Giáo trình Lịch sử NNvaPL - Pdf 12

PHẦN I
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CHIẾM HỮU NÔ LỆ
Chương 1
NHÀ NƯỚC PHƯƠNG ĐÔNG THỜI KỲ cớ ĐẠI
1. Qúa trình hình thành, phát triển và suy vong của nhà nước phương Đông cổ đại
1 1 Cơ sở hình thành nhà nước
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý: Ai Cập, Lưỡng Hà, ấn ĐỘ và Trung Quốc hoàn toàn lách biệt nhau. nhưng
giữa chúng có những điểm chung cơ bản về điều kiện tự nhiên như sau:
Một là, các quốc gia này đều nằm trên lưu vực các con sông lớn như sông Ni le (Ai Cập),
sông Tigris và sông Euphrates (Lưỡng Hà), sông Hằng và sông ấn (Ấn Độ), sông Hoàng Hà và sông
Trường Giang (Trung Quốc).
Hai là, khí hậu nhiệt đới : mưa nhiều, độ ẩm cao.
Ba là, có địa hình phức tạp và khép kín.
Ai Cập ở Đông Bắc châu Phi, với địa hình hầu như biệt lập với thế giới bên ngoài bởi bốn
phía biên giới của Ai Cập là biến, rừng rậm và sa mạc. Người Ai Cập cổ đại chi có thể qua lại vùng
Tây Á bằng eo đất Xinai rất hẹp ở phía Đông Bắc.
An ĐỘ ở Nam A và được ví như một tiểu lực địa vì bị ngăn cách với phần còn lại bởi dãy núi
Hymalaya cao nhất thế giới.
Trung Quốc ở phía Đông châu á, bị ngăn cách với phần còn lại bởi sa mạc Nội - Ngoại
Mông.
Lưỡng Hà, trong bốn quốc gia, là có địa hình tương đối mở, nhưng cũng bao bọc nó là sa mạc
và thảo nguyên mênh mông.
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên trên, trong thời kỳ cổ đại chúng có nhiều ảnh hưởng
đến nền kinh tế - xã hội của các quốc " gia ở đây. Những ảnh hưởng này có tác động rất lớn đối với
quá trình ra đời của nhà nước ở đây.
Một là, với những đồng bằng rộng lớn. không ngừng được bồi đắp phù sa màu mỡ bởi các
con sông lớn, cùng với khí hậu nhiệt đới đã thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp tưới tiêu phát triển từ
rất sớm.
Hai là, để sản xuất nông nghiệp trên diện rộng và tránh thiên tai, lũ !ụt do các con sông tạo ra
nên việc xây dựng các công trình thủy lợi được chú trọng từ rất sớm, trở thành nhu cầu cơ bản trong

kinh tế nông nghiệp và chế độ công hữu về ruộng đất nên diễn ra chậm chạp và mâu thuẫn giai cấp
chưa thật sâu sắc.
Theo học thuyết của Mác - Lênin về nguồn gốc nhà nước, khi mâu thuẫn giai cấp trong xã
hội trở nên gay gắt, không thể tự điều hòa được thì giai cấp mạnh hơn sẽ thành lập một tồ chức để
đàn áp sự đối kháng của các giai tầng khác, đồng thời quản lý xã hội theo một khuôn khổ nhất định,
phù hợp với ý chí của họ để đảm bao duy trì sự thống trị về mặt giai cấp. Tổ chức đó gọi là nhà
nước.
Trong khi đó, mặc dù, ở các quốc gia phương Đông cổ đại, mâu thuẫn giai cấp chưa đến mức
gay gắt và sâu sắc, nhưng nhà nước vẫn xuất hiện và xuất hiện rất sớm. Nguyên nhân là chịu sự tác
động và thúc đẩy của nhu cầu trị thủy, thủy lợi và chiến tranh.
Tóm lại, quá trình trên thể hiện nét đặc thù của phương Đông cổ đại Bởi vì, ngoài sự phân
hóa giai cấp vận động theo quy luật chung, quá trình hình thành nhà nước ở vùng này còn bị ảnh
hưởng bởi hoạt động trị thủy và chiến tranh. Tuy nhiên, hai yếu tố này đóng vai trò thúc đẩy nhanh
tiến trình hình thành nhà nước, còn nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất hiện nhà nước vẫn là sự phân
hóa giai cấp.
1.2 Lịch sư hình thành, phát triển và suy vong
1.2.1 Ai Cập
Lịch sử cổ đại của Ai Cập trải qua 4 thời kỳ gồm: Tảo kỳ vương quốc, CỔ vương quốc,
Trung vương quốc, Tân vương quốc. Về mặt thời gian là vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ IV TCN
đến năm 225 TCN khi Ai Cập bị đế quốc Ba Tư thôn tính.
1.2.2 Lưỡng Hà
Lịch sử cỗ đại của Lưỡng Hà là quá trình thay thế thống trị giữa các tộc người 'Xu - me,
người Xê - Mít, người Amôrít. . . Về thời gian, từ đầu thiên niên kỷ thứ I]I TCN khi ở Lưỡng Hà
xuất hiện các quốc gia thành thị (Ua, Lagash. . . ) đến năm 53 8 Lưỡng Hà bị Ba~tư xâm chiếm.
Trong đó thời gian từ thế kỷ XIX - XVIII TCN, thời kỳ Vương quốc cố Babylon là thời kỳ phát triển
rực rỡ nhất.
1.2.3 ấn độ
Đầu thiên niên kỷ 111 TCN đến giữa thiên niên kỷ thứ 11 TCN, ở Ấn Độ đã tồn tại nền văn
minh Harappa và Môhenjo - Dao ở lưu vực sông án. Lịch sử cổ đại của Ấn Độ kéo dài từ đó cho đến
thế kỷ IV SCN với sự xuất hiện của vương triều Gupta là bước ngoặc đánh dấu sự xuất hiện chế độ

Hai là, lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội không phải là nô lệ mà là nông dân công xã,
nô lệ chủ yếu làm công việc hầu hạ, phục địch trong nhà chủ nô;
Ba là, máu thuẫn đối kháng giai cấp trong xã hội không phải là mâu thuẫn. giữa chủ nô và nô
lệ mà lại là mâu thuẫn giữa chủ nô và nông dân công xã.
* Nông dân công xã
Nông dân chiếm đa số và là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội, sống trong các công xã
nông thôn. Phần lớn họ là những người nghèo, ít ruộng đất phải nhận ruộng đất của nhà nước từ các
công xã nông thôn để cày cấy và đóng thuế cho nhà nước hoặc thuê ruộng của các chủ nô và nộp tiền
thuê đất hay hoa lợi thu hoạch được.
HỌ được quyền làm người nhưng là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai cấp chủ nô. Ngoài ra,
họ còn phải cùng với nô lệ lao động khổ sai đề xây dựng các công trình cho nhà nước.
Bên cạnh đó, còn có tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, chiếm thiều số trong dân cư. Thành
phần của họ khá phức tạp nhưng nhìn chung họ là những người nghèo, chịu sự bóc lột của giai cấp
chủ nô.
Như vậy trong xã hội phương Đông cổ đại kết cấu giai cấp đã hoàn chỉnh. Giai cấp thống trị
bao gồm chủ nô như vua, quan lại, tăng lữ, người giàu có. Giai cấp bị trị bao gồm nô lệ, nông dân
công xã, thợ thủ công và thương nhân.
2.2 Quan hệ giai cấp
Quan hệ giai cấp giữa giai cấp thống trị và toàn thể các giai tầng bị trị trong xã hội phương
Đông cô đại là mâu thuẫn đối kháng. Cụ thể là mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô với nông dân công xã,
nô lệ và thợ thủ công, thương nhân.
Đặc điểm của quan hệ giai cấp trong xã hội phương Đông cổ đại được thể hiện ở một số khía
cạnh chủ yếu sau:
Trước hết, tuy nội bộ giai cấp thống trị đa dạng về thành phần (quý tộc thị tộc, quý tộc tăng
lữ, những người giàu có khác) nhưng chúng thống nhất trước sự đấu tranh của nhân dân lao động.
Nghĩa là nội bộ giai cấp thống trị không có sự cạnh tranh, đối kháng với nhau, mà là sự thống nhất
chặt chẽ và hỗ trợ nhau để duy trì lợi ích thống trị về mặt giai cấp.
Thứ hai, mặc dù được xác định là chế độ chiếm hữu nô lệ nhưng với tính chất gia trưởng cho
nên quan hệ giữa chủ nô và nô lệ không đóng vai trò là mâu thuẫn giai cấp chủ đạo trong xã hội
phương Đông co đại.

Đẳng cấp này được sinh ra từ bàn chân của thần Brahma. HỌ làm những công việc nặng nhọc nhất,
nhưng không được pháp luật bảo hộ, không được tham gia vào các hoạt động tôn giáo. Nếu một
Shudra nghe trộm tụng kinh thì sẽ bị đổ thiếc nung chảy vàn tai.
Sự phân biệt đẳng cấp ở Ấn Độ rất khắc nghiệt, kéo theo sự phân biệt đối xử sâu sắc trong xã
hội .
Người ở đẳng cấp dưới có nghĩa vụ phải tôn kính người ở đẳng cấp trên. Kinh tôn giáo
Bàlamôn từng ghi rõ: "Một người Bà lamôn dưới 10 tuổi cũng có thể được coi là cha của một kẻ ở
đẳngcấp dưới, dù cho kẻ ấy đã 100 tuổi".
Kết hôn phải cùng đẳng cấp, người đàn ông ở đẳng cấp cao hơn có quyền lấy người phụ nữ ở
đẳng cấp dưới làm vợ. Nếu người đàn ông ở đẳng cấp dưới dám lấy một phụ nữ ở đẳng cấp cao trên
làm vợ thì con của họ được xếp vào hạng "tiện dân". Thân phận "tiện dân" vô cùng thê thảm, họ bị
đặt ra ngoài vòng xã hội và không được tiếp xúc với con người.
Chế độ đẳng cấp Vacna ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức quản lý nhả nước và quy định pháp lý
ở Ấn Độ cổ đại.
3. To chúc bộ máy nhà nước
3. 1 MÔ hình tổ chức bộ máy nhà nước
3. 1.1 Các cơ quan nhà nước ở trung ương
* Vua
Là người đứng đầu nhà nước; có quyền lực tối cao. Mọi mệnh lệnh của vua có giá trị thi hành
như pháp luật. Vua có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của quốc gia, quyết định bổ nhiệm,
cách chức, trừng phạt bất cứ ai, có thẩm quyền xét xử cao nhất và là chỉ huy quân sự cao nhất. Bên
cạnh đó, vua được thần thánh hóa, được xem là con hoặc đại diện hoặc chính là hiện thân của thần
linh.
* Quan đầu triều :
Là người thân tín nhất của nhà vua, nắm giữ các công việc quan trọng trong triều.
* Hệ thống các cơ quan giúp việc:
Gồm một số quan lại cao cấp. Tùy từng nơi, tìm thời kỳ mà có sự phân công nhiệm vụ. quyền
hạn rõ ràng hay không.
3. 1. 2 Bộ máy nhà nước ở địa phương
Quản lý nhà nước ở địa phương thường dựa vào công xã nông thôn. Người có quyền quản lý

quan cao cắp đều trục thuộc vua và độc lập với cơ quan dân sự.
* Ở địa phương
Đơn vị hành chính của Ai Cập được chia thành các Châu (Nôm). Đứng đầu là Châu trưởng.
Châu trưởng vừa là tăng lữ tối cao, thẩm phán và là người chỉ huy quân sự cao nhất ở địa phương.
Châu trưởng chịu sự bổ nhiệm, giám sát và cách chức của nhà Vua. Đồng thời, để ngăn ngừa tình
trạng phân quyền cát cứ do các Châu trưởng có quá nhiều quyền hành, Vua thường cử quan lại ở
trung ương giám sát công việc của Châu trưởng hoặc điều động họ từ châu này sang châu khác.
3.2.2 Lưỡng Hà
Ở trung ương
- Vua:
Thời kỳ trị vì của người Sumer, đứng đầu mỗi nhà nước là Patêsi (cũng có nơi gọi là Lugalơ -
người chủ). Ban đầu Patêsi là do Hội đồng dân biểu đại diện cho quý tộc thị tộc bầu ra, nhưng về sau
thì cha truyền con nối. Patêsi không chỉ là vị thủ lĩnh tôn giáo tối cao mà còn là đại điện của thần dan
trước thần thánh, đồng thời là người chỉ huy quân đội, quản lý kinh tế, coi sóc các công trình thủy lợi
và là chủ sở hữu tối cao đối với mọi đất đai của quốc gia.
Trong các thời kỳ lịch sử, Vương quốc cô Babilon (1894- 1595 TCN) là thời kỳ phát triển rực
rỡ nhất của Lưỡng Hà, trong đó triều đại của Vua Hammurapi là hưng thịnh nhất Babilon. Thời kỳ
này, Vua không chỉ xem mình là đại diện cho các thần thánh mà cho rằng mình chính là hiện thân
của thần thánh, có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước.
- Quan đầu triều:
Trong thời kỳ người Sumer thống trị Lưỡng Hà thì Nubanda là người đứng đầu hệ thống
quan lai dưới các Patêsi, trông coi hoạt động kinh tế, kho tàng và thủy lợi.
Thời kỳ trị vì của Vua Hamurapi, ông chia vương quốc thành hai khu hành chính: vùng Accat
va Bắc Sumer và vùng Nam Xume. Đứng đầu mỗi khu vực hành chính này là một viên Tồng đốc do
Vua trực tiếp bổ nhiệm. Đứng đầu Vùng Accal và bắc Xume gọi là Xucalu, vùng Nam Sumer gọi là
Xinichnnama. Hai viên Tổng đốc vừa là quan lại cao nhất của nhà vua, giúp nhà vua cai trị hai khu
vực hành chính này, cũng vừa là quan lại đứng đầu địa phương.
- Hệ thống cơ quan giúp việc:
Cũng tương tự như Ai Cập bộ máy quan lại cao cấp chưa được chuyên môn hóa trong từng
lĩnh vực mà phụ trách những công việc cụ thể: thu thuế, các hoạt động thương mại, quân sự, kho

Hệ thống quan lại chia làm 3 hội đồng :
Hội đồng thương thư: Đứng đầu là Đại tư tế, tiếp đó là 2 Thượng thư Ngân khố và Thuế vụ
rồi đến các thượng thư khác. Mỗi thượng thư phụ trách một số ngành, thông qua các Sở ở địa
phương để quản lý: Sở phụ trách về đo lường, thương mại, vàng và kim khí quý, nông nghiệp, tàu xe
. . . kể cả Sở phụ trách ca kỹ.
Hội đồng ngư tiền: gồm những quý tộc có thế lực. Hội đồng này có nhiệm vụ kiến nghị
những việc lớn cho vua nhưng chỉ với tư cách tư vấn chứ không có quyền quyết định.
Cơ quan giám sát: Cơ quan này do vua lập ra và trực tiếp lãnh đạo. Trong đó, có một số đóng
tại chỗ, một số đi thám thính các nơi, xem xét hành vi của các quan lại và nhân viên của nhà nước.
* Ở địa phương
Toàn bộ lành thồ được chia thành 1 đặc khu kinh đô và 4 tỉnh, mỗi nơi do một hoàng thân
đứng đầu có địa vị như Phó vương.
Đặc khu kinh đô gồm Hội đồng quản trị có 30 chức quan, chia thành 6 ban (mỗi ban có 5 uỷ
viên) phụ trách 6 mặt khác nhau: thủ công, ngoại vụ, hộ tịch, thương mại, thuế vụ và giám sát việc
cung cấp sản phẩm.
Dưới tỉnh là huyện, dưới huyện là làng, làng được tồ chức theo từng cấp: cấp 10 làng, 20
làng 1000 làng. Cấp 10 làng trở lên mới hình thành đơn vị hành chính. Các viên chức địa phương
được hưởng một phần thuế, hoặc tô.
3. 2. 4 Trung Quốc
Ở Trung ương
Vua:
Ở Trung Quốc, vua còn gọi là Đế (thời Hạ - Thương), Vương hay Thiên Tử (thời Chu). Vua
tự than thánh hóa bản thân là con trời, thay trời trị vì thế gian.
- Quan đầu triều:
Thời Hạ, Thương: dưới vua là quan Vu Sử giúp vua quản lý triều đình.
Thời Tây Chu: chức quan Thái sư trong Tam công có quyền lớn nhất, giúp vua quản lý công
việc chung của triều đình
- Hệ thống cơ quan giúp việc:
Thời Hạ, Thương:
Thời kỳ này bộ máy quan lại còn sơ sài chỉ mới có một số chức vụ quản lý các công việc như:

Đông cố đại
2. Phân tích tính chất gia trưởng của chế độ nô lệ ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương
Đông cô đại.
3. Chứng minh nhà nước chiếm hữu nô lệ ở phương Đông cổ đại được tồ chức theo hình thức
chính thể quân chủ tuyệt đối
4. Các nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?
a. Yếu tố chiến tranh là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hình thành nhà nước ở các quốc gia
phương Đông cổ đại
b. NÔ lệ là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai cấp thống trị trong xã hội chiếm hữu nô lệ
phương Đông cổ đại.
c Tổ chức bộ máy nhà nước phương Đông cổ đại có sự kết hợp giữa vương quyền và thần
quyền.
CHƯƠNG II
PHÁP LUẬT PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
1 Pháp luật của các quốc gia phương Đông cổ đại
Do hiện nay chưa có các nguồn sử liệu đáng kể về pháp luật của Ai Cập cổ đại, nên phần này
giới thiệu Bộ luật Hammurapi của Lưỡng Hà, Bộ luật Manh của An Độ, pháp luật các triều đại Hạ,
Thương, Tây Chu và tư tưởng chính trị xã hội ảnh hưởng đến pháp luật thời kỳ Chiến quốc của
Trung Quốc cổ đại.
1 1 Bộ luật Hammurapi của Lưỡng Hà
1.1.1 Đặc điểm của Bộ luật Hammurapi
* Nguồn của bộ luật: gồm có 3 nguồn chủ yếu sau:
Kế thừa những tiền lệ và tập quán của người Sumer trong xã hội nước đó (chủ nhân trước đó
của quốc gia này);
Ví dụ: kế thừa Bộ luật Lipitistar của Nip-pua có trước Bộ luật Hammurapi khoảng 200 năm,
Bộ luật của dân thành Esơ-nu-me giữa thế kỷ XX TCN.
Những quyết định (mệnh lệnh, chiếu chi) của vua Hammurapi;
Những quyết định của tòa án các cấp.
Với những nguồn trên cho thấy Bộ luật Hammurapì đã có sự hệ thống hóa rất cao nhất là
công tác pháp điên hóa pháp luật.

người cho vay nếu lấy lãi suất cao hơn mức quy định.
Về phương thức trả nợ vay: Nếu vay thóc hoặc vay bạc khi đến thời hạn mà không có thóc
hoặc bạc để trả thì có thể thay thế thóc bằng bạc và ngược lại (Điều 90), còn có thế dùng vừng để trả
nợ (Điều 5 1 ). Nhưng không được dùng chà là để trả nợ (Điều 66).
Về phương thức bảo đảm thực hiện hợp đồng: Vay thóc có thể dùng ruộng hoặc vườn để làm
vật bảo đám (Điều 49). Đặc biệt, bộ luật quy định dùng thân the con người làm vật bảo đảm hợp
đồng: Nếu vay tiền hoặc vay thóc mà mắc nợ thì chủ nợ có thế giữ người thân hoặc nô lệ của người
mắc nợ làm con tin (Điều 114, Điều 115, Điều 116). Ngoài ra, để trừ nợ người mắc nợ có thể bán nô
IE để trừ nợ, nếu không có nô lệ thì phải bán vợ, con hoặc bán mình làm nô lệ (Điều 117, Điều 118,
Điều 119).
- Hợp đồng lĩnh canh ruộng đất.
Về mức thu lô: Điều 46 quy định mức thu tô đối với từng loại lĩnh canh (vườn là 2/3 sản
phẩm làm ra và ruộng là 1 /3 - 1 /2 sản phẩm). Trách nhiệm của người linh canh trong từng trường
hợp không chuyên cần canh tác (Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 45). Mức bồi thường thiệt hại đối
với người lĩnh canh nếu làm thiệt hại hoa màu trên ruộng người bên cạnh (Điều 53, Điều 54, Điều
55, Điều 56).
Hợp đồng gửi giữ (Điều 104 - 10 7, Điều 121 , Điều 122) :
Quy định khỉ gìn giữ phải có người làm chứng. Mức thù lao gìn giữ. Trách nhiệm của người
nhận giữ tài sản mà không trao nó lại cho người gửi
Các quy định về hôn nhân gia đình
Về thủ tục kết hôn: Bộ luật quy định kết hôn phải có giấy tờ (Điều 128).
Về quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng: Bộ luật quy định công khai sự bất bình đẳng trong
quan hệ vợ chồng, trong đó đề cao vai trò và bảo vệ quyền lợi của người chồng. Người vợ bị xem là
tài sản của người chồng (Điều 141, Điều 143, Điều 144). Quyền ly hôn của người phụ nữ bị hạn chế
rất nhiều. có 3 điều kiện (rẻ người phụ nữ có thể tuyên bố ly hôn: chồng có quan hệ ngoại tình;
chồng bỏ nhà ra đi; chồng vu cáo vợ ngoại tình (Điều 137, Điều 138, Điều 149) .
Tuy nhiên trong một số trường hợp, luật cũng báo vệ quyền lợi của người phụ nữ (Điều 148,
Điều 142). Ngoài ra, luật còn bảo vệ một số giá trị đạo đức trong xã hội (Điều 129, Điều 130, Điều
153, Điều 155).
* Quy định thừa kế

và vũ trụ Nhưng xét trên phương diện pháp lý, chúng ta có thề phân bộ luật Manu thành những chế
định cụ thể.
1.2.2 Nội dung cơ bản
* Quy định về quyền sở hữu
Đối với ruộng đất, thừa nhận ba hình thức sở hữu ruộng đất đó là sở hữu của nhà vua, của
công xã nông thôn và của tư nhân. Đối với đất đai thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì được quyền
mua bán nhưng phải chịu sự giám sát của nhà nước (nếu người bán động sản nhận được số tiền nhiều
hơn giá quy định thì nhà nước sẽ thu hồi số tiền dư đó). Đối với những tài sản khác, nhà nước chi
thừa nhận quyền sở hữu khi có chứng cứ cụ thể chỉ rõ nguồn gốc của nó (mua bán, thừa kế, ban
thưởng).
* Quy định về hợp đồng
Quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Đề cập nhiều đến hợp đồng vay mượn, cầm cố.
Quy định mức lãi tối đa phải trả mỗi tháng, mức lãi suất này tùy thuộc theo từng đẳng cấp trong xã
hội. Sử dụng thân thể con nợ làm vật bảo đảm hợp đồng.
Quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Một hợp đồng không có hiệu lực khi hợp đồng
đó ký kết với người điên, người già yếu, người say rượu, người chưa đến tuổi thành mền, hoặc phải
ký do áp lực hoặc sự lừa dối (Điều 163,,Điều 165, Điều 168). Hợp đồng phải bảo đảm tính công
khai. Tất cả các hợp đồng ký kết bí mật đều là bắt hợp pháp.
Bộ luật đề cập nhiều đến hợp đồng vay, trong đó quy định mức lãi tối đa phải trả mỗi tháng,
mức lãi suất này tùy thuộc theo từng đẳng cấp trong xã hội (Điều 142, chương 8). Cụ thể là:
Bàlamôn chi phải trả 2%, Ksatria trả 3%, Vaishya trả 4%, Sudra trả 5%. Vay tiền thì tống tiền gốc và
tiền lãi không được quá gấp đôi, nếu là ngũ cốc thì không được gấp 5 lần.
Phương thức đảm bảo việc thực hiện hợp đồng: sử dụng thân thể con nợ làm vật bảo đảm
hợp đồng. Nếu con nợ không trả được thì bị biến thành nô lệ để trừ nợ. Nếu con nợ có khả năng trả
được nợ nhưng không chịu trả, lần khất, thì chủ nợ có quyền được đánh đập, hành hạ con nợ cho đến
khi đòi được nợ.
Quy định về hôn nhân gia đình
CÓ 4 hình thức hôn nhân: hôn nhân do cha mẹ định đoạt, cướp cô dâu, mua vợ và- hôn nhân
tự nguyện. Trong đó, hình thức hôn nhân được pháp luật và xã hội tôn trọng nhất là do cha mẹ định
đoạt, và hình thức hôn nhân bị khinh rẻ và lên án là hôn nhân tự nguyện. Người vợ khi bước chân

rút kinh nghiệm thất bại của nhà Thương trong việc chỉ sử dụng hình phạt hà khắc cai trị dân chúng,
nên bên cạnh hình. Nhà Chu còn đặt ra Lễ. Lễ dùng đề phân biệt sang hèn, trật tự tôn. ty trong xã
hội, những nghi thức về ăn, ở, hội họp, ma chay cúng lễ, cưới xin . . .
Hệ thống Lễ gồm 5 loại, gọi là Ngũ lễ. Cát lễ: lễ tế các thần linh; Hung lễ: lễ cúng tế, ma
chay, mất mùa; Quân lễ: lễ ra quân; Tân lễ: lễ tiếp đón các chư hầu; Gia lễ: lễ hôn nhân, lễ lập con
trưởng.
Người ta thực hiện lễ một cách tự nguyện. Lễ trở thành quy tắc sử xử của mọi người trong xã
hội, nếu ai không tuân theo lễ sẽ bị cười chê là không có chính nghĩa, không xứng đáng là bậc trượng
phu. . . Chính vì đặc điềm đó của lễ nên Nhà Chu dựa vào lễ để quản lý xã hội và hình pháp lúc này
dùng đề trừng trị những ai không tuân theo lễ. Dân dần lễ trở thành một yếu tố quan trọng trong pháp
luật nhà Chu
Hình phạt của nhà Chu gồm 5 thang bậc, gọi là phép Ngũ Hình:
Mặc hình (còn gọi là kình (khắc chữ vào tránh): thường được áp dụng đối với người có
những hành vi không đúng đạo nghĩa, nói lời càn rỡ
Tỵ hình (xẻo mũi): thường được áp dụng đối với người có những hành vi như làm trái lệnh
vua, thay đổi chế độ trang phục, lừa đảo trộm cướp làm tổn thương người khác.
Phị hình, còn gọi là nguyệt (chặt chân): thường được áp dụng đối với người có những hành vi
như cạy cưa kho, trèo thành quách mà ăn trộm vặt.
Cung hình, còn gọi là thủ hay tầm thất hình (thiến (đối với nạm) hoặc nhốt vào nhà kín (đối
với nữ): thường được áp dụng đối với nam nữ quan hệ với nhau không đúng lễ nghĩa.
Đại lịch (tử hình): thường được áp dụng đối với người có những hành vi đầu hàng hoặc làm
phản, làm giặc, cưỡng bức, cưỡng đoạt
Thời Dông Chu (Xuân Túu - Chiến Quốc)
Trong thời kỳ này, công cuộc trị quốc của các quốc gia còn bị ảnh hưởng bới các tư tưởng
chính trị. Trong đó, tư tưởng pháp trị có ảnh hưởng !ớn đến phương pháp cai trị của các nhà nước
Trung Quốc thời bấy giờ.
Thuyết pháp trị đề cao vai trò của pháp luật. Về nội dung, nó gồm 3 yếu tố: pháp, thế, thuật.
Pháp: phải có hệ thống pháp luật nghiêm minh, rõ ràng và ban bố rộng rãi cho dân chúng
biết; đồng thời phải chấp pháp nghiêm minh.
Thế: uy quyền của nhà vua.

CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại mang tính bất bình đẳng. Chứng minh sự bạt bình
đẳng này thông qua các bộ luật điển hình mà bạn biết.
2. Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại mang tính trọng hình khinh dân. Chímg mình tính
trọng hình khinh dân này thông qua các bộ luật điển hình mà bạn biết.
3. Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại mang tính đồng thái phục thù. Chứng minh tính chất
đồng thái phục thù này thông qua các bộ luật điển hình mà bạn biết.
4. Vì sao trong pháp luật phương Đông cổ đại, ranh giới giữa dân luật và hình luật không
được phân định rõ ràng. Chứng minh tính chất này thông qua các bộ
5. Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại chịu ảnh hưởng của tôn giáo. Chứng minh những
ảnh hưởng của tôn giáo đến một vài bộ luỹ; điển hình mà bạn biết.
6. Các nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?
a. ở Trung Quốc cổ đại , tư tưởng nho giáo của Khổng Tử có vai trò như các bộ luật thành
văn.
b. Bộ luật Hammurapi quy định chề độ hôn nhân một vợ một chồng.
c Bộ luật Manh quy định sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân.
d. Nội dung xuyên suốt của Bộ luật Hammurapi phản ánh chế độ đẳng cấp ở An ĐỘ thời kỳ
cổ đại.
e. Chỉ có mệnh lệnh của nhà vua mới được xem là nguồn của pháp luật phương Đông cổ đại
CHƯƠNG III
NHÀ NƯỚC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
1. Quá trình hình thành, phát triển và suy vong của nhà nước phương Tây cổ đại
1.1 Cơ sở hình thành Nhà Nước
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Hy Lạp
Hy Lạp cổ đại là vùng đất nằm ở khu vực Địa Trung Hải bao gồm: Miền lục địa Hy Lạp (phía
Nam bán đảo Balcan), miền đất xâm thực ven bờ Tây tiểu Á và những đảo thuộc biển E-giê. Trong
đó, miền lục địa có tầm quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp, chia làm 3 khu vực: Bắc, Trung và
Nam. Nét nổi bật ở cả ba miền là có sự đan xen cấu trúc địa hình với đồng bằng, cao nguyên, rừng
núi và eo vịnh Nhìn chung địa hình bị xé nhỏ.

của nô lệ. . . quan hệ chiếm hữu nô lệ ban đầu mang tính gia trưởng nhưng khi kinh tế phát triển thì
quan hệ này cũng phát triển và mang tính chất điển hình.
Do phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ nên mâu thuẫn giai cấp trở nên rất gay gắt. Giai cấp
nô lệ giữa vai trò quan trọng trong tất cả các ngành sản xuất: nông nghiệp, thủ công nghiệp, phục
dịch trong việc buôn bán, thương mại. Đây là lực lượng làm ra hầu hết các sản phẩm cho xã hội, là
đối tượng bóc lột chủ yếu của chủ nô. Vì vậy, mâu thuẫn giữa giai cấp nô lệ và chủ nô rất gay gắt.
Quan hệ nô lệ ở các quốc gia phương Tây mang tính chất điển hình. Giai cấp nô lệ phan kháng lại sự
áp bức bóc lột bằng nhiều cuộc nổi dậy. Để dập tắt những cuộc đấu tranh đó, giai cấp chủ nô thiết lập
ra nhà nước để quản lý và đàn áp giai cấp bị trị.
1.2 Lịch sử hình thành, phát nên và suy vong của nhà nước phương Tây cổ đại
1.2.1 Hy Lạp.
* Thời kỳ văn minh tối cổ C'et - Myxen (Khoảng thiên niên kỷ thứ III - thiên niên kỷ thứ II
TCN)
Cret là một đảo lớn nằm phía Nam biển Egiê, còn Myxen là một địa danh thuộc đồng bằng
Pelopone.
Xét về mặt thời gian, văn minh Cret xuất hiện trước văn minh Myxen. Mặc dù cả về mặt địa
lý và thời gian đều khác nhau, nhưng có những nét tương đồng về kinh tế xã hội nên được gộp lại và
gọi chung là văn minh tối cổ Cret - Myxen.
Qua các di chỉ khảo cổ học, người ta cho rằng thời kỳ này, tại đảo Cret và Myxen, về kinh tế,
hoạt động trồng trọt và chăn nuôi giữ vai trò chủ đạo. Về xã hội, đã có sự phân hóa giai cấp và có
dấu hiệu chứng tỏ nhà nước đã xuất hiện. Tuy nhiên, đến thế kỷ XI TCN, xuất hiện các tộc người Hy
Lạp đến từ Bắc châu âu đã tràn xuống các vùng đất này tấn công và hủy hoại tất cả. Những tộc người
này lại đang sống trong thời kỳ công xã nguyên thủy nên trong giai đoạn tiếp theo xã hội lại trở về
trạng thái công xã thị tộc mạt kỳ.
* Thời kỳ Hô-me (Thế kỷ XI - IX TCN)
Lịch sử Hy Lạp thời kỳ này được gọi là thời đại Hô-me bởi vì trạng thái đời sống vật chất và
tinh thần của người Hy Lạp được phản ánh chủ yếu qua hai bộ trường ca Iliat và ôđixê, tương truyền
tác giả là nhà thơ mù tên gọi là Hô-me ở tiểu á.
Về kinh tế, thời kỳ này công cụ lao động bằng đồng đã được sử dụng phổ biến, công cụ lao
động bằng sắt cũng đã được sử dụng. Kinh tế thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp với một số

tên thành là Roma. Sự xây dựng thành thị lần đầu tiên là mốc đanh dấu sự rã của chế độ thị tộc và sự
xuất hiện Nhà nước.
Để quản lý xã hội, các bộ lạc cùng nhau thiết lập một tổ gồm các cơ quan sau:
Đại hội nhân dân (Đại hội Curi): gồm tất cả các công dân của cả 3 bộ lạc. Có quyền quyết
định các vấn đề quan trọng tuyên chiến hay nghị hòa, thông qua hoặc bác bỏ những đạo luật Viện
nguyên lão thảo luận trước, bầu vua và các chức quan cao khác, có vai trò là tòa án tối cao. Khi tham
gia đại hội, các công dân nam của mỗi Curi sẽ tập hợp lại thành một đơn vị. Khi biểu quá mỗi Curi
được quyền có một lá phiếu.
Viện nguyên lão (Senat): gồm thủ lĩnh của 300 thị tộc. Mỗi thị tộc cử 1 người tham gia. thông
thường là những người thuộc những gia đình giàu có, danh vọng nhất trong thị tộc. Viện nguyên lão
có thẩm quyền quyết định các công việc quan trọng giữa hai kỳ họp của Đại hội nhân dân, thảo luận
các đạo luật trước khi trịnh trước đại hội công dân. Về sau, quyền lực của Viện nguyên lão dần dần
lớn mạnh và trở thành cơ quan chính quyền trọng yếu của La Mã.
Vua (Rex): do Đại hội Curi bầu ra, thực tế chỉ là tù trưởng liên mình bộ lạc. Thời chiến là
tổng tư lệnh quân đội, thời bình chỉ lo việc tế lễ và xét xử.
* Thời kỳ cộng hòa (thế kỷ VI - I TCN)
Do sự phát triền kinh tế hàng hóa và chính sách mở rộng xâm lược nhiều cư dân mới đến sinh
sống trên lãnh thổ La Mã, tạo thành tầng lớp binh dân Plebs. HỌ không được xem là dân La Mã
chính gốc, không được hưởng bất kỳ quyền lực chính trị nào cả. Thân phận của họ không giống như
nô lệ, họ là dân tự do, phải nộp thuế và đi lính cho người La Mã, tuy nhiên họ có quyền tự do kinh
doanh, được quyền sở hữu ruộng đất. Khi lực lượng này lớn mạnh về kinh tế và quân đội, họ đấu
tranh để đòi hưởng quyền chính trị. Trước tình thế đó người La Mã phải nhượng bộ, thực hiện cải
cách đề đáp ứng yêu cầu của họ.
Giữa thế kỷ thứ VI TCN, vua Xecvius Lutius (người Êtrucxơ) tiến hành cải cách với những
nội dung như sau:
Ba bộ lạc trước kia bị xoá bỏ, thay vào đó là 4 bộ lạc mới, thực chất là 4 khu vực hành chính.
Căn cứ theo tài sản, ruộng đất, ông chia dân cư thành 5 đẳng cấp cứ 5 năm đăng ký lại đẳng
cấp một lần.
Thay Đại hội Cuối bằng Đại hội Xenturi. Đại hội Xenturi vừa là đại hội tổ chức theo đơn vị
quân đội của các đẳng cấp vừa là đại hội mang tính chất hành chính, vì nó được quyền quyết định

lại của Hy Lạp, do đó, tổ chức bộ máy nhà nước của nó cũng khác so với các thành bang khác. đặc
biệt là thành bang Athens. Sự ra đời của nhà nước Sparta là kết quả của quá trình thôn tính của tộc
người đôrien đối với tộc người Akêen. Do người đôrien có trình độ thấp hơn người Akêen nên họ
chủ trương duy trì công xã thị tộc để quản lý và cai trị xã hội. Khi củng cố được sự thống trị của
mình trên cánh đồng Lacôni, người đôrien tiếp tục tổ chức chiến tranh và chiếm được cánh đồng Me
sim và biến người Hillôt thành nô lệ. Lúc này dân cư bị phân hóa thành 3 hạng người khác nhau:
Người Sparta (người Dôrien): là giai cấp thống trị, công việc của họ là cai trị và đánh giặc.
HỌ không phải lao động, các quy tộc thị tộc phân phối cho họ ruộng đất và nô lệ, nô lệ lao động và
nộp một phần sản phạm cho họ (người Sparta không được quyền sở hữu mảnh đất mà họ được chia,
họ chỉ được quyền hưởng hoa lợi thu trên mảnh đất đó). Toàn bộ đất đai và nô lệ thuộc quyền sở hữu
chung của nhà nước.
Người Pêriet: là người Akêen bị chinh phục, họ là người tự do, có ruộng đất để cày cấy và tài
sản riêng, nhưng không có quyền lợi về chính trị và không được quyền kết hôn với người Sparta. HỌ
phải cống nạp và đi lính cho người Sparta, nhưng trong quân đội họ được tổ chức thành đội ngũ
riêng.
Người Hillôt: là nô lệ chung của cả xã hội người Sparta, họ không thuộc quyền sở hữu của
từng chủ nô. Thực chất đây là một dạng "nô lệ công cộng". HỌ bị chia theo những mảnh rương mà
Nhà nước. chia cho người Sparta. Tuy nhiên họ cũng được hưởng một phần thu hoạch. Người Hillôt
cũng phải tham gia quân đội nhưng chỉ làm những việc tạp dịch như vận chuyến, tiếp tế vũ khí lương
thực.
Tổ chức bộ máy nhà nước
Trong trạng thái xã hội đó, bộ máy Nhà nước của Sparta được tổ chức theo hình thức chính
thể Cộng hòa quí tộc chủ nô, gồm các cơ quan nhà nước sau:
- Hai Vua:
Là người đứng đầu bộ máy Nhà nước đồng thời là thành viên của Hội đong trưởng lão.
Quyền lực của 2 vua là ngang nhau. Chức vụ này theo chế độ thế tập, được tôn kính hết mực. Tuy
nhiên, quyền lực của nhà vua bị hạn chế nhiều. Thời bình, vua chi lo việc tế lễ và xét xử; thời chiến
thì thống lĩnh quân đội.
- Hội đồng trưởng lão:
Gồm 30 vị bô lão từ 60 tuổi trớ lên, là những quý tộc danh vọng nhất trong hàng ngũ quý tộc

Đặc điểm kinh tế - xã hội
Athens là trung tâm của đồng bằng Attich, thuộc miền trung Hy Lạp, một đồng bằng hẹp, đất
đai không phì nhiêu, có nhiều đồi núi xung quanh, khí hậu khô, nóng, lượng mưa không đáng kể.
Ngược lại, Attich có nhiều khoáng sản: đá quý, mỏ sắt. đất sét chất lượng cao để làm đồ gốm và bờ
biển dài với nhiều vịnh hải cảng. Nhìn chung, thiên nhiên xứ Attich không thuận lợi phát triển kinh
tế nông nghiệp nhưng thuận lợi phát triển ngành thủ công nghiệp và mậu dịch hàng hải.
Cư dân sống trên đảo Attich là một nhánh người Hy Lạp – người Ionien, khoảng thế kỷ IX
TCN họ đang sống trong giai đoạn mạt kỳ của chế độ công xã thị tộc. Ở đây có 4 bộ lạc (mỗi bộ lạc
có 30 thị tộc) cùng cư trú tại 4 khu vực của Attich. Đến thế kỷ VIII TCN, họ hình thành liên minh bộ
lạc, xây dựng thành Athens. Đó là biểu hiện cho sự xuất hiện nhà nước Athens.
Ban đầu nhà nước Athens cũng được tổ chức theo chính thể Cộng hòa quý tộc chủ nô, quyền
lực tập trung vào tay giai cấp quý tộc thị tộc (quý tộc ruộng đất). Khi kinh tế phát triển, đặc biệt là
kinh tế công thương nghiệp dần dần chiếm vai trò chủ đạo thì thế lực của quý tộc chủ nô công
thương cũng dân phát triển theo. HỌ liên kết với nông dân tự do đấu tranh với giai cấp quý tộc thị
tộc thực hiện các cải cách xã hội từng bước thiết lập nền Cộng hòa dân chủ chủ nô. Nền dân chủ
Athens phát triển chủ yếu qua các cuộc cải cách lớn sau:
- Cải cách của Xôlông (Solon) :
Năm 594 TCN, Xôlông được bầu làm quan chấp chính. Lên cầm quyền, ông đề ra chương
trịnh cải cách kinh tế. chính trị nhằm bảo vệ quyền lợi cho chủ nô công thương nghiệp và các tầng
lớp khác, tấn công vào chế độ sở hữu của quí tộc cũ. Nội dung cải cách chủ yếu của Xôlông:
Về kinh tế, xóa nợ và cấm biến dân tự do Athens thành nô lệ. Xôlông tuyên bố bãi bỏ nợ nằn
của nông dân, những mảnh ruộng mà họ phải đem gán nợ được trả lại. Những người nông dân bán
mình thành nô lệ hoặc phải trốn chạy khỏi Athens vì nợ thì được giải phóng và được hồi hương. Nhà
nước không cho ký kết những hợp đồng vay nợ lấy bản thân làm vật bảo đảm và quy định mức tối đa
sở hữu ruộng đất để tránh nạn kiêm tinh ruộng đất. Bên cạnh đó, ông còn cải cách hệ thống tiền tệ,
cấm xuất khẩu nông sản trừ nho và dầu ôliu, khuyến khích sử dụng thợ thủ công giỏi nước ngoài,
khai khẩn đất hoang. . . điều đó đã thúc đấy nền kinh tế Athens phát triển.
Về xã hội, căn cứ theo tài sản, Xôlông chia dân cư thành 4đẳng cấp. Người dân được hưởng
quyền chính trị tương ứng với đẳng cấp của mình (xoá bỏ đặc quyền của quý tộc thị tộc). Việc làm
này đã mở rộng nền dân chủ Athens, không chỉ đặc quyền của quý tộc thị tộc trước đây.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status