1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Mục tiêu dạy học ở bậc Tiểu học là giúp học sinh hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho Giáo dục phổ thông
và thống Giáo dục quốc dân. Để đạt được mục tiêu này, các trường Tiểu học cần
có sự đổi mới toàn diện về mọi mặt, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học.
Những phương pháp dạy học kích thích được sự tìm tòi, ham học hỏi của học
sinh, rèn luyện cho học sinh tính năng động và sáng tạo đó là phương châm mà
người giáo viên cần hướng tới, chính là dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt
động của người học, tập trung vào hoạt động của người học, rèn luyện cho trẻ
em những năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập Quốc Tế.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán có một vị trí hết sức quan trọng.
Môn Toán trang bị cho các em kiến thức, kỹ năng để ứng dụng trong đời sống.
Môn Toán đóng góp một phần rất quan trọng trong việc rèn luyện suy nghĩ,
phương pháp suy luận logic, pháp giải quyết vấn đề… Nó đóng góp vào việc
phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo. Nó đóng
góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao
động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó, làm việc có kế hoạch, có nề nếp
và tác phong khoa học.
Lớp Một là lớp đầu cấp ở bậc học Tiểu học. Học sinh Tiểu học nhỏ tuổi nên
việc tư duy còn hạn chế. Tư duy của các em phù hợp với tư duy trực quan hơn là
tư duy trừu tượng. Mới tới trường năm đầu, học sinh lớp Một rất bỡ ngỡ từ việc
chuyển hoạt động chủ đạo chơi sang hoạt động học tập. Đặc biệt, tư duy của trẻ
lớp Một là tư duy trực quan cụ thể, đó là kiểu tư duy được hình thành trong quá
trình trẻ vui chơi. Ở lứa tuổi này, các em rất dễ xúc cảm, thích cái đẹp, cái mới
lạ, tích cực ham muốn gần gũi với thiên nhiên, nhạy cảm với các hoạt động văn
học nghệ thuật như: sách, truyện, tranh ảnh, vật thật, phim ảnh, kịch, múa…Bởi
vậy, việc sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan trong
dạy học nói chung, trong dạy học toán nói riêng là điều rất cần thiết. Đồ dùng
trực quan sinh động góp phần to lớn trong việc hình thành kiến thức, trong việc
- Phương pháp nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận:
Điều tra tình hình thực tế học sinh trong lớp.
Thông qua dự giờ, thăm lớp, trao đổi với đồng nghiệp về những thuận lợi,
khó khăn khi dạy mạch số học cho học sinh lớp 1.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin:
Tổng hợp điều tra mức độ học sinh hiểu bài trong các giờ học,
Kiểm tra việc học tập của học sinh, phân loại học sinh để có nội dung và
phương pháp dạy phù hợp với các đối tượng học sinh.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu:
Sử dụng bảng biểu đối chiếu, xử lý số liệu, so sánh số liệu.
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy
học toán lớp 1.
Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Toán ở Tiểu học là rất cần thiết vì
nhận thức của trẻ từ 6 - 11 tuổi còn mang tính cụ thể, gắn với các hiện tượng cụ
thể, hình ảnh cụ thể. Trong khi đó, các kiến thức của môn Toán lại có tính trừu
tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp trực quan sẽ giúp học sinh có chỗ
dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, để nắm được các kiến thức
trừu tượng, phát triển năng lực tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng.
Quan niệm về cụ thể và trừu tượng chỉ có tính chất tương đối. Khi học sinh
6 tuổi học về các số tự nhiên thì khái niệm số tự nhiên là trừu tượng. Giáo viên
phải sử dụng phương tiện trực quan là những vật cụ thể như quả cam, con mèo,
ông hoa, cây... để biểu thị. Như vậy, việc dạy Toán ở Tiểu học phải dựa vào
phương tiện trực quan (ở mức độ khác nhau) và sử dụng phương pháp trực quan
là một việc rất cần thiết. Hầu hết giáo viên đã nhận thức rõ điều đó. Các đồng
2
chí đã lựa chọn sử dụng các phương pháp dạy học vào trong các tiết dạy, song
đáp ứng hết sự phù hợp với từng bài dạy, chưa đủ để phục vụ nhu cầu cần thiết
cho môn Toán.
* Thực trạng về giáo viên.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy tại trường Tiểu học Nga Bạch, bản thân
tôi thấy được những ưu điểm cũng như một số tồn tại khó khăn cần được khắc
phục khi sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học Toán 1 mạch số học như sau:
Hầu hết giáo viên đã nhận thức được tác dụng của các phương pháp dạy
học nói chung và phương pháp trực quan nói riêng, song để vận dụng và thực
hiện như thế nào cho có hiệu quả thì đây là một vấn đề đang cần tìm hướng giải
quyết, bởi vì nếu sử dụng không đúng các phương pháp sẽ vô tình làm cho chất
lượng giờ học kém đi, phi khoa học.
3
- Hầu hết giáo viên đã ý thức được sự cần thiết của việc sử dụng trực quan
trong dạy học Tiểu học nói chung và trong dạy học Toán 1 nói riêng nên họ đã
lựa chọn sử dụng ở đa số các tiết dạy.
- Đồ dùng được sử dụng trong tiết dạy đơn giản, gần gũi với học sinh.
- Trong các tiết toán, một số giáo viên vẫn quan niệm học sinh lớp 1 chủ
yếu nhận biết số và tính toán cộng, trừ là được nên bỏ qua phần trực quan mà
giới thiệu luôn số và phép tính. Vì vậy dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thức máy
móc, không hiểu bản chất vấn đề nên chóng quên kiến thức.
- Chưa nghiên cứu kĩ để hiểu ý đồ của SGK nên đôi khi sử dụng đồ dùng
trực quan trong tiết dạy không khoa học, hợp lí, vì vậy hiệu quả giờ dạy chưa
cao.
- Chưa tuân thủ các yêu cầu căn bản khi sử dụng đồ dùng trực quan.
- Chưa có sự linh hoạt, sáng tạo trong sử dụng phương pháp trực quan cũng
như sử dụng đồ dùng trực quan
- Sử dụng phương tiện trực quan giống nhau dẫn đến sự nhàm chán đối với
7
20,5%
Điểm 5- 6
SL
TL
14
44,3%
Điểm dưới 5
SL
TL
7
20,5%
4
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, học sinh đạt điểm 9, điểm 10 còn hạn
chế, điểm dưới 5 còn nhiều .Khi dạy bài mới, việc sử dụng trực quan đã có song
chưa được chú trọng, tôi thấy học sinh đã thích học môn Toán nhưng kết quả
chưa cao. Điều đó chứng tỏ rằng bản thân các em cần có sự hướng dẫn tỉ mỉ của
giáo viên, tự mình sử dụng trực quan để tìm ra kiến thức và củng cố kiến thức.
Muốn nâng cao chất lượng dạy học, làm thế nào để học sinh tiếp thu bài tốt mà
không nặng nề đối với học sinh? Tôi thấy việc sử dụng trực quan trong giờ dạy
học Toán cần phải có sự chuẩn bị nỗ lực của cả thầy và trò, có biện pháp,
phương pháp sử dụng hợp lý, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để nâng cao
chất lượng dạy học môn Toán thì mới đạt được hiệu quả.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1: Nắm vững bản chất dạy học trực quan và một số yêu cầu
5
1.3.1. Lựa chọn cách sử dụng đồ dùng trực quan phù hợp với từng giai
đoạn học tập của học sinh Tiểu học.
Ở trường Tiểu học, khi sử dụng dạy học trực quan không thể không có
các đồ dùng dạy học toán. Ở đầu năm lớp 1, các đồ dùng dạy học toán thường là
các vật thực (bông hoa, lá cây, quả cà chua, viên bi…), các tranh ảnh về các vật
gần gũi với học sinh (cây, quả, hoa, dụng cụ gia đình, các vật nuôi…), các mô
hình, vật tượng trưng (các hình hình học bằng bìa, bằng gỗ mỏng, bằng nhựa để
học sinh học số, các hình chấm tròn, các hạt tính trên bàn tính, que tính…).
Ví dụ: Khi dạy bài “Số 7”, để giúp học sinh hình thành biểu tượng số 7,
giáo viên sử dụng bộ đồ dùng dạy học toán như sau:
Vì đây là giai đoạn đầu lớp 1 nên giáo viên chọn đồ dùng gần gũi với các
em. Giáo viên yêu cầu học sinh lấy 6 con gấu, sau đó lấy thêm 1 con gấu nữa,
hỏi tất cả có mấy con gấu. Học sinh đếm thêm 1 trên các con gấu để biết được
là: có 6 con gấu thêm 1 con gấu được 7 con gấu.
6
1
7
Tiếp tục như thế, giáo viên cho học sinh thực hiện với quả cam, hình tròn,
ngôi sao…để biết các vật trên đều có số lượng là 7 và số 7 được biểu diễn như
thế nào.
6
1
8
GV sử dụng đồ dùng vào tiết dạy Toán ở lớp 1C - Trường Tiểu học Nga Bạch
Lúc đầu, học sinh lớp tôi lúc đầu còn bỡ ngỡ với việc sử dụng đồ dùng học
tập. Nhưng do có hoạt động định hướng của giáo viên, các em đã không những
không còn xa lạ với việc sử dụng đồ dùng học tập nữa mà còn sử dụng chúng
để tìm tòi, học hỏi kiến thức mới của môn Toán một cách thành thạo.
1.3.2. Sử dụng đồ dùng dạy học Toán đúng lúc, đúng mức độ, không lạm
dụng.
Đồ dùng trực quan hỗ trợ cho học sinh nắm vững kiến thức mới và hỗ trợ
cho việc phát triển tư duy trừu tượng, nhưng không vì thế mà luôn luôn sử dụng
trong suốt cả tiết học. Giáo viên phải sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách.
- Đúng lúc, đúng chỗ: Là phải biết sử dụng đồ dùng nào vào dạy kiến nào,
đồ dùng phải phản ánh được lôgic của kiến thức.
- Đúng cách: Đúng quy trình khi sử dụng đồ dùng dạy học (đúng các thao
tác).
Tôi hướng dẫn cho học sinh phải suy nghĩ tự tìm ra kết quả chứ không thụ
động, cứ quên là lại xòe que tính, hình tròn để tính. Vì thế trong mỗi giờ học
Toán, học sinh lớp tôi không còn thấy khó khăn, trở ngại trong việc làm tính,
tính nhẩm. Một số em trước đây khi cộng trừ các số trong phạm vi 10 còn rất
chậm. Các em thường xuyên phải dùng que tính để tìm kết quả. Nhưng giờ đây,
với các phép tính cộng trừ trong phạm vi 100, các em có thể nhẩm và viết ngay
được kết quả.
Là giáo viên dạy lớp 1, lớp nhỏ nhất trong trường Tiểu học nên trong giờ
học toán nói chung, trong dạy mạch số học nói riêng, tôi đã tổ chức hướng dẫn
cho học sinh sử dụng các đồ dùng học tập bằng tất cả các giác quan tay cầm,
mắt nhìn, tai nghe... để nhận biết, tìm tòi phát hiện kiến thức mới.
- Ví dụ: Khi dạy bài số 6, để biết cấu tạo của số 6, tôi hướng dẫn học sinh:
- Tranh ảnh dùng để biểu thị sự vật.
- Que tính, hạt tính...
- Phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video…
Đồ dùng trực quan dùng trong dạy học toán lớp 1 rất phong phú và đa
dạng. Song để sử dụng một cách có hiệu quả, người giáo viên phải biết lựa chọn
đồ dùng phù hợp giai đoạn phát triển tâm sinh lý học sinh và phù hợp với từng
dạng bài cụ thể.
2.2. Phân loại các dạng toán của mạch số học ở lớp 1.
Việc phân loại các dạng Toán của mạch số học lớp 1 là rất cần thiết, bởi vì
nó giúp giáo viên định hướng được phương pháp cũng như sử dụng lọai đồ dùng
trực quan nào cho phù hợp với từng dạng Toán. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy
phần số học của lớp 1 được chia làm 2 dạng đặc trưng:
a. Hình thành khái niệm số:
- Dạng các số từ 1 đến 10 (8 tiết)
- Dạng các số từ 10 đến 100 (9 tiết)
b. Dạy phép toán
- Bảng cộng, trừ các số trong phạm vi 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10
- Phép cộng không nhớ trong phạm vi 100
- Phép trừ không nhớ trong phạm vi 100. 3
Nội dung số học là nội dung được giảng dạy xuyên suốt trong chương trình
toán lớp 1. Nội dung này chiếm thời lượng tương đối lớn và là chìa khóa cho
chương trình toán. Dạy tốt nội dung toán học lớp Một là hình thành cơ sở then
chốt ban đầu về kiến thức toán cho học sinh.
Giải pháp 3: Nâng cao hiệu quả cách sử dụng đồ dùng trực quan khi
dạy hình thành khái niệm số.
3.1. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy hình thành số có một chữ số.
Khi dạy các số từ 0 đến 10, chúng ta không dạy theo một mô tuýp nhất
định. Không phải bài nào cũng sử dụng trực quan giống nhau mà phải biết linh
hoạt, tránh tình trạng lạm dụng, nhàm chán cho cả giáo viên lần học sinh. Dạy
các số từ 0 đến 10 được chia làm 7 tiết. Lúc đầu mới làm quen với số, nội dung
vật đều có số lượng là 6 và dùng chữ số 6 để biểu diễn.
Để hình thành khái niệm các số từ 7 đến 10 tôi cũng dùng phương pháp
trực quan như dạy bài số 6 nhưng mức độ trừu tượng hóa cao dần, chủ yếu dựa
vào kênh hình để hình thành khái niệm số. Làm được như vậy tôi thấy rằng học
sinh không những nắm vững cấu tạo số mà còn kích thích óc sáng tạo, suy luận
của học sinh khi tìm tòi kiến thức mới.
3.2. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy hình thành các số có hai chữ số.
Khi dạy hình thành các số có hai chữ số, tôi sử dụng phương pháp trực
quan với hình thức khác. Tôi nắm được đặc trưng khi hình thành các số từ 10
đến 100 khác với hình thành các số từ 0 đến 10 ở chỗ: Hình thành số qua phép
gộp chứ không phải đếm tổng thể hay đếm thêm 1. Bởi vì hình thành số lớn thì
không thể đếm nhiều mà phải gộp lại để đỡ cồng kềnh khi sử dụng trực quan.
11
- Ví dụ: Hình thành số 12, tôi hướng dẫn học sinh lấy một bó một chục
que tính sau đó lấy thêm 2 que tính nữa gộp lại để biết có bao nhiêu que
tính.
Tôi yêu cầu học sinh dùng các bó que tính nêu ý kiến của mình, tiếp đó tôi
ghi lên bảng cấu tạo thập phân, gắn với cách viết, cách đọc số như sau:
Chục
1
Đơn vị
2
Đọc
Mười hai
4.2. Dạy phép cộng trong phạm vi 100:
Dạy phép cộng trừ trong phạm vi 10 để làm tiền đề cho việc dạy phép
cộng trừ trong phạm vi 100. Cũng như với phép cộng trừ trong phạm vi 10, dạy
phép cộng trừ trong phạm vi 100 tôi cũng dùng phương tiện trực quan để giúp
học sinh lập được phép cộng hay phép trừ.
- Ví dụ: Bài phép cộng trong phạm vi 100 (cộng không nhớ)
Tôi hướng dẫn học sinh lấy 35 que tính, 30 que là bó que tính mỗi bó 1
chục que tính đặt ở bên trái, còn 5 que tính rời đặt ở bên phải. Sau đó lấy tiếp 24
que tính tách số chục và số đơn vị tương tự như trên, đặt ở bên dưới số 35 theo
số chục và số đơn vị.
Để biết được kết quả là bao nhiêu, tôi giúp các em gộp các số chục lại: 3
chục cộng với 2 chục bằng 5 chục, gộp 5 que tính rời với 4 que tính rời bằng 9
que tính. Cuối cùng tính 5 chục que tính và 9 que tính là 59 que tính. Mặt khác
tôi dùng trực quan để phân tích cấu tạo thập phân của số như sau:
Chục
3
+
2
Đơn vị
5
5
9
4
Ngoài sử dụng phương pháp trực quan bằng đồ dùng trực quan, tôi còn
đó tôi lại cho học sinh lấy 2 que tính, rồi lấy thêm một que tính nữa để được 3
que tính, tiếp đến lấy 1 chấm tròn, rồi lấy 1 chấm tròn, rồi lấy 1 chấm tròn nữa
để được 3 chấm tròn. Từ 3 bông hoa đến 3 que tính, rồi đến 3 chấm tròn đã có
sự chuyển dần từ vật cụ thể sang vật có tính tượng trưng hơn và điều quan trọng
là học sinh từ đó nhận ra được cái chung của các nhóm đồ vật đó là “ba” (số
lượng đều là 3).
Sử dụng đồ dùng như vậy sẽ phát huy được tư duy của học sinh từ cụ thể
sang trừu tượng, giúp học sinh phát triển được óc tư duy sáng tạo trong học toán.
Giải pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin tạo bài giảng điện tử nhằm
nâng cao chất lượng dạy học và gây hứng thú cho học sinh học tập môn
Toán.
Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực giáo dục đã hỗ
trợ tích cực trong dạy học môn Toán. Cụ thể trong thiết kế các tiết dạy giáo án
điện tử, giáo viên đã sữ dụng các hình ảnh sinh động, gần gũi với các em... đã
đem đến sự hứng thú, tích cực khám phá, lĩnh hội kiến thức mới cho học sinh.
Như khi dạy bài “Phép trừ trong phạm vi 6” giáo viên đưa hình ảnh có 6 con vịt
ở dưới ao, sau đó có 1 con vịt đi lên bờ, hỏi dưới ao còn lại trên cành mấy con
vịt?
14
6-1=5
Lúc này các em không còn phải tư duy trừu tượng mà đã tri giác hình ảnh
hai con chim vỗ cánh bay đi, như vậy sẽ dễ dàng thấy ngay kết quả của bài toán.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán đã đem lại hiệu quả
đáng kể trong các tiết dạy. Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý xác định đó chỉ là
phương tiện hỗ trợ dạy học, tuỳ theo từng bài dạy để sử dụng sao cho linh hoạt
hợp lý, tránh lạm dụng quá mức cần thiết nếu không sẽ mang lại hiệu quả giáo
dục không như mong muốn.
Nhìn vào kết quả bài thực nghiệm, tôi thấy rằng chất lượng dạy học được
nâng lên rõ rệt, học sinh thành thạo kĩ năng sử dụng đồ dùng và kĩ năng làm
toán nên đạt điểm 7-8 trở lên tương đối cao, kh«ng cßn học sinh nào đạt
điểm dưới 5. Như vậy có thể đánh giá được rằng những đề xuất mà tôi đưa ra là
khá phù hợp. Nhìn chung học sinh nắm được bài học, có ý thức học tập hơn và
ham thích học môn Toán.
Đánh giá quá trình học tập của lớp: có tới gần 80% học sinh trong lớp luôn
đạt điểm khá giỏi ở môn Toán, tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng dần sau mỗi kì kiểm
tra. Bản thân tôi được nhà trường đánh giá là luôn có sáng tạo trong các giờ dạy
Toán, luôn đạt giờ giỏi trong mỗi kì thao giảng, dự giờ thăm lớp.
15
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Môn Toán là bộ môn rất quan trọng trong chương trình Tiểu học, nó góp
phần hình thành óc tư duy sáng tạo, sự độc lập suy nghĩ của mỗi cá nhân học
sinh. Chính vì vậy, để nâng cao phương pháp dạy học Toán nói chung, mảng số
học nói riêng, người giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, cần chú ý rèn luyện cho học sinh
thao tác sử dụng đồ dùng học tập một cách thành thạo, dựa trên các phương thức
trực quan mà tự mình chiếm lĩnh các tri thức mới. Người giáo viên sử dụng
phương pháp trực quan trong dạy học đúng cách, khoa học, hợp lý thì giờ học sẽ
đạt kết quả cao, tâm lý các em trong giờ học sẽ được thoải mái, nhẹ nhàng. Chất
lượng môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung đã được nâng lên rõ
rệt là nhờ vào sự dày công tìm tòi, nghiên cứu đề tài của người giáo viên.
Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy toán, giáo viên cần lưu ý một số
vấn đề sau:
- Nếu sử dụng đồ dùng trực quan không khéo sẽ làm phân tán chú ý của học
giảng dạy..
2. Đối với Phòng Giáo dục đào tạo: Mở các chuyên đề về SKKN để tạo điều
kiện cho giáo viên học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
* Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân năng lực, trình độ còn hạn
chế vì vậy những đề xuất, biện pháp tôi đã nêu ở trên sẽ không tránh khỏi sai
sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học, cũng như của
các đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Yên Thị Hạnh
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết sáng kiến
Mai Thị Bích Hợp
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học - Nhà xuất bản GD
2. Sách giáo viên Toán lớp 1- Nhà xuất bản GD.
3. Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 1(tập 1) - Nhà xuất bản GD
4. Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 1(tập 2) - Nhà xuất bản GD
5. Sách giáo khoa Toán 1.
6. Nguồn Intonet - Phương pháp dạy học trực quan.
thông qua việc tổ chức trò
chơi học tập
Nâng cao chất lượng học
Toán cho học sinh lớp 1
thông qua việc tổ chức trò
chơi học tập
Nâng cao chất lượng học
Toán cho học sinh lớp 1
thông qua việc tổ chức trò
chơi học tập
Cấp đánh giá
xếp loại
Kết quả
đánh giá
xếp loại
Năm học
đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)
(A, B, hoặc C)
Cấp huyện
B
C
2014-2015
19
MỤC LỤC
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trang
1
1
2
2
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2
2.1.Cơ sở lí luận của vấn đề
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
17
20
21