sản xuất phát triển: Chỉ số phát triển giá trị tổng sản lượng công nông
nghiệp lấy năm 1957 là 100 thì năm 1958 là 117; năm 1959 là 133; năm 1960 là
135,8
1
. Đời sống nhân dân được cải thiện một bước.
Như vậy, công cuộc cải tạo kinh tế đã diễn ra một cách tích cực, khẩn trương,
theo đúng chủ trương mà Đảng và Nhà nước đề ra và đạt được yêu cầu. Nhiệm vụ
phát triển và cải tạo kinh tế về cơ bản hoàn thành, đưa miền Bắc từ một nền kinh tế
nhiều thành phần lên một nền kinh tế chủ yếu chỉ có hai thành phần là quốc doanh và
tập thể. Thắng lợi này có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn đối với việc củng cố chế độ xã
hội chủ nghĩa miền Bắc và góp phần vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.
Nhưng xét về hiệu quả trong cả tiến trình cách mạng thì cả hai nhiệm vụ phát
triển và cải tạo, tuy tiến nhanh, tiến mạnh nhưng không vững chắc. Nguyên nhân là
do sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Chủ trương “đưa việc xây dựng quan hệ
sản xuất tiên tiến lên trước để kéo lực lượng sản xuất lên theo” là không phù hợp với
mậu dịch quốc doanh trong kháng chiến, đến năm 1959, mậu dịch quốc doanh đã có
12 công ty chuyên nghiệp, bao gồm 1400 cửa hàng.
Sự phát triển của thương nghiêp xã hội chủ nghĩa, sự lớn mạnh của thương
nghiệp quốc doanh đã có tác dụng giữ vững vai trò chủ đạo và ổn định thị trường,
góp phần quan trọng trong việc cải tạo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
lao động.
Trên mặt trận giáo dục, vấn đề cấp bách là đẩy mạnh công tác thanh toán nạn
mù chữ. Cuối năm 1960, về căn bản đã xóa xong nạn mù chữ ở miền xuôi cho những
người dưới 50 tuổi. Công tác bổ túc văn hóa cũng phát triển mạnh mẽ, tiến tới phổ
cập cấp I cho toàn dân, trước hết là trong cán bộ cơ sở và trong thanh niên.
Thời kỳ 1958-1960 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng về chất lượng
và số lượng của ngành giáo dục phổ thông. Đến năm 1960, số học sinh phổ thông lên
tới 1.815.000 người, tăng 1,5 lần so với năm 1955 và tăng 80% so với năm 1957
1
. Ở
các tỉnh miền núi, trường phổ thông các cấp cũng phát triển. Các dân tộc Thái, Tày,
Nùng, H'Mông... được Nhà nước giúp đỡ đã cải tiến và xây dựng chữ viết của mình.
Trước yêu cầu đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, trong thời gian 1958-1960,
Chính phủ quyết định mở thêm nhiều trường đại học và trung học chuyên nghiệp, thu
1
&
2
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 (1960). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.822.
23
hút con em nhân dân lao động vào học. Kết quả là đến năm 1960, toàn miền Bắc có 9
trường đại học, với 11.070 sinh viên gấp 2 lần so với năm 1957); 50 trường trung học
chuyên nghiệp với 26.330 học sinh (gấp 2,3 lần so với năm 1957). Bên cạnh việc đào
tạo trong nước, Chính phủ còn đưa ngày càng nhiều học sinh đi học ở các nước Xã
hội chủ nghĩa anh em.
Về văn hóa, nổi bật là sự phát triển của các ngành văn học, nghệ thuật, điện
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Phát biểu tại phiên bế mạc đại hội,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng
đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt.
Muốn thực hiện Cương lĩnh của Mặt trận thì chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc
về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi, chứ không phải là hạ
thấp yêu cầu củng cố miền Bắc”
1
.
1
Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 331.
24
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành lập đánh dấu một bước phát triển về đoàn
kết dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới, nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân
chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ, củng cố hoà bình
thực sự thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ tiến tới xây dựng một
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Tháng 3-1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12. Hội
nghị thảo luận và ra Nghị quyết về hai vấn đề: Kế hoạch Nhà nước năm 1957 và xây
dựng quân đội, củng cố quốc phòng.
Về kế hoạch Nhà nước năm 1957, Hội nghị đề ra mục tiêu hoàn thành nhiệm
vụ khôi phục kinh tế (ngang với mức sản xuất năm 1939) tạo ra những điều kiện tốt
để có cơ sở chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế.
Về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, Hội nghị đề ra phương châm xây
dựng, tăng cường lực lượng quốc phòng: “Tích cực xây dựng một quân đội nhân dân
hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hoá và hiện đại hoá” và “không những
có một lực lượng thường trực mạnh mà lại phải có một lực lượng hậu bị mạnh”
1
.
Ngày 14-9-1957, Dự thảo luật Công đoàn được Quốc hội (khóa I) họp kỳ thứ
7 thông qua, nhằm phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong quản lý kinh tế, quản
3
&
3
Về nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr. 10 & tr. 14.
25