Luận văn
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ
AN TOÀN CỦA CÁC KHOẢN
TÍN DỤNG CÓ BẢO ĐẢM CỦA
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC
DOANH TẠI NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG THANH XUÂN CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
1.1. KHÁI NIỆM BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM
TIỀN VAY.
1.1.1. Khái niệm bảo đảm tiền vay.
Bảo đảm tiền vay là việc bảo về quyền lợi của người cho vay dưa trên
cơ sở thế chấp cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh
của bên thư ba.
Các ngân hàng và các định chế tài chính khác coi bảo đảm tiền vay là
nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ)
không thể thanh toán được nợ.
Nếu cho vay kinh doanh thì nguồn thu nợ thứ nhất là từ doanh thu thực
tế (cho vay ngắn hạn) hoặc khấu hao và lợi nhuận (cho vay trung và dài hạn).
Còn trong cho vay tiêu dùng thì nguồn thu nợ thứ nhất là các khoản thu nhập
các nhân như tiền lương, lợi tức từ cổ phiếu, trái phiếu. Tất cả các nguồn thu
nợ thứ nhất đều được thể hiện dưới dạng lưu chuyển tiền tệ của người đi vay.
quản lý của NHTM vì thế những món vay có Chính phủ bảo đảm là rất an
toàn hơn thế nữa nó thể hiện quan hệ cấp trên đối với cấp dưới.
c) Cho vay cá nhân hộ gia đình nghèo có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ
chức đoàn thể.
Loại hình cho vay này áp dụng phổ biến trong lĩnh vực cho vay hộ
nông dân. Trong phạm vi chuyên đề tốt nghiệp này chúng ta không đề cập đến
loại hình cho vay này.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh không được áp dụng không rộng rãi trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam do đó chúng ta sẽ không đi sâu vào vấn đề này mà chỉ
điểm qua các loại hình cho vay không có bảo đảm bằng tài sản mà tập trung
vào cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
1.1.2.2. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
Đối với loại hình cho vay này khách hàng cần có tài sản thuộc sở hữu
của chính mình để cầm cố thế chấp tại ngân hàng hoặc có thể được bảo lãnh
bằng tài sản từ bên thứ 3 hoặc cũng có thể sử dụng tài sản từ tiền vay để bảo
đảm cho món vay của mình.
Nói chung bất kỳ tài sản hay quyền về tài sản được giao dịch mà có khả
năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ thì đều được làm bảo đảm. Tuy nhiên dưới góc độ người cho vay tổ chức tín dụng sẽ xét cho vay những món vay mà bảo đảm
phải có ba đặc trưng.
* Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ bảo đảm. Nghĩa vụ được bảo
đảm gồm vốn gốc, lãi (kể cả lãi quá hạn) và các chi phí khác trừ trường hợp
các bên thoả thuận lãi và các chi phí không thuộc phạm vi bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ.
Bảo đảm tín dụng không chỉ mang ý nghĩa là nguồn thu nợ thứ hai của
ngân hàng mà nó còn có ý nghĩa thúc giục người đi vay phải trả nợ đúng hạn
nếu không tài sản của họ sẽ bị phát mại đồng nghĩa với việc họ sẽ mất tài sản.
toán đủ nợ gốc lãi và lãi quá hạn cho ngân hàng.
Đối với những tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì tài sản có thể giao
cho bên cho vay hoặc thoả thuận để bên đi vay sử dụng tài sản nhưng giấy tờ
đăng ký quyền sở hữu do ngân hàng hoặc bên thứ ba giữ.
Tài sản cầm cố là các giấy tờ có giá trị, kim loại quý, đá quý thì ngân
hàng cần phải thận trọng vì có thể bị giả mạo. Ngân hàng cần xem xét tính
hợp pháp của cơ sở cấp giấy tờ đó. Cho vay cầm cố tài sản là loại hình cho
vay thủ tục đơn giản và ít rủi ro. Ngân hàng hiện nay thường chuộng loại
hình thức cho vay này đặc biệt là cầm cố bằng giấy tờ có giá.
a.2. Cho vay có bảo đảm bằng thế chấp tài sản của khách hàng.
Thế chấp tài sản là việc bên đi vay dùng tài sản là bất động sản thuộc
sở hữu của mình hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để đảm bảo thực
hiện nghĩa vụ với bên cho vay.
Theo quy định của Luật dân sự và Luật đất đai thì có hai loại thế chấp:
thế chấp bất động sản và thế chấp giá trị quyền sử dụng đất.
* Thế chấp bất động sản.
Bất động sản là tài sản không di dời được (nhà ở, cơ sở sản xuất kinh
doanh). Ngoài ra còn có cả hoa lợi lợi tức, khoản tiền bảo hiểm phát sinh từ
bất động sản thế chấp.
* Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước thực hiện giao đất hoặc cho thuê
đất đối với các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế sử dụng ổn định lâu dài.
a.3. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản của bên bảo lãnh.
Bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản là bên bảo lãnh phải có tài sản để
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Việc bảo lãnh tài sản được thực hiện theo biện
pháp cầm cố hoặc thế chấp tài sản. Thực chất đây là hình thức bảo đảm kép
nhằm đề phòng khi người bảo lãnh không thực hiện được đúng nghĩa vụ thì
ngân hàng có thể xử lý tài sản kèm theo bảo lãnh.
a.4. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
hàng. Trong quá trình giám sát, tổ chức tín dụng mà thấy bất kỳ dấu hiệu rủi
ro nào thì phải có biện pháp nhắc nhở hoặc sử dụng biện pháp mạnh (như nêu
trên) để đảm bảo khoản tín dụng đó an toàn có chất lượng.
Thứ ba, là tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nếu
khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh khoản cho
khoản nợ (gốc + lãi). Tổ chức tín dụng không phải hỏi ý kiến của chủ tài sản
vì tổ chức tín dụng được phép làm như thế là do điều khoản đó đã được ghi
trong hợp đồng bảo đảm và được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng và
được Chính phủ cho phép xử lý theo NĐ178. Thứ tư, sau khi đã xử lý bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc
bên bảo lãnh chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng hoặc bên
bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
Điều này xảy ra khi số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo chưa đủ
để thanh toán nợ vay. Trong trường hợp này tổ chức tín dụng vẫn có quyền
truy đòi người đi vay số còn thiếu hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ bảo đảm.
1.2.2. Thủ tục hợp đồng bảo đảm.
1.2.2.1. Hợp đồng bảo đảm.
Kèm theo với hợp đồng tín dụng thì có một hợp đồng rất quan trọng đó
là hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng bảo đảm xét về nguyên tắc thì phải lập thành
hợp đồng riêng, nhưng cũng có trường hợp không cần phải lập thành một hợp
đồng riêng mà chỉ ghi chung vào hợp đồng tín dụng.
Chẳng hạn ở hệ thống Ngân hàng công thương thì việc cầm cố tài sản
là giấy tờ có giá thì giám đốc chi nhánh có thể xem xét không cần lập hợp
đồng cầm cố riêng mà có thể ghi chung vào hợp đồng tín dụng (Công văn
1472/CV - NHCT5)
Tuy nhiên đối với trường hợp thế chấp (thế chấp giá trị quyền sử dụng
tài sản đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền quản lý sử dụng đối với
các doanh nghiệp và phải giao cho tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy tờ
này. Khi cơ quan đăng ký quốc gia thành lập sẽ tiến hành việc đăng ký giao
dịch theo quy định của Chính phủ.
Các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản với tài
sản là hợp đồng mua bán cho tặng tài sản, hợp đồng theo quy định của Bộ Tài
chính, chứng từ nộp tiền, văn bản giao tài sản, biên bản nghiệm thu công trình
và các giấy tờ khác kèm theo.
Đối với tài sản thế chấp không phải là giá trị quyền sử dụng đất thì tổ
chức tín dụng thực hiện như đối với tài sản cầm cố. Còn đối với tài sản thế
chấp là giá trị quyền sử dụng đất thì tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất để tránh trường hợp khách hàng sử dụng một
tài sản thế chấp cho nhiều món vay tại nhiều tổ chức tín dụng mà tổng giá trị
tài sản lại nhỏ hơn tổng giá trị nghĩa vụ.(Hiện nay theo Nghị định 178 thì một
tài sản chỉ được thế chấp tại một TCTD)
1.2.2.4 Định giá tài sản bảo đảm.
Về nguyên tắc, việc định giá tài sản bảo đảm phải theo giá thị trường.
Nếu định giá cao hơn thị trường có thể dẫn đến khi phát mãi tài sản (hoặc
chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng) trong trường hợp khách hàng không trả nợ, Ngân hàng không thu hồi đủ nợ gốc lãi và chi phí khác. Nếu định giá thấp
hơn giá thị trường sẽ ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho khách
hàng và làm suy yếu tính cạnh tranh của ngân hàng.
Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm phải được thực hiện tại thời điểm
ký kết hợp đồng bảo đảm, việc xác định này chỉ làm cơ sở để xác định mức
cho vay của tổ chức tín dụng chứ không áp dụng khi xử lý tài sản để thu hồi
nợ. Việc xác định phải được lập thành văn bản kèm theo hợp đồng bảo đảm.
Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất là vấn đề rất phức tạp. Đó là do
trong điều kiện Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống
Trong trường hợp mức cho vay hơn 100 triệu thì chi nhánh xem xét
quyết định lập hay không lập tổ thẩm định tài sản bảo đảm phù hợp với thực
tế tại chi nhánh như việc xác lập phải lập thành văn bản.
(Công văn 1219 và 1472/CV-NHCT5)
Sở dĩ phải quy định như trên vì nếu địa bàn của ngân hàng khác nhau sẽ
ảnh hưởng đến chất lượng khoản tín dụng. Chẳng hạn ở địa bàn thành phố thì
món vay < 100 triệu ta không cần phải phải lập tổ thẩm định nhưng nếu ngân
hàng và khách hàng ở địa bàn nông thôn thì món vay gần 100 triệu phải thành
lập tổ thẩm định tài sản bảo đảm.
1.3. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM.
1.3.1. Trường hợp khách hàng phải trả nợ đúng hạn và đầy đủ.
Đối với ngân hàng với tư cách là chủ nợ việc xử lý tài sản bảo đảm phải
đảm bảo thoả mãn tốt nhất hai yêu cầu sau:
- Số tiền thanh toán là giá bán sau khi đã trừ hết chi phí phải ở mức giá
bán sát giá thị trường ở thời điểm tốt nhất với chi phí thấp nhất.
- Thời gian xử lý tài sản: Cần phải xử lý nhanh tài sản nếu sử lý chậm
sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng vì hai lý do sau:
Ngân hàng không thu được lãi tiền vay trong khi vẫn phải trả lãi tiền
gửi do vốn bị đóng băng
Kéo dài thời gian gây tốn kém chi phí và giảm giá trị tự nhiên của
tài sản.
Hợp đồng bảo đảm không có thời hạn riêng mà thời hạn của nó phụ
thuộc vào hợp đồng tín dụng. Điều này nghĩa là khi người đi vay thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được đảm bảo bằng tài sản thì thời hạn thế chấp chấm
dứt. Sau khi người đi vay trả hết nợ (vốn gốc + lãi) ngân hàng sẽ trả lại giấy
chứng nhận sở hữu tài sản thế chấp cho người vay và lập giấy xác nhận giải
toả tài sản bảo đảm gửi đến cơ quan đơn vị có liên quan.
hành thu hoặc trích từ nguồn tiền này để trả nợ. Đây là cách được các ngân hàng thương mại Việt Nam áp dụng rộng rãi
và yêu thích. Đối với khách hàng có tiền gửi kỳ hạn nhưng chưa đến hạn rút
tiền mà có nhu cầu chi tiêu lại không muốn mất khoản tiền lãi thì đây là
phương thức cấp tín dụng được ưa chuộng (cả ngân hàng và khách hàng).
a.3. Yêu cầu toà án xử lý để truy đòi nợ trong trường hợp có dấu hiệu tranh
chấp hoặc lừa đảo.
b. Xử lý tài sản vật chất.
Trường hợp tài sản cầm cố không cần đăng ký sở hữu hoặc lưu hành
(hàng hoá, vật liệu, đồ dùng gia đình) thì theo luật pháp quy định nếu không
có thoả thuận trong trường hợp cầm cố, hợp đồng tín dụng thì ngân hàng sẽ
cầm giữ tài sản và khi đến hạn đã cam kết mà khách hàng không trả nợ xong
nợ, ngân hàng có quyền xử lý tài sản cầm cố theo thoả thuận trong hợp đồng
hoặc theo quy định của Thông tư liên tịch số 03.
Trường hợp tài sản cầm cố phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký
lưu hành thì được xử lý như tài sản thế chấp nêu dưới đây.
1.3.2.2. Xử lý tài sản thế chấp.
Việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo nguyên tắc đồng thoả
thuận hoặc theo phán quyết của toà án. Hai bên có thể thoả thuận trong hợp
đồng cách thức xử lý tài sản thế chấp.
Chẳng hạn, trong hợp đồng thế chấp có thể ghi điều khoản khi bên đi
vay không trả được nợ thì tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên cho
vay hoặc hai bên có thể thỏa thuận ngay khi xử lý tài sản thế chấp. Tuy nhiên
trên thực tế thường xảy ra những bất đồng về giá giữa bên thế chấp và bên
nhận thế chấp. Trong trường hợp này, theo Nghị định 178 tổ chức tín dụng
được quyền quyết định giá bán tài sản để thu hồi nợ. Trước khi tổ chức tín
dụng quyết định giá xử lý tài sản thế chấp, tổ chức tín dụng thuê công ty tư
vấn, tổ chức chuyên chuyên môn xác định, tham khảo giá thực tế tại địa
Đối với tài sản tài chính và quyền tài sản thì các ngân hàng nên lưu ý
đây là giấy tờ có giá và cẩn trọng với giấy tờ chứng chỉ có giá khống.
1.4.1.2. Rủi ro tài sản thế chấp.
Đối với tài sản thế chấp là tài sản bất động sản như nhà xưởng, máy
móc thiết bị. Mặc dù những tài sản đều do ngân hàng nắm giữ bản chính giấy
chứng nhận quyền sở hữu những vẫn không an toàn. Giá trị tài sản bị hao
mòn hữu hình và vô hình, thị trường tiêu thụ loại tài sản này không rộng rãi
như thị trường hàng hoá nguyên vật liệu trong cầm cố.
Đối với tài sản cầm cố là giá trị quyền sử dụng đất thì rủi ro nằm ở cả
phía thị trường và Nhà nước.
Khi thị trường tiền tệ không đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư thì họ sẽ chuyển
sang lĩnh vực đất đai, điều này làm cho giá cả đất biến động nên việc định giá
tài sản của ngân hàng có khả năng không chính xác hoặc giá cao hơn giá thị trường, ảnh hưởng đến an toàn của khoản tín dụng, hoặc thấp hơn giá trị thị
trường ảnh hưởng đến mức cho vay của ngân hàng, do đó chiến lược khách
hàng bị ảnh hưởng.
Hoặc khi có quy hoạch của Chính phủ thì tài sản thế chấp lúc mang đi
thế chấp thì là tài sản hợp pháp nhưng do có quy hoạch thì tài sản đó lại trở
thành tài sản bất hợp pháp. Điều này gây thiệt hại lớn cho ngân hàng vì người
đi vay sẽ có động cơ không trả nợ và tài sản lại không thể xử lý để thu hồi nợ.
1.4.1.3. Rủi ro của hình thức bảo đảm bằng bảo lãnh.
Đối với trường hợp bảo lãnh đối vật thì mức độ rủi ro tương tự như các
hình thức bảo đảm bằng tài sản.
Đối với trường hợp bảo lãnh đối nhân thì rủi ro xảy ra khi người bảo
lãnh chết, pháp nhân bảo lãnh chấp dứt hoạt động hoặc bên bảo lãnh không
thực hiện được nghĩa vụ cam kết.
Theo quy định của luật dân sự, trong thế chấp hoặc cầm cố nếu bên thế
chấp cầm cố chấm dứt (cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt hoạt động) thì
2.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN
HÀNG CÔNG THƯƠNG THANH XUÂN
2.1.1. Sự hình thành ngân hàng công thương Thanh Xuân.
Quận Thanh Xuân được thành lập từ đầu năm 1997 là địa bàn có thế
mạnh về sản xuất công nghiệp, có tiềm năng để mở rộng thị trường tiền tệ tín
dụng để đáp ứng nhu cầu huy động vốn, cung ứng vốn tiền tệ dịch vụ. Thanh
toán góp phần tạo môi trường giúp các doanh nghiệp, thành phần kinh tế trên
địa bàn phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Ngày 08/03/1997
Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCT Việt Nam ra quyết định thành lập số
17/HĐQT-QĐ về việc thành lập Chi nhánh ngân hàng công thương Thanh
Xuân và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 22/04/1997.
Chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân ra đời đánh giá sự phát
triển không ngừng của cuộc đổi mới kinh tế đất nước nói chung, sự phát triển
hoạt động kinh doanh, dịch vụ tiền tệ, thanh toán của hệ thống ngân hàng
công thương nói riêng. Từ phòng một giao dịch chủ yếu huy động tiết kiệm và
cho vay thành phần kinh tế trong và ngoài quốc doanh được nâng cấp thành
chi nhánh trực thuộc ngân hàng công thương Việt Nam với chức năng hoạt
động đầy đủ của chi nhánh ngân hàng thương mại quốc doanh đóng trên địa
bàn quận Thanh Xuân.
Ngay từ khi thành lập, chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân
đã đối mặt với những thử thách lớn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm
vụ kinh doanh tiền tệ tín dụng do "sinh sau đẻ muộn" các đơn vị tổ chức kinh tế đều đã quan hệ lâu đời và mật thiết với các tổ chức tín dụng lớn trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Mặt khác tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khó khăn
do năng lực tài chính yếu, kỹ thuật công nghệ thiếu đồng bộ và lạc hậu, thiếu
vốn đầu tư, công nợ lớn ở nhiều đơn vị nên có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh
doanh dịch vụ của Chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân.
Chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân đã khắc phục cơ bản những
khó khăn tồn tại đó. Đảng uỷ cùng với Ban lãnh đạo luôn đi sâu, đi sát nắm
bắt tình hình của các đơn vị có mở tài khoản tại ngân hàng, qua đó nắm được
tình hình vay vốn của đơn vị. Mặc dù lãi cho vay và nhận tiền gửi trong
những năm gần đây liên tục giảm, chênh lệch đầu vào và đầu ra ngày càng thu
hẹp, cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng diễn ra quyết liệt. Nhưng với những
biện pháp kinh doanh tích cực Chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân
đã quyết tâm thực hiện mục tiêu "ổn định, an toán, hiệu quả và phát triển".
2.1.3. Mô hình tổ chức của ngân hàng công thương Thanh Xuân.
Chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân gồm 139 cán bộ công
nhân viên hiện làm tại các phòng ban dưới sự lãnh đạo của 01 Giám đốc và 02
Phó giám đốc.
- Phòng Kinh doanh có chức năng huy đồng vốn của các đơn vị và tổ
chức kinh tế tư nhân, cá thể quốc doanh và ngoài quốc doanh sử dụng vốn cho
vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế.
- Phòng Quản lý tiền gửi dân sự hoạt động chủ yếu huy động tiền gửi
trong dân sư.
- Phòng Kế toán tài chính tổ chức thanh toán cho khách hàng giám sát
tình hình vay, nợ thu hồi lãi hạch toán thu chi trong nội bộ ngân hàng, tiến
hành dịch vụ ngân hàng khác.
- Phòng Kho quỹ bảo quản tiền mặt và các tài khoản khác của ngân
hàng và khách hàng.
- Phòng Kiểm soát có trách nhiệm kiểm tra thực thi các chế độ thể lệ tại
ngân hàng.
- Tổ Điện toán trực thuộc phòng Kế toán: xử lý thông tin, truy cập
thông tin và số liệu, quản lý máy vi tính.
Các phòng ban được tổ chức theo hướng chuyên môn hoá nhưng có
quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
toàn ngân hàng
Mô hình tổ chức tại ngân hàng công thương Thanh Xuân
Thanh Xuân đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ
2.2. VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH.
Kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế đến nay, vai
trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế ngày càng quan
trọng. Khu vực này tạo ra một phần không nhỏ GDP thu hút và tạo công ăn
việc làm cho nhiều lao động.
2.2.1. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh với nền kinh tế nói
chung.
Kể từ khi đổi mới đến nay bộ mặt kinh tế xã hội của nước ta cũng từng
bước được cải thiện. Chất lượng cuộc sống được nâng cao dần theo mức thu
nhập cho nền kinh tế.
Khu vực kinh tế này tạo việc làm cho nhiều lao động, thu được ngoại tệ
về cho đất nước từ việc xuất khẩu hàng hoá, bán dịch vụ cho người nước
ngoài. Khu vực kinh tế này cũng rất nhạy cảm với thị trường. Các nhà quản lý
có thể nhìn sự phản ứng của khu vực kinh tế này với biến động tiềm ẩn trên
thị trường để đưa ra chính sách biện pháp đối phó.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong đó có các công ty liên doanh,
công ty 100% vốn nước ngoài, công ty cổ phần với cách quản lý điều hành
mới có tác phong công nghiệp, chuyên môn hoá sâu sắc nên đã có ảnh hưởng
tốt với các công ty của Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam đã học hỏi
được kinh nghiệm quản lý nghệ thuật Marketing và cách thức phân công điều
hành công việc từ phía các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Những điều học hỏi đó đã được áp dụng có sáng tạo phù hợp với điều kiện của các doanh
nghiệp Việt Nam và đã có hiệu quả rõ rệt.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vai trò to lớn trong việc chuyển
dịch cơ cấu nền kinh tế. Hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt
động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ. Khu vực công nghiệp và dịch vụ
là hướng mà nền kinh tế Việt Nam vươn tới để Việt Nam trở thành nước công
dụng không bảo đảm cho khách hàng nếu doanh nghiệp chứng minh phương
án sản xuất kinh doanh của mình là khả thi và hội đủ điều kiện tại Thông tư
06. Vốn tự có của doanh nghiệp tham gia vào phương án sản xuất kinh doanh
đó tối thiểu 30%. Lúc đó ngân hàng sẽ thực hiện biện pháp cầm quản cả kho
hàng đối với toàn bộ lô hàng nếu khách hàng đồng ý thì ngân hàng sẽ tiến
hành cho vay và giải ngân.
Trường hợp đó nếu khách hàng đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng
và ngân hàng xem xét quyết định cho vay không có đảm bảo bằng tài sản
nhưng không vượt mức uỷ quyền phán quyết của Tổng giám đốc Ngân hàng
công thương Việt Nam. Ngân hàng xem xét cho vay không quá 10 tỷ với
doanh nghiệp có vốn đàu tư nước ngoài và không quá 5 tỷ với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh khác.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài nếu doanh nghiệp
đó lỗ theo kế hoạch do mới đi vào hoạt động tại Việt Nam chưa quá 3 năm,
nhng nếu xét có khả năng thực hiện kế hoạch lỗ thì Ngân hàng công thương
tranh luận xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản mà phù hợp với
quy định khác tại mục 2 chương IV Nghị định 178.
Trên thực tế, hiếm có doanh nghiệp ngoài quốc doanh đáp ứng được
các điều kiện ngặt nghèo để được tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng mà
không có tài sản bảo đảm.
Còn với doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài thì lại có nguồn vốn
dồi dào và được các ngân hàng nước họ phục vụ nên khi gặp những khó khăn
trong lĩnh vực vay vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam thì họ sẽ
không thực hiện việc vay vốn tại ngân hàng thương mại Việt Nam mà sẽ vay
vốn tại các ngân hàng nước ngoài. 2.3.2. Hình thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại Ngân hàng công thương Thanh Xuân.
2.3.2.1. Cho vay thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.
những lại không được Ngân hàng công thương Thanh Xuân quyết định cho
vay. Điều này có nhiều lý do.
Thứ nhất, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh họ mới quan hệ với các
ngân hàng nên uy tín của họ chưa cao. Mà trong lĩnh vực kinh doanh ngân
hàng uy tín là tiêu chuẩn đầu tiên và quan trọng nhất. Trong hệ thống cho
điểm khách hàng (CAMPARI hoặc 5C) thì tiêu thức uy tín được xếp lên hàng
đầu. Có thể nói quan hệ với ngân hàng thì uy tín xếp hạng đầu, khách hàng
(doanh nghiệp) có uy tín, quan hệ lâu dài với ngân hàng, quan hệ vay trả đúng
kỳ hạn và đúng kế hoạch sẽ được xếp là khách hàng có uy tín lớn và yếu tố
đảm bảo không phải là yếu tố quyết định đến việc cho vay.
Thứ hai, là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và phương án kinh
doanh của họ chưa tạo được niềm tin cho ngân hàng. Các phương án mà
doanh nghiệp đưa ra mang tính chất tự phát, nghĩa là thị trường có phong trào
kinh doanh mặt hàng gì thì họ mới lập phương án. Như vậy, thời điểm dự án
được đi vào hoạt động thì thị trường đã bão hoà. Do đó ngân hàng khó có thể
xem xét cấp vốn cho dự án như thế này được. Ngân hàng cấp vốn tín dụng
cho nền kinh tế nên phải đảm bảo phải thu hồi đủ vốn và lãi để tiếp tục quay
vòng vốn tín dụng mới. Các phương án khác thì sẽ được ngân hàng xem xét
cùng với sự hiểu biết về tính cách uy tín của khách hàng.
Thứ ba, là mức vốn tự có ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp tham gia
vào dự án nhưng doanh nghiệp lại không đáp ứng đủ. Có những doanh nghiệp
đề nghị vay vượt quá số phần trăm quy định của tổng nhu cầu dự án. Số phần
trăm vốn tự có tham gia vào dự án không đủ yêu cầu tối thiểu 30% nên ngân
hàng khó lòng chấp thuận cho vay. Ngân hàng muốn vốn của ngân hàng cùng
vận động với vốn của khách hàng, như thế thì khoản cho vay sẽ được an toàn.
Thứ tư, là vấn đề về bảo đảm tiền vay. Sở dĩ đây được xem là yếu tố
khó khăn để các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng. Họ vừa
chưa có đủ uy tín vừa muốn vay món vay lớn phục vụ sản xuất kinh doanh mà
không có bảo đảm thì không thể tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng. Đối với
món vay tương đối lớn, khách hàng phải có tài sản có giá trị lớn hơn giá trị
100
Cho vay và đầu tư
47.993,55 100
247.063,55
100
317.231,05
100
370.731,75
100
638.051,65
100
1) Đtư vào CKCP
0 0 0 0 0 0 4741,3 1,28
0,0024
2) Uỷ thác CV 0 0 0 0 0 0 0 0 74.735,4 11,71
Bảng 2: Tình hình cho vay nền kinh tế theo thành phần kinh tế của ngân
hàng công thương Thanh Xuân
Chỉ tiêu
Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
STĐ
% với
dư nợ
STĐ
% với
dư nợ
STĐ
% với
dư nợ
STĐ
% với
dư nợ
STĐ
% với
dư nợ
Cho vay QD 21.363,9
44,3726
217.005,15
44,3726 % tổng khối lượng ngân hàng cho vay nền kinh tế. Đây là lượng lớn
vốn tín dụng cả về số lượng tuyệt đối và số tương đối. Như vậy, trong năm
đầu tiên đi vào hoạt động ngân hàng công thương Thanh Xuân thực sự đã đáp
ứng phần nào rất lớn nhu cầu vốn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong
và ngoài địa bàn quận Thanh Xuân.
Năm hoạt động đầu tiên của ngân hàng công thương Thanh Xuân
không chỉ thành công trong lĩnh vực sử dụng tài sản mà thành công cả trong
nghiệp vụ nguồn vốn. Tỷ lệ dư nợ của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
trên tổng nguồn huy động là 14,37%. Đây là chỉ tiêu tương đối cao nhưng dù
vậy vẫn đản bảo an toán vì năm đầu tiên hoạt động mà tỷ lệ nợ quá hạn trên
tổng dư nợ 0,41%. Đây là mức an toàn thậm chí rất an toàn so với chỉ tiêu nợ
quá hạn của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 0,44% trên tổng dư nợ
quán hạn. Nợ quá hạn năm đầu tiên khá thấp chứng tỏ công tác cho vay thu
nợ, cho vay có đảm bảo điều kiện chặt chẽ được thực hiện đúng quy trình
nghiệp vụ cho vay của ngành ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng
công thương Việt Nam nói riêng.
Đến năm thứ hai trong quá trình hoạt động, ngân hàng công thương
Thanh Xuân tăng mức dư nợ cho nền kinh tế đạt 513,15% mức dư nợ cùng kỳ
năm 1997 và tăng 413,15%. Đây là con số đánh dấu sự trưởng thành đi lên
của ngân hàng công thương Thanh Xuân. Tuy nhiên dư nợ cho vay khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh (được bảo đảm hết) đạt 30.008,4 (triệu) chiếm tỷ lệ
12,146% tổng dư nợ đối với nền kinh tế. Xét về số tương đối ta nhận thấy tỷ
trọng có giảm nhưng số tuyệt đối tăng và tăng 8.644,5 (triệu) tăng 40,46% so
với mức dư nợ của khu vực này năm 1997.
Như vậy, xét về số tuyệt đối thì mức dư nợ của khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh tăng và điều đó chứng tỏ các biện pháp bảo đảm tiền vay được
thực hiện an toàn theo các công văn hướng dẫn của Tổng giám đốc ngân
hàng công thương Việt Nam. Cũng nhờ đó mà các doanh nghiệp thuộc khối
này có số nợ quá hạn trên tổng dư nợ là tương đối thấp chỉ có 490,33 (triệu)
chiếm 14,29% tổng nợ quá hạn. Trong năm hoạt động thứ hai tỷ lệ nợ quá hạn Biểu đồ: Xu hướng biến động dư nợ đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh
Biến động mức dư nợ qua 5 năm hoạt động.
20417
15920,5
9517,45
21363,9
30008,4
0
5000
10000
15000
20000
25000
30000
35000
1997 1998 1999 2000 2001
n¨m
triÖu ®ång