i
g.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
DOÃN THỊ TRƯỜNG NHUNG
NGHIÊN CỨU SINH THÁI CẢNH QUAN TỈNH SƠN LA
PHỤC VỤ QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2018
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án “Nghiên cứu sinh thái cảnh quan tỉnh Sơn La phục vụ quy
hoạch, phát triển kinh tế - xã hội”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các thầy
hướng dẫn là GS.TSKH. Trần Đình Lý và TS. Hà Quý Quỳnh. Tôi cũng đã nhận được sự
động viên và giúp đỡ tận tình của PGS.TS. Nguyễn Văn Sinh, Viện trưởng Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật, cùng sự giúp đỡ quý báu từ các nhà khoa học, cán bộ của Viện
Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các bạn đồng nghiệp
về sự giúp đỡ này.
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng Sinh thái Viễn thám, Phòng Thực vật, Phòng
Động vật, Phòng Quản lý tổng hợp, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và toàn
thể các đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thiện luận án.
Xin cảm ơn Đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình KHCN Vũ trụ VT01/14-15 do
TS Hà Quý Quỳnh làm chủ nhiệm, đã cho tôi tham gia thực hiện đề tài và sử dụng
số liệu của đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ UBND tỉnh Sơn La, Sở KH&CN Sơn
La, Chi cục Kiểm lâm Sơn La, bà con nhân dân đã cung cấp thông tin và hỗ trợ tôi
trong thời gian thực hiện đề tài luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu và toàn thể Hội đồng Sư phạm
Trường THPT Thái Phiên - thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi
hoàn thành luận án.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bố,
mẹ, chồng, các con và các anh em đã động viên và tạo tất cả các điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành luận án.
Doãn Thị Trường Nhung
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
1.2.1.1. Các định nghĩa về sinh thái cảnh quan chú trọng đến đặc trưng sinh thái
học của cảnh quan ................................................................................................... 17
iv
1.2.1.2. Các định nghĩa chú trọng đến đặc trưng nhân văn của cảnh quan............. 19
1.2.1.3. Các định nghĩa về sinh thái cảnh quan của các nhà cảnh quan học Xô Viết
và Việt Nam ............................................................................................................ 20
1.2.1.4. Các định nghĩa tích hợp về sinh thái cảnh quan ........................................ 21
1.2.2. Cấu trúc và chức năng của sinh thái cảnh quan ............................................ 22
1.2.3. Phân biệt khái niệm “Sinh thái cảnh quan” và “Cảnh quan sinh thái” ......... 24
1.2.3.1. Về “Sinh thái cảnh quan” ........................................................................... 24
1.2.3.2. Về “Cảnh quan sinh thái” .......................................................................... 25
1.2.4. Tình hình nghiên cứu sinh thái cảnh quan .................................................... 26
1.2.4.1. Trên thế giới ............................................................................................... 26
1.2.4.2. Ở Việt Nam ................................................................................................ 27
1.3. Các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án tại tỉnh Sơn La ........... 30
1.4. Cơ sở lý luận .................................................................................................... 32
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1. Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 35
2.2. Quan điểm nghiên cứu ..................................................................................... 35
2.2.1. Quan điểm hệ thống ...................................................................................... 35
2.2.2. Quan điểm tổng hợp ...................................................................................... 36
2.2.3. Quan điểm lãnh thổ ....................................................................................... 36
2.2.4. Quan điểm lịch sử ......................................................................................... 37
2.2.5. Quan điểm liên ngành và phát triển bền vững .............................................. 37
2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 38
2.3.1. Phương pháp khảo sát ngoài thực địa ........................................................... 38
2.3.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu ................................................. 39
2.3.3. Phương pháp Bản đồ và Hệ thông tin địa lí .................................................. 39
3.4.2.1. Ngành nông nghiệp .................................................................................. 124
3.4.2.2. Ngành lâm nghiệp .................................................................................... 125
3.4.2.3. Phát triển các khu bảo tồn ........................................................................ 127
3.4.2.4. Ngành công nghiệp .................................................................................. 130
3.4.2.5. Ngành du lịch, thương mại, dịch vụ......................................................... 131
3.4.2.6. Phát triển đô thị ........................................................................................ 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 139
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 139
KIẾN NGHỊ .......................................................................................................... 140
CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN ................. 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 104
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Hệ thống phân vị và chỉ tiêu phân loại cảnh quan áp dụng cho tỉnh
Sơn La ..................................................................................................................... 33
Bảng 3. 1 Bảng phân loại đất tỉnh Sơn La ............................................................. 56
Bảng 3.2. Thống kê các đơn vị Sinh thái cảnh quan tỉnh Sơn La ......................... 104
Bảng 3.3. Diện tích các loại sinh thái cảnh quan tỉnh Sơn La năm 2005 ............. 112
Bảng 3.4. Diện tích các loại sinh thái cảnh quan tỉnh Sơn La năm 2015 ............. 115
Bảng 3.5. Biến động diện tích các đơn vị sinh thái cảnh quan tỉnh Sơn La theo
thời gian ................................................................................................................ 118
Bảng 3.6. Hiện trạng và định hướng sử dụng lãnh thổ tỉnh Sơn La ..................... 133
vii
DANH MỤC HÌNH
CQ
Cảnh quan
ĐDSH
Đa dạng sinh học
GIS
Geographic Information System
HST
Hệ sinh thái
KT - XH
Kinh tế - xã hội
NCS
Nghiên cứu sinh
PTBV
Phát triển bền vững
STCQ
việc nghiên cứu STCQ tỉnh Sơn La nhằm định hướng khai thác, cải tạo và phục hồi
chức năng sinh thái của lãnh thổ tại tỉnh Sơn La là cần thiết trong giai đoạn
hiện nay.
Đứng trước thực tế đó nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Nghiên cứu sinh thái
cảnh quan tỉnh Sơn La phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội”, góp phần
phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
2.1. Phân loại được hệ thống STCQ tỉnh Sơn La và thành lập được bản đồ STCQ
tỉnh Sơn La.
2.2. Làm rõ được sự biến động STCQ tỉnh Sơn La theo thời gian (2005 - 2015).
2.3. Xác lập được cơ sở khoa học dựa trên nghiên cứu STCQ phục vụ định hướng
sử dụng hợp lý lãnh thổ trong nông, lâm nghiệp và bảo tồn.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Ranh giới lãnh thổ nghiên cứu được xác định trên cơ sở Bản đồ địa hình tỷ
lệ 1:100.000 và Bản đồ hành chính năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Lãnh thổ nghiên cứu là toàn bộ tỉnh Sơn La có diện tích tự nhiên 14.125,0 km²,
tọa độ địa lý: 20°39’ - 22°02’ vĩ độ Bắc và 103°11’ - 105°02’ kinh độ Đông. Tính đến
năm 2015, tỉnh Sơn La có 12 đơn vị hành chính cấp huyện và 204 đơn vị hành
chính cấp xã [20].
- Nghiên cứu cơ sở khoa học về STCQ và phân loại STCQ, định hướng
không gian các đơn vị STCQ cho bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên.
4. Những điểm mới của luận án
- Đã xây dựng được hệ thống phân loại STCQ tỉnh Sơn La trên cơ sở kế thừa
có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của cảnh quan học và sinh thái học.
- Xây dựng được bản đồ STCQ tỉnh Sơn La tỷ lệ 1:100.000.
Sinh thái học (Ecology) bắt nguồn từ ngôn ngữ Hy Lạp “Oikos” có nghĩa
là nơi sống, nhà ở, “Logos” là môn học, khoa học. Theo nghĩa này, sinh thái học có
nghĩa là khoa học về nơi ở của sinh vật. Cho đến nay, nhiều định nghĩa về sinh thái
học ra đời, nhưng đều thống nhất rằng: Sinh thái học là khoa học chuyên ngành sinh
học nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật với môi trường. Sinh thái
học được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau từ cá thể, quần thể, quần xã, cho đến
các hệ sinh thái và sinh quyển [42]. Do tập trung vào mối tương tác giữa sinh vật
với môi trường của chúng, sinh thái học được coi là khoa học tổng hợp và đa ngành,
bao gồm nhiều mảng kiến thức của địa lý học, địa chất học, khí tượng học,
thổ nhưỡng học, di truyền học, hóa học, vật lý, toán học và khoa học thống kê [42].
Ernst Haeckel (1866) đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về sinh thái học là “khoa
học bao hàm nhiều khái niệm về mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường”.
Warming (1895) lần đầu tiên xuất bản cuốn “Sinh thái học thực vật” và lập giáo
trình đại học đầu tiên về sinh thái học thực vật [51, 52, 63, 72].
Mặc dù được công nhận phát triển vào nửa sau thế kỷ XIX, tuy nhiên, nhiều
nghiên cứu về sinh thái học tổng hợp đã xuất hiện ở thời cổ đại. Aristot và
Theophrastus đã thực hiện các quan sát về dòng di cư của động vật và thực vật, hiện
nay còn lưu lại những dẫn liệu mang tính chất sinh thái học khá rõ nét. Ở Châu Âu,
từ thế kỷ XVIII - XIX, được xem là thời kỳ “phục hưng sinh học”, tuy chưa chính
thức dùng tên gọi “sinh thái học”, nhưng nhiều nhà khoa học đã có nhiều công bố
đáng kể về sinh thái học. Đầu thế kỷ XVIII, nhà vi sinh vật học Hà Lan là
Leeuvenhoek đã nghiên cứu chuỗi thức ăn và quy luật điều chỉnh số lượng quần thể.
Các nhà khoa học của thế kỷ thứ XIX là Alexander von Humboldt (1769 - 1859),
Charles Darwin (1809 - 1882), Alfred Russel Wallace (1823 - 1913) và Karl
Möbius (1825 - 1908) đã có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu và giải
thích về mối quan hệ giữa các nhóm sinh vật với môi trường. Các nhà tự nhiên học
5
học. Trong khi đó, các nhà sinh thái học Tây Âu và Bắc Mỹ chấp nhận hệ sinh thái
6
là đối tượng nghiên cứu, đồng thời kế thừa và tiếp tục phát triển: “Hệ sinh thái là
một hệ thống bao gồm các quá trình vật lý, hóa học, sinh học hoạt động trong một
không gian và thời gian nào đó” (Linderman, 1942) [115]; “…Là một đơn vị bất kỳ
bao gồm tất cả các vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) trong một khu vực nhất
định có sự tương tác với môi trường vật lý bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu
trúc dinh dưỡng xác định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất”
(Odum, 1953); “…Là một hệ thống chức năng bao gồm tập hợp các vật sống (thực
vật, động vật, vi sinh vật) và môi trường tự nhiên (khí hậu, đất) tương tác qua lại”
(Whittaker, 1975) [72]. Chính quan điểm về hệ sinh thái của Tansley (1935), Troll
đã sáng tạo thuật ngữ STCQ vào năm 1939 [72].
- Xét về khía cạnh ứng dụng, những bài toán ứng dụng của sinh thái học là
nền tảng để phát triển các nghiên cứu STCQ ứng dụng trong nghiên cứu STCQ
tự nhiên, đặc biệt phổ biến ở Bắc Mỹ. Sinh thái học, xét về bản chất cũng là một
ngành khoa học ứng dụng cao, chú trọng tới các vấn đề quản lý tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường. Các hướng nghiên cứu ứng dụng cụ thể bao gồm, bảo
tồn thiên nhiên, quản lý nơi sống của sinh vật, giảm thiểu các tác động sinh thái do
ô nhiễm môi trường, phục hồi hệ sinh thái, tái tạo loài, sinh thái học biển, quản lý
rừng (là những ứng dụng trực tiếp của sinh thái); phát triển đô thị, các vấn đề nông
nghiệp, sức khỏe cộng đồng (là những ý tưởng và phân tích sinh thái học).
Kế thừa các nguyên lý cơ bản và các bài toán ứng dụng của sinh thái học,
STCQ tập trung nghiên cứu tương tác giữa cấu trúc không gian và các quá trình hệ
sinh thái, bao gồm các nguyên nhân và hệ quả sinh thái học do phân hóa cảnh quan
ở các tỷ lệ khác nhau. Điều đó tạo ra hai đặc trưng quan trọng của STCQ, phân biệt
với sinh thái học và cảnh quan học:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc cảnh quan tới các quá trình HST;
- Các sinh vật, đây là thành phần sống của HST. Bao gồm 3 nhóm:
Nhóm sinh vật sản xuất: Gồm các sinh vật tự dưỡng, chủ yếu là cây xanh và
các vi khuẩn hóa tổng hợp. Chúng có khả năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô
cơ nhờ quang hợp hoặc hóa tổng hợp.
Sinh vật tiêu thụ: Gồm các sinh vật dị dưỡng, chủ yếu là các động vật. Chúng
sử dụng chất hữu cơ được tạo thành nhờ sinh vật sản xuất. Động vật ăn trực tiếp
8
thực vật là sinh vật tiêu thụ bậc I. Động vật ăn thịt các động vật tiêu thụ bậc I là sinh
vật tiêu thụ bậc II. Quá trình tương tự sẽ có các sinh vật tiêu thụ bậc III.
Sinh vật phân hủy: Gồm các sinh vật dị dưỡng như vi khuẩn, nấm. Chúng
phân hủy chất thải và xác chết của các sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, biến đổi
các chất hữu cơ.
1.1.2.3. Cấu trúc của hệ sinh thái
Hai hợp phần căn bản của HST là quần xã sinh vật và môi trường sống của
nó cùng các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa sinh vật với sinh vật, giữa
sinh vật với môi trường và tác động của môi trường lên sinh vật. Các yếu tố cấu
thành HST rất khác nhau, mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố cũng phức
tạp, do đó cấu trúc HST cũng khác nhau. Có thể nghiên cứu các HST theo các kiểu
cấu trúc như: Cấu trúc không gian (theo chiều ngang và chiều thẳng đứng, theo tầng
và theo phiến), cấu trúc chu kỳ, cấu trúc mạng lưới dinh dưỡng, cấu trúc đặc tính
sinh sản, cấu trúc quần tụ (sống theo đàn, theo đám), cấu trúc do hoạt động
cạnh tranh…
1.1.2.4. Chức năng của hệ sinh thái
Chức năng cơ bản của HST là thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, trao đổi
năng lượng và trao đổi thông tin để tái tổ hợp các quần xã sinh vật thích nghi với
điều kiện môi trường tạo thế cân bằng động trong quá trình phát triển. Cần nhấn
mạnh một số điểm như sau:
dòng năng lượng, dòng thông tin. Kết quả quá trình vận động của ba dòng trên dẫn
đến tái tổ hợp lại các quần xã sinh vật mới, làm thay đổi cấu trúc và chức năng của
hệ cũ, tạo lập hệ mới.
2) HST là một hệ thống cân bằng động có khả năng tự điều chỉnh. Mặc dù,
HST luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng nhưng nó cũng có khả năng tự
điều chỉnh để tái lập thế cân bằng khi bị tác động của một hay nhiều nhân tố nào đó.
Chúng ta biết rằng trong HST có nhiều thành phần đi vào như ánh sáng mặt trời,
nước, không khí, các chất khoáng, các sinh vật du nhập và các thành phần đi ra như
nhiệt, các khí như: CO2, O2, H2O, các khí thải, chất mùn, chất hữu cơ vụn nát, các
loài cây gỗ bị khai thác, các động vật bị săn bắt hay di cư đi nơi khác. Ở một thời
điểm nhất định các mối tác động qua lại giữa các yếu tố đi ra và các yếu tố đi vào hệ
sinh thái đạt được sự cân bằng. Nếu có tác động của một hay nhiều nhân tố nào đó
vào hệ sinh thái dẫn đến mất cân bằng thì hệ tự điều chỉnh để duy trì trạng thái ổn
10
định của hệ để hệ có thể tồn tại và phát triển đi lên, người ta gọi đó là trạng thái nội
cân bằng động của HST. Ở trạng thái này thì sản xuất entropi là cực tiểu. Nếu HST
ở thế càng mất cân bằng thì entropi càng lớn. Đặc tính tự điều chỉnh cân bằng của
HST được thể hiện ở khả năng thích nghi của HST.
3) Một HST có tính đa dạng càng cao thì tính bền vững càng lớn. Tính đa
dạng của HST thể hiện ở nhiều mặt như hình thái, cấu trúc và chức năng vận
chuyển vật chất và năng lượng…Nhưng rõ nhất mà ta có thể tính toán được là tính
đa dạng loài trong quần xã sinh vật. Như chúng ta đã biết trong một quần xã sinh
vật tự nhiên nếu điều kiện môi trường thuận lợi và đa dạng thì số lượng loài lớn, số
cá thể trong mỗi loài nhỏ, hệ số đa dạng cao. Khi điều kiện không thuận lợi hay ở
môi trường có tính chất cực đoan thì số lượng loài trong quần xã ít nhưng số lượng
cá thể của từng loài có thể cao và hệ số đa dạng thấp, sản xuất entropi tăng. Một
quần xã sinh vật có nhiều loài thì mạng lưới thức ăn càng phức tạp và tạo ra mối
tính bất đồng nhất. Tính đồng nhất của CQ được hiểu ở chỗ, một lãnh thổ mà trong
phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần
coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất. Tính bất đồng nhất được biểu thị ở 2 mặt: (i)
CQ bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thủy văn,
đất, thực vật) tạo nên. (ii) Mỗi thành phần trong CQ tồn tại ở nhiều dạng khác nhau.
Chính những điều nói trên, đòi hỏi các nhà địa lí khi nghiên cứu, đánh giá CQ phải
xuất phát từ quan điểm tổng hợp và quan điểm hệ thống [32].
Trong luận án này nghiên cứu sinh quan niệm CQ là khái niệm loại hình,
“CQ là một phần trọn vẹn của bề mặt Trái đất có địa mạo, cấu trúc, hình thái xác
định trong quá trình phát triển và các mối quan hệ nhân quả của tổng hợp các
nhân tố tác động” [97].
1.1.3.2. Nhân tố thành tạo cảnh quan
Trong nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả đều quan tâm phân tích đặc
điểm, vai trò các nhân tố thành tạo CQ và mối quan hệ giữa chúng. Vì sự phân hóa
của các đơn vị phân loại CQ vừa phụ thuộc vào sự phân hóa của các nhân tố thành
tạo CQ, vừa phụ thuộc và mối quan hệ và tương tác giữa các hợp phần với nhau.
Theo tiếp cận sinh thái, các nhân tố thành tạo cảnh quan được chia thành 2 nhóm:
nhóm nguyên sinh và nhóm thứ cấp. Dựa vào mức độ tác động của các nhân tố có
thể nhóm các nhân tố thành 3 nhóm: các thành phần cứng, các thành phần động và
các thành phần tích cực [105].
Tại Châu Âu, quan điểm CQ là địa tổng thể đầy đủ được áp dụng để thành
lập bản đồ sinh thái cảnh quan. Zonneveld (1995) [125] đã đồng nhất đất đai với
12
CQ nhằm thể hiện tổng hợp các mối quan hệ tương tác và mối quan hệ phát sinh
giữa các nhân tố và thuộc tính đất đai. Ở Bắc Mĩ, quan niệm về CQ đơn giản hơn
nên không phải toàn bộ các nhân tố mà chỉ những nhân tố được quan tâm nghiên
cứu mới được xem xét.
mà các hệ thống phân loại được hình thành. Hệ thống phân loại của các đơn vị đồng
phụ thuộc, Ixatsenko (1976) [34], với 8 cấp phân vị: Nhóm kiểu - Kiểu - Phụ kiểu Lớp - Phụ lớp - Loại - Phụ loại - Thể loại. Hệ thống phân loại của Gvozaexki (1961)
gồm 5 cấp phân vị: Lớp - Kiểu - Phụ kiểu - Nhóm - Loại. Ngoài ra, có nhiều hệ
thống phân loại khác như: hệ thống phân loại cảnh quan của Nhicolaev, Polunov,
Mitchell và Howard… [27].
Ở Việt Nam, nhiều hệ thống phân loại cảnh quan khác nhau được xây dựng
phù hợp với mục tiêu và lãnh thổ nghiên cứu. Vũ Tự Lập (1976) [38] đã đưa ra hệ
thống phân loại CQ địa lí Miền Bắc Việt Nam gồm 16 cấp phân vị, lớn nhất là “Địa
lí quyển”, cấp nhỏ nhất là “Điểm địa lí”. Mỗi đơn vị đều có chỉ tiêu xác định, rất
thuận lợi trong phân vùng ở mọi tỷ lệ trên mọi quy mô lãnh thổ. Hệ thống phân loại
của Nguyễn Cao Huần (2005) [32] đã sử dụng hệ thống phân loại gồm 6 cấp phân
vị: Hệ CQ - Phụ hệ CQ - Lớp CQ - Kiểu CQ - Hạng CQ - Loại CQ. Phạm Hoàng
Hải và nnk. (1997) [27] đã xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho lãnh
thổ Việt Nam ở tỷ lệ bản đồ 1:1.000.000 gồm 7 cấp phân vị: Hệ CQ - Phụ hệ CQ Lớp CQ - Phụ lớp CQ - Kiểu CQ - Phụ kiểu CQ - Loại CQ. Hệ thống phân loại CQ
có nhiều cấp tương ứng mức độ phân loại các thành phần CQ theo các yếu tố cùng
tỷ lệ bản đồ. Đơn vị phân loại cảnh quan ở cấp càng thấp thì sự tham gia của các
yếu tố của các thành phần cảnh quan càng nhiều.
1.1.3.4. Cấu trúc, động lực cảnh quan
Cấu trúc đứng: là đặc điểm kết hợp giữa các nhân tố cảnh quan thông qua
mối liên hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần cấu tạo riêng biệt, gồm: địa
chất - địa hình - khí hậu - thủy văn - thổ nhưỡng - sinh vật. Các nhân tố này có mối
liên hệ với nhau, sự biến đổi của một nhân tố kéo theo sự biến đổi của các nhân tố
khác theo phản ứng dây chuyền. Tác động này là động lực phát triển của các CQ địa
lí. Do các nguyên nhân khác nhau, sự thay đổi cấu trúc đứng sẽ tạo ra sự thay đổi
các chức năng của cảnh quan so với chức năng nguyên thủy của nó. Mỗi cấp phân
vị trong hệ thống phân loại cảnh quan đều có cấu trúc thẳng đứng riêng. Vì vậy, xác
định cấu trúc thẳng đứng của một địa tổng thể thuộc cấp phân vị nào đó không phải
là nghiên cứu địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn chung chung mà phải xác định rõ
đơn vị địa chất nào, đơn vị địa hình nào… tương đương với cấp phân vị của địa
tích cực của con người như trồng và bảo vệ rừng, xây hồ chứa nước,... tạo cân bằng
tự nhiên, tăng sinh khối CQ, cải thiện tốt môi trường khu vực. Mặt khác, những tác
động tiêu cực như phá rừng, làm thoái hóa đất, biến đổi, suy thoái CQ theo chiều
15
hướng xấu, phá vỡ cấu trúc CQ, xóa bỏ khả năng tự điều chỉnh của các địa hệ tự
nhiên cũng như các địa hệ nhân sinh, gây mất cân bằng sinh thái.
Biến đổi cảnh quan: là hiện tượng CQ bị thay đổi theo hướng đạt được cấu
trúc mới hoặc mất đi cấu trúc cũ dưới ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh hoặc
nội tại. Xét về cơ chế động lực, biến đổi CQ là quá trình gồm chuỗi 3 sự kiện: các
yếu tố tác động đến CQ; thay đổi cấu trúc CQ; thay đổi chức năng và các quá trình
trong CQ [72]. Biến đổi thuận nghịch là sự biến đổi với sự trở lại trạng thái ban đầu
sau lần tác động không có sự tái tạo CQ về chất lượng chỉ thực hiện chức năng biến
đổi trạng thái CQ. Biến đổi không thuận nghịch hay còn gọi là tiến bộ thể hiện sự
biến đổi theo một hướng nhất định mà không quay trở lại trạng thái ban đầu.
1.1.3.5. Chức năng cảnh quan
Chức năng của cảnh quan có nhiều quan niệm khác nhau. Theo Ixatsenko
(1976) [33], chức năng cảnh quan là “tổng hợp các quá trình trao đổi, biến đổi vật
chất và năng lượng trong cảnh quan”. Forman (1981) [106] lại xác định “chức năng
cảnh quan là dòng năng lượng, dinh dưỡng khoáng và sinh vật giữa các yếu tố cảnh
quan”. Bên cạnh đó, chức năng của cảnh quan còn được hiểu là lợi ích mà con
người thu được từ các thuộc tính và quá trình của CQ (Niemann, 1977; De Groot,
1992) Do đó, có nhiều hệ thống phân loại chức năng CQ [72]. Các chức năng của
cảnh quan gồm chức năng tự nhiên, chức năng KT - XH, chức năng bảo vệ
môi trường.
Như vậy, tiềm năng của một đơn vị cảnh quan chính là khả năng đơn vị CQ
đó phục vụ và đáp ứng đối với nhu cầu của quá trình tự nhiên khác và con người.
Một CQ có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau. Việc sử dụng CQ phù hợp