LUẬN VĂN:
Phân tích luận điểm của Hồ Chí
Minh “Nước Việt Nam là một, dân
Việt Nam là một
LỜI MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 2/9/1969) là một nhà cách mạng, một trong những người
đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt
Nam.Yêu nước – đoàn kết – nhân nghĩa, với các thế hệ người Việt Nam đã trở thành một
tình cảm tự nhiên:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.”
đã trở thành một triết lý nhân sinh.
Nước ta đã phải trải qua các cuộc kháng chiến trường kì. Để có đ ược thắng lợi như ngày
nay ta đã phải thực hiên cách mạng. Muốn đưa cách mạng đến thành công phải có lực
Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội, tức là cơ sở thực tại,
trên đấy dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị, và thích ứng với cơ sở
thực tại đó thì có những hình thái nhất định của ý thức xã hội. Phương thức sản xuất đời
sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung.
Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại xã hội của học; trái lạo chính tồn tại
xã hội của họ quyết định ý thức của họ. Tới một trình độ phát triên nào đó, lực lượng sản
xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay đây chỉ là
các lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất đó trở thành những trở ngại cho những
lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu một thời đại cách mạng xã hội. Cơ sở kinh tế thay đổi
thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Khi
nghiên cứu những sự đảo lộn ấy, người ta phải luôn luôn phân biệt sự đảo lộn vật chất –
mà người ta có thể lấy sự chính xác của khoa học tự nhiên ra để chứng thực- của những
điều kiện kinh tế của sản xuất, với những hình thái pháp lí, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật
hay triết học, tóm lại là với những hình thái tư tưởng đó người ta nhận thức được xung
đột ấy và đấu tranh khắc phục nó”.
Chủ nghĩa Mác- Lênin phát hiện ra quy luật xã hội là sản xuất vật chất, nhờ đó phát
hiện ra vai trò quyết định sự phát triển xã hội của quần chúng nhân dân.
Sự vận động của xã hội luôn gắn với một giai cấp nhất định mà giai cấp đó đứng ở
một trung tâm của thời đại. Thời đại ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp đứng ở trung
tâm thời đại mới, có lợi ích phù hợp với lợi ích của nông dân và các giai tầng lao động
khác, vì thế giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tổ chức đoàn kết mọi giai tầng xã hội, đoàn kết cả dân tộc, cả quốc tế, các dân tộc bị áp bức để thủ tiêu chủ nghĩa tư
bản,
xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Để đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng, trước hết phải thiết lập liên minh công nông, lấy
đó làm nòng cốt, sau đó sẽ đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng bên trong và bên ngoài.
Bác viết: “Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể, là tấm gương sáng ngời về tinh
thần đoàn kết, tập hợp các lực lượng cách mạng trên thế giới vào cuộc đấu tranh chống
cách mạng Quảng Châu, đặt tin tưởng vào những người có cùng cảnh ngộ, có cùng mục
tiêu chiến đấu. Có thể nói, đây là một bước tiến đáng kể trong tư tưởng liên kết quốc tế
của Phan Bội Châu
Trên phương diện đoàn kết dân tộc, Cụ Phan Bội Châu là một trong số ít người Việt
Nam sớm có ý tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ cứu nước thành “trách nhiệm của quốc dân”,
“trách nhiệm của hàng triệu người” và, cứu nước “không phải là một tay, một chân mà
làm nên, mà phải do tâm huyết của hàng vạn người anh hùng vô danh”.
1.2.2 Phương thức tập hợp lực lượng của Tôn Dật Tiên
Tôn Dật Tiên là người tổ chức, lãnh đạo Cách mạng Tân Hợi 1911, người sáng lập
Quốc dân đảng Trung Hoa và có một hệ tư tưởng được gọi là chủ nghĩa Tôn Dật Tiên,
đồng thời là người đứng đầu Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Cái cốt lõi trong tư
tưởng cách mạng của Tôn Dật Tiên là: sáng lập một tổ chức cách mạng (Quốc dân
Đảng), vũ trang cho đảng một học thuyết (chủ nghĩa tam dân: Dân tộc độc lập, dần quyền
tự do, dân sinh hạnh phúc) và tiến hành chủ nghĩa đó trong nhân dân, lãnh đạo cuộc đấu
tranh chống các thế lực đế quốc và bọn quân phiệt để thu giang sơn về một mối. Về đoàn
kết dân tộc, ông chủ trương tập hợp 400 dòng họ trong cả nước không phân biệt giai cấp,
chủ trương hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc để tạo thành một mặt trận dân tộc
thống nhất rộng rãi, ủng hộ công nông - lực lượng chiếm đa số trong nhân dân. Về đoàn
kết quốc tế, ông chủ trương liên kết với nước Nga Xô Viết, với Quốc tế cộng sản, làm
chỗ dựa cho cuộc đấu tranh của đất nước mình. Ông cũng chủ trương ủng hộ cuộc đấu
tranh chống thực dân của các nước nhỏ cùng chung cảnh ngộ. Cùng với ba chính sách lớn
thời kỳ 1924 – 1926, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên hiện lên như một học thuyết cách mạng tiến
bộ, góp phần quan trọng tạo nên cao trào cách mạng rầm rộ khắp đất nước Trung Hoa mà
trung tâm là Quảng Châu - một địa điểm gần với Việt Nam, và do vậy, tư tưởng Tôn Dật
Tiên có ảnh hưởng tới các nhà yêu nước, cách mạng nước ta thời đó.
1.2.3 Tư tưởng tập hợp lực lượng của Mahatma Gandhi Mahtma Gandi – lãnh tụ của Đảng Quốc đại Ấn Độ - cũng là một nhà ái quốc tiêu
biểu, mà tư tưởng đoàn kết dân tộc của ông có ảnh hưởng sâu rộng ở nhiều nước châu Á.
2.2. Chủ quan
Cuối thế kỉ XIX, ở Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn đã ở vào buổi xế bóng của chế
độ phong kiến nói chung. Sự cố chấp, vị kỉ, ươn hèn của vua quan thời Tự Đức là nguyên
nhân trực tiếp làm cho đất nước rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược, Tổ quốc mất quyền
độc lập, nhân dân phải chịu kiếp lầm than.
Một trong những chính sách căn bản, xuyên suốt của thực dân Pháp là chính sách chia
để trị. Nước Việt Nam thống nhất bị chia làm ba xứ với những chế độ cai trị khác nhau:
Nam Kỳ là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, Trung Kỳ là xứ lưỡng trị. Không chỉ dừng
ở đó, thực dân Pháp còn áp dụng nguyên tắc chia để trị cả trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Đối lập với chính sách chia để trị của thực dân Pháp chỉ có thể là sự đồng tâm hiệp lực,
đoàn kết hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân
tộc… cùng nhau đứng lên đánh đuổi bọn xâm lược, giành lại độc lập cho xứ sở. Ngay từ
khi thực dân Pháp xâm lược, nổ sung tại Đà Nẵng, phong trào chống lại chúng dưới
những hình thức khác nhau của nhân dân ta liên tiếp nổ ra. Sự tiếp nối của phong trào
kháng Pháp đó chứng tỏ tinh thần yêu nước và sự quật cường của cả một dân tộc không
chịu khuất phục. Cuốn vào dòng xoáy của phong trào cứu nước đó không chỉ có những
người cần lao bị áp bức, bóc lột mà còn cả những vị khoa bảng nổi tiếng như các tiến sĩ:
Phạm Văn Nghị, Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Huỳnh Thúc Kháng và tầng lớp
những phó bảng, cử nhân, tú tài như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Lương Văn Can,
Nguyễn Quyền… Trong đội ngũ những người xả than cho độc lập dân tộc có mặt những
ông vua yêu nước: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân; có mặt cả những địa chủ lớn: Trần
Chánh Chiếu; các tín đồ thiên chúa giáo: Nguyễn Trường Tộ, Mai Lão Bạng; các thổ ty
vùng dân tộc ít người: N’Trang Long, Đèo Cát Hãn…
Từ phong trào Cần Vương thuộc hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỉ XIX, qua phong
trào Đông Du, Duy Tân theo xu hướng tư sản đầu thế kỉ XX, đến cuộc khởi nghĩa Yên
Bái, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ mang đậm tính chất quần chúng… Các bậc anh
hung nghĩa hiệp Việt Nam thừa lòng yêu nước và lòng quả cảm, nhưng trước sau đều
phải nhận lấy sự thất bại xót xa. Thực tiễn hào hùng và bi thương của phong trào yêu
nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã chứng minh rằng, tinh thần yêu nước,
tại, họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc và đại đoàn kết dân tộc thực chất là đại
đoàn kết toàn dân.
Nói đại đoàn kết dân tộc, cũng có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người vào
một khối trong cuộc đấu tranh chung. Theo ý nghĩa đó, nội hàm khái niệm đại đoàn kết
trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, nó bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ các quan hệ liên kết qua lại giữa các thành viên, các bộ phận, các lực lượng xã hội của dân
tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới…Hồ Chí Minh
đã nhiều lần nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài… Ta
đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây
dựng nước nhà. Ai có tài có đức, có sức, có long phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân
thì ta đoàn kết với họ”. Từ “Ta” ở đây là chủ thể vừa là Đảng Cộng sản Việt Nam nói
riêng, vừa là mọi người dân Việt Nam nói chung.
Người còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải đứng
vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp – dân
tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng
đó có lòng trung thành và sẵn sang phục vụ Tổ quốc, không là việt gian, không phản bội
lại quyền lợi của dân chúng là được. Với tinh thần đoàn kết rộng rãi như vậy, Hồ Chí
Minh đã định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình
cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc, tới cách mạng dân chủ nhân dân
và từ cách mạng dân chủ nhân dân tới cách mạng xã hội chủ nghĩa.
3.2 Thưc hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân
nghĩa - đoàn kết của dân tộc đồng thời, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin
vào nhân dân, tin vào con người.
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân
nghĩa – đoàn kết của dân tộc. Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển
tín ngưỡng, chính kiến và trước đây đã từng đứng về phe nào, hãy cùng nhau đoàn kết vì
nước, vì dân. Để thực hiện được đoàn kết, cần xóa bỏ hết mọi thành kiến, cần phải thật
thà hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Người cho rằng, trong mỗi con người Vịêt
Nam, “ai cũng có ít hay nhiều tấm lòng yêu nước” tiềm ẩn bên trong. Tấm long yêu nước
đó có khi bị bụi bậm che mờ, chỉ cần làm thức tỉnh lương tri con người thì long yêu nước
đó lại bộc lộ. Với niềm tin vào sự hướng thiện của con người vì lợi ích tối cao của dân
tộc, Hồ Chí Minh đã chân thành lôi kéo, tập hợp được chung quanh mình nhiều người
trước đây vốn là quan đại thần của Nam triều cũ vào khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều
kiện để họ có đóng góp vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.
Để thực hành đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân. Với Hồ Chí Minh,
yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc tối cao. Nguyên tắc này vừa là sự tiếp nối truyền thống dân tộc “nước lấy dân làm gốc”,
“chở thuyền và làm lật thuyền cũng là dân”, đồng thời là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý
macxit “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Theo Người, DÂN là chỗ dựa vững
chắc của Đảng, là nguồn sức mạnh vô tận và vô địch của khối đại đoàn kết, quyết định
thắng lợi của cách mạng, là nền, gốc và chủ thể của Mặt trận. Trong bài “Nói chuyện tại
Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên - Việt toàn quốc” tháng 1 năm 1955, Người chỉ rõ: “Đại
đoàn kết tức là trước hết phải là đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là
công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nên gốc của đại đoàn
kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải
đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”.
4. Tính đúng đắn của luận điểm
4.1 Thực tiễn
Từ lúc trưởng thành ở Tổ quốc đến khi ra đi tìm đường cứu nước và cho tới trước khi
đến với chủ nghĩa Mác- Lênin là những năm tháng Hồ Chí Minh tiếp thu một cách có
chọn lọc trên tinh thần kế thừa và phê phán những giá trị nhân bản của truyền thống dân
tộc và văn hóa nhân lọai, đồng thời khảo nghiệm, đúc kết thực tiến cách mạng Việt Nam,
cách mạng thế giới, lấy đó làm cơ sở để đinh hướng tư tưởng cứu nước. Tinh thần, thái
tập hợp, đoàn kết.
- Muốn tập hợp, đoàn kết dân chúng, những người cách mạng phải tổ chức các hội
quần chúng thích hợp, như: Công hội, Nông hội, Phụ nữ, Thanh niên…
- Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, vận động theo quỹ
đạo cách mạng vô sản, có quan hệ khăng khít, mật thiết với cách mạng Pháp và phong
trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác.
4.3 Thành tựu
Từ năm 1930, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng cứu nước của Hồ
Chí Minh nói chung, tư tưởng chiến lược đại đoàn kết của Người nói riêng, đã trở thành
một trong những cơ sở lý luận - nhận thức quan trọng để Đảng cộng sản Việt Nam xây
dựng, hoàn thiện đường lối chiến lược cách mạng của mình. Cũng bắt đầu từ đó, tư tưởng
chiến lược đoàn kết, đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trở thành ngọn cờ tập hợp, hướng dẫn
toàn Đảng, toàn dân ta tiến hành cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất vì độc lập, tự do,
chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế, tư tưởng chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở
thành chiến lược cách mạng - chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Thời kỳ 1930-1969, chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trải qua ba giai đoạn phát
triển, hoàn thiện. - Từ 1930- 1940 (thời gian Hồ Chí Minh từ nước ngoài theo dõi, chỉ đạo phong
traoc cách mạng trong nước), chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính thức được đưa
vào cương lĩnh của Đảng, được kiểm chứng bằng lý luận, thực tiễn, đã sớm khẳng định
sự đúng đắn và sức mạnh của nó.
- Từ năm 1941- 1954 là giai đoạn Hồ Chí Minh trực tiếp cùng Ban Chấp hành trung
ương Đảng lãnh đạo dân tộc ta tiến hành cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập tự do.
Trong những tháng năm này, chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã được hoàn thiện và
đưa vào thực tiễn đấu tranh cách mạng với một hiệu quả rất cao. Chính chiến lược đó đã
tạo ra sức mạnh đưa tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám 1945 và kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
- Từ năm 1954 đến năm 1969, cùng một lúc dân tộc ta phải thực hiện hai nhiệm vụ
Kết luận “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình
thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách
mạng thế giới”
Đây là lời trích dẫn trong bản di trúc của Bác. Đó la điều mong muốn cuối cùng của
Hồ Chí Minh trước khi qua đời. Đoàn kết gắn liền với độc lập dân tộc, nhân dân có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc đó là chân lý của cuộc sống.
Đảng, Nhà nước ta chủ trương nêu cao nguyên tắc độc lập tự chủ, tự lực tự cường,
chủ trương phát huy mạnh mẽ sức mạnh dân tộc- sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức
1.2.2 Phương thức tập hợp lực lượng của Tôn Dật Tiên
1.2.3 Tư tưởng đoàn kết dân tộc của Mahatma Gandhi
2. Thực tiễn Việt Nam
2.1. Khách quan
Bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ cách mạng các nước trên thế giới như Liên Xô,
Ấn Độ,
Trung Quốc
2.2. Chủ quan
Các phong trào cứu nước đầu thế kỉ XX thất bại do chưa biết cách tổ chức, chưa đủ
sức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
3. Nội dung của luận điểm
3.1. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
3.2. Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa–
đoàn kết của dân tộc đồng thời, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào nhân
dân, tin vào con người.
4. Tính đúng đắn của luận điểm
4.1 Thực tiễn
4.2 Nội dung
Nội dung luận điểm cốt lõi của tư tưởng chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh
4.3 Thành tựu
Đảng cộng sản ra đời và thành tựu đạt được qua từng giai đoạn cụ thể