Phân tích tác động của luật quốc tế đối với quá trình hoàn thiện các quy định của hệ thống pháp luật việt nam trong một lĩnh vực cụ thể - Pdf 53

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giữa luật quốc tế và luật quốc gia có mối quan hệ biện chứng. Nếu như luật quốc
gia có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển của luật
quốc tế thì ngược lại luật quốc tế cũng có tác động tích cực nhằm phát triển và hoàn
thiện luật quốc gia.
Việt Nam là một chủ thể độc lập của luật quốc tế nên cũng không nằm ngoài quy
luật này. Trong bối cảnh của công cuộc cải cách, mở cửa tại Việt Nam, điều ước quốc tế
trở thành công cụ pháp lý chủ yếu, điều chỉnh hiệu quả quan hệ hợp tác quốc tế toàn diện
của Việt Nam với các quốc gia và tổ chức quốc tế. Ta có thể nhận thấy, trong lý luận
cũng như thực tiễn, Luật quốc tế đã có những tác động tích cực đối với quá trình hoàn
thiện pháp luật Việt nam trong nhiều lĩnh vực như dân sự, hình sự, thương mại, lao
động…Tuy nhiên, một vấn đề đang được Đảng, Nhà nước cũng như dư luận xã hội hết
sức quan tâm đó là vấn đề về quyền trẻ em. Chính vì lẽ đó, em quyết định chọn đề tài:
“Phân tích tác động của Luật quốc tế đối với quá trình hoàn thiện các quy định của hệ
thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực quyền trẻ em” làm đề tài bài viết. Vì thời gian
cũng như tầm hiểu biết có hạn nên không thể tránh được những thiếu sót, rất mong quý
thầy, cô đóng góp để bài viết được hoàn thiện hơn.

II. NỘI DUNG CHI TIẾT
1. Hệ thống pháp luật quốc tế về quyền trẻ em.
1.1. Quyền trẻ em đã được ghi nhận từ rất sớm.
Quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng ngày nay trở thành vấn đề
quan tâm của cộng đồng quốc tế. Trẻ em ở tất cả các nước trên thế giới vẫn còn sống
trong những điều kiện khó khăn và chúng cần được quan tâm đặc biệt. Do đó, sự hợp tác
quốc tế đối với việc cải thiện điều kiện của trẻ em ở mọi nước, đặc biệt là các nước đang
phát triển là yêu cầu bức thiết. Cộng đồng quốc tế mà trung tâm là Liên hợp quốc đã có
nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các văn bản pháp lí quốc tế nhằm xác lập các quyền cơ
bản của trẻ em cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm của các quốc gia đối với trẻ em.
Từ năm 1924, khái niệm “quyền trẻ em” đã chính thức được đề cập trong luật
pháp quốc tế, khi Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ về quyền trẻ em được Hội Quốc liên thông qua.
Năm 1948, Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về quyền trẻ em đầu tiên

biệt (tàn tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh hưởng của xung đột vũ trang...); đồng thời, xác
định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy cơ đang đe dọa nghiêm trọng cuộc sống
của nhiều trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động, ảnh hưởng của chất ma
túy và bị buộc phải tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang... Cùng với các điều đó,
Công ước còn xác lập một cơ chế quốc tế để giám sát việc thực hiện các quyền trẻ em
trên thế giới, tạo điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển đầy đủ.
Với nội dung trên, Công ước được coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn
diện nhất về quyền trẻ em trong thời điểm hiện nay. Tuy vậy, để hỗ trợ cho Công ước
này, năm 2000, LHQ còn thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập đến việc cấm sử
2


dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và việc cấm buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ
em và cấm văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em.
Từ đầu thế kỷ XX đến nay đã có hơn 80 văn kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ
em được ban hành. Đây là thành quả sau gần một thế kỷ đấu tranh liên tục của nhân loại
nhằm cải thiện vị thế và cuộc sống trẻ em.

2. Tác động của các công ước quốc tế về quyền trẻ em đối với việc
hoàn thành các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam.
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền trẻ em.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi thiếu niên,
nhi đồng. Trong di chúc của người có viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai
của đất nước”. Vì vậy "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là điều rất quan trọng
và cần thiết”.
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn có quan điểm và chính sách nhất quán về quyền
trẻ em. Theo đó, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được coi là một trong
những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến
địa phương, là một vấn đề ưu tiên trong mọi chính sách và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã

tệ cũng như một số văn kiện pháp lý quốc tế khác về quyền con người....
Sau khi tham gia ký kết các điều ước quốc tế về quyền con người nói chung và
quyền trẻ em nói riêng, đặc biệt là Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm
1989 và hai Nghị định thư bổ sung năm 2000, Nhà nước Việt Nam đã tích cực nội luật
hóa các quy định của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền trẻ em vào trong hệ thống
pháp luật quốc gia, đồng thời đẩy mạnh triển khai, thực thi chính sách bảo đảm quyền trẻ
em. Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước Việt Nam liên quan đến việc thực
thi quyền trẻ em, về cơ bản, phù hợp với các điều khoản của Công ước về quyền trẻ em
của Liên hợp quốc.
Nhà nước đã nhanh chóng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan
trực tiếp đến việc bảo về quyền lợi trẻ em như: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 1991 (nay là Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004), Luật phổ cập giáo
dục tiểu học năm 1991. Đồng thơi, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định cụ thể về
quyền trẻ em trong các văn bản pháp luật khác như: Bộ luật Lao động năm 1994, Bộ luật
Dân sự năm 1995, 2005, Luật Giáo dục năm 1998, Luật Quốc tịch năm 1998, Bộ luật
Hình sự năm 1999, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và các văn bản dưới luật khác
để hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, Nhà nước còn tổ chức triển khai và thực hiện nhiều
chương trình hành động quốc gia vì trẻ em trên các lĩnh vực giáo dục, y tế và dinh
dưỡng.
Hệ thống pháp luật ở nước ta liên quan đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em có thể thấy qua các văn bản pháp luật như:

* Hiến pháp năm 1992
4


Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, đánh dấu một mốc quan trọng trong
việc xác định một cách rõ ràng, toàn diện các quyền cơ bản của công dân, thừa nhận vấn
đề quyền con người, trong đó có quyền trẻ em.
Hiến pháp 1992 đã thể hiện có tính nguyên tắc sự cam kết của Nhà nước Việt

định: Người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội. Người từ
5


đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng
do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm về mọi tội phạm. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho
xã hội. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu
phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình
tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Khi xét xử nếu
thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì
Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp như: giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
đưa vào trường giáo dưỡng. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người
chưa thành niên phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên
phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm
tội tương ứng. Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở
độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi. Phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không
quá ½ mức tiền phạt mà điều luật quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với
người chưa thành niên phạm tội. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội
khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Ngược lại, pháp luật hình sự nước ta rất nghiêm khắc đối với với hành vi phạm tội
xâm hại đến trẻ em và các quyền trẻ em. Nhìn chung, các tội phạm xâm hại đến trẻ em
trong Bộ luật Hình sự phần lớn đều thuộc loại tội có tình tiết tăng nặng. Cụ thể một số
tội danh như : Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp
(Điều 252): Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256), Tội hiếp dâm trẻ em (Điều
112)…

* Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng, củng cố gia đình Việt Nam

đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ
và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu. Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động
của người chưa thành niên (Điều 119); cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc,
trừ một số nghề và công việc do Bộ LĐTB&XH quy định (Điều 120); cấm sử dụng
người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp
xúc với các chất độc hại (Điều 121)…

III. KẾT LUẬN
Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em đã được Nhà nước ta đặt ra từ rất sớm, nhưng thực sự
chỉ được quan tâm một cách đặc biệt từ sau khi Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về
quyền trẻ em năm 1989. Thông qua về việc ký kết, thông qua Công ước, dưới sự tác
động của Công ước, Việt Nam – với tư cách là một chủ thể của Luật quốc tế đã có những
hành động cụ thể, từng bước hoàn thiện các quy định của hệ thống pháp luật nhằm mục
đích bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trẻ em là niềm hy vọng của đất nước, bảo vệ trẻ
em chính là bảo vệ tương lai tươi sáng của đất nước.

7


8




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status