Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 - Thực trạng và giải pháp. - Pdf 53

MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay chúng ta đang
chứng kiến quá trình tự do hoá thương mại mạnh mẽ với việc phá bỏ các rào cản
thương mại, tạo nên một sân chơi chung toàn cầu với luật lệ chung, bình đẳng.
Sở hữu trí tuệ (SHTT) đang trở thành một vấn đề thời sự, thành trung tâm của sự
chú ý, là vấn đề trọng tâm được thảo luận tại các cuộc đàm phán, hội nghị, hội
thảo về quan hệ kinh tế quốc tế, là nội dung không thể thiếu trong các điều ước
quốc tế về hợp tác kinh tế song phương và đa phương. Nhận thức được vai trò
của hệ thống bảo hộ SHTT đối với việc khuyến khích hoạt động nghiên cứu,
sáng tạo, áp dụng và đổi mới công nghệ, thúc đẩy đầu tư, thương mại... Nhà
nước Việt Nam đã rất coi trọng vấn đề SHTT bằng việc thiết lập được một hệ
thống SHTT có bộ máy tổ chức, quản lý, quy định pháp luật và những bộ phận
hợp thành về cơ bản tương tự như mô hình phổ biến trên thế giới. Hệ thống
SHTT Việt Nam đã thiết lập chế độ bảo hộ đầy đủ các đối tượng SHTT liên
quan đến hoạt động của danh nghiệp trong đó có nhãn hiệu. Nhãn hiệu có vai trò
quan trọng trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến sự lựa chọn của người tiêu
dùng. Trong đó, nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) mang theo những thông điệp về
chất lượng, uy tín của hàng hoá, dịch vụ như trên, cần thiết phải có sự bảo hộ
pháp lý để chống lại các hành vi sử dụng nhằm mục đích lợi dụng uy tín, danh
tiếng gắn liền với nhãn hiệu đó. Việc bảo hộ đó không những nhằm bảo vệ
quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu, người đã đầu tư vào việc nâng
cao chất lượng và giảm giá thành hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, mà còn bảo
vệ người tiêu dùng khỏi bị nhầm lẫn và lừa dối do mua phải sản phẩm mang
nhãn hiệu giả mạo. Để đáp ứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc
tế đối với hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống bảo hộ quyền SHTT nói
riêng, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT) đã được ban hành nhằm thống
nhất các quy định điều chỉnh chung đối với việc bảo hộ quyền SHTT. Trước vai
trò đặc biệt quan trọng của NHNT đối với sự phát triển kinh tế xã hội thì tìm
hiểu các quy định của pháp luật liên quan đến bảo hộ NHNT là việc thực sự cần
thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.Với lý do đó, em xin chọn đề tài “Bảo


con người không chỉ bó hẹp ở các sản phẩm cụ thể mà còn là các loại hình dịch
vụ được cung cấp đa dạng trên thị trường. Các dịch vụ này cũng cần được đặt
tên để cho phép người tiêu dùng có thể phân biệt giữa các dịch vụ của các công
ty khác nhau cùng cung cấp. Những dấu hiệu này tạo thành nhãn hiệu dịch vụ.
2


Do nhãn hiệu dịch vụ mang bản chất giống hệt nhãn hiệu hàng hóa nên hiện nay
trên thế giới, thuật ngữ “nhãn hiệu” được dùng chung cho cả nhãn hiệu hàng hóa
và nhãn hiệu dịch vụ. Vai trò của nhãn hiệu càng trở nên quan trọng thì khả năng
nhãn hiệu đó bị sao chép, làm giả, thậm chí đánh cắp càng cao. Thực tế này đòi
hỏi phải có một cơ chế hữu hiệu để ghi nhận chính thức và công khai những
người sở hữu nhãn hiệu, từ đó duy trì và củng cố đặc tính phân biệt của nhãn
hiệu, bảo vệ nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng.
Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu thực tế đó.
Nhãn hiệu là một trong các đối tượng SHTT đang được các quốc gia bảo
hộ. Nhãn hiệu thuộc về nhánh quyền sở hữu công nghiệp. Khái niệm “sở hữu
công nghiệp” bao gồm các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. Bên cạnh đó, sở
hữu công nghiệp còn bao gồm nhãn hiệu, các chỉ dẫn thương mại và việc bảo hộ
chống cạnh tranh không lành mạnh.
Khái niệm nhãn hiệu có thể khác nhau ở từng nước, nhưng nhìn chung,
khái niệm này có sự thống nhất ở nội dung: nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có
thể phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể với các chủ thể khác trong cùng
lĩnh vực. Nội dung này được thể hiện trong Điều 15 Hiệp định TRIPS: “Bất kỳ
một dấu hiệu, hoặc một tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng
hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa dịch vụ của các doanh
nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu”. Điểm khác nhau có chăng giữa khái
niệm nhãn hiệu của các nước chính là ở nội hàm mà khái niệm này đề cập tới.
Dấu hiệu nói chung có thể bao gồm chữ cái, chữ số, từ ngữ, khẩu hiệu, hình ảnh,
màu sắc, mùi vị, âm thanh, hình thức bao bì... nhưng tùy hệ thống pháp luật ở

Thông thường, một nhãn hiệu có những chức năng chính là: chức năng
phân biệt, chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, chức năng thông tin về chất lượng và
chức năng quảng cáo. Trên thực tế hai chức năng đầu của nhãn hiệu có tính phụ
thuộc lẫn nhau và cần luôn được xem xét cùng nhau. Hai chức năng sau mang
tính phái sinh, có được khi nhãn hiệu đã có hai chức năng đầu.
Nhãn hiệu ra đời với mục đích để phân biệt hàng hóa của chủ thể này với
hàng hóa của chủ thể khác. Để thực hiện được chức năng này nhãn hiệu cần phải
có khả năng tự phân biệt và khả năng phân biệt với nhãn hiệu của chủ thể khác.
Khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu tạo cho nhãn hiệu một ấn tượng tổng thể
tác động vào nhận thức của người tiêu dùng để họ có thể nhận biết, ghi nhớ và
so sánh với các nhãn hiệu khác. Tính chất này có thể thay đổi, tùy thuộc vào
việc sử dụng thực tế nhãn hiệu trên thị trường.
Để người tiêu dùng có thể dùng để phân biệt một sản phẩm, nhãn hiệu
phải chỉ ra được nguồn gốc của hàng hóa. Thực ra nhãn hiệu là dấu hiệu để
4


người tiêu dùng tìm được một chủ thể nhất định để tin tưởng, tức là chủ thể sẽ
chịu trách nhiệm về hàng hóa mang nhãn hiệu đó. Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc
liên quan mật thiết với chức năng phân biệt, khi mà nhãn hiệu cho phép người
tiêu dùng phân biệt được sản phẩm mangnhãn hiệu đó với nhãn hàng hóa của
các chủ thể khác đưa ra trên thị trường thì lúc đó nhãn hiệu đã hoàn thành chức
năng chỉ dẫn nguồn gốc.
Chức năng thông tin về chất lượng của nhãn hiệu được thể hiện thông qua
việc người tiêu dùng nhận biết chất lượng của sản phẩm qua nhãn hiệu. Chức
năng này có được khi nhãn hiệu đã được sử dụng một thời gian nhất định trên
sản phẩm có chất lượng chiếm được sự tin tưởng của người tiêu dùng.
Chức năng quảng cáo của nhãn hiệu nhằm thúc đẩy việc tiếp thị bán hàng
và tiến hành dịch vụ.
1.3. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

chung).
Quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ tuyệt đối, do đó tính lãnh
thổ tuyệt đối của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được thể hiện rõ
trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Theo đó, “một đơn đăng
ký nhãn hiệu do công dân của một nước thành viên của Liên minh nộp tại bất cứ
nước nào trong Liên minh cũng không thể bị từ chối–hoặc một đăng ký nhãn
hiệu cũng không thể bị hủy bỏ-với lý do rằng việc nộp đơn, đăng ký, hoặc gia
hạn tại nước xuất xứ không có hiệu lực”.
Với tài sản là nhãn hiệu, quyền này được thể hiện thông qua quyền sử
dụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt
nhãn hiệu được bảo hộ nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu. Quyền độc
quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ giới hạn đối với hành vi sử dụng nhãn hiệu
tương tự gây nhầm lẫn cho hàng hóa, dịch vụ cùng loại của người khác vì mục
đích thương mại hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ
được cung cấp bởi chủ sở hữu NHNT. Quyền này không áp dụng đối với hành vi
sử dụng vì mục đích phi thương mại và một số trường hợp hạn chế quyền khác.
Xét về tính lãnh thổ thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là
quyền độc quyền tuyệt đối. Nhưng trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia thì
quyền này lại chỉ mang tính chất tương đối. Vì trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu
công nghiệp nói riêng và SHTT nói chung luôn tồn tại các quyền độc quyền
khác nhau của các chủ sở hữu khác nhau, do đó, quyền độc quyền của chủ sở
hữu nhãn hiệu này phải tôn trọng và đảm bảo quyền độc quyền của chủ thể khác
và của xã hội.
6


1.4. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Nhãn hiệu là một tài sản vô hình rất có giá trị trong giao lưu thương mại,
là một đối tượng SHTT dễ bị xâm hại. Nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ những nhà sản xuất, kinh doanh trung thực, bảo vệ quyền lợi của


hộ này sẽ khác nhau ở từng nước. Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu thể hiện
thông qua quyền độc quyền được Nhà nước ghi nhận, đó là độc quyền sử dụng,
định đoạt, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt khi không được phép. Một
nguyên tắc đặc thù trong hệ thống pháp luật SHTT nói chung là luôn phải đảm
bảo sự hài hòa về mặt lợi ích giữa các đối tượng có liên quan trong xã hội. Bảo
hộ nhãn hiệu không chỉ bao gồm các quy định pháp luật để chủ sở hữu thực hiện
các quyền được xác định trong nội dung quyền của chủ sở hữu, mà quan trọng
hơn cả là quy định xử lý các hành vi xâm phạm.
Qua các phân tích ở trên có thể hiểu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu là việc Nhà nước bằng công cụ pháp luật của mình ghi nhận
quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đồng thời quy định cơ chế xác lập
quyền, nội dung quyền và cơ chế thực thi quyền đối với nhãn hiệu.

Chương 2
BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO
LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005
2.1. Khái niệm bảo hộ NHNT
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 thì “Nhãn hiệu là dấu hiệu
dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Khái
niệm nhãn hiệu trong Luật SHTT 2005 đã được định nghĩa một cách rất khái
quát, theo đó, nhãn hiệu được định nghĩa theo chức năng-dùng để phân biệt hàng
hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Định nghĩa mới về nhãn hiệu
có ba sự thay đổi rõ rệt so với định nghĩa được đưa ra trong BLDS năm 1995.
Tại Điều 785 BLDS năm 1995 nhãn hiệu được định nghĩa: “Nhãn hiệu hàng
hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các
cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ,
hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu
sắc”. So với định nghĩa nhãn hiệu trong Bộ luật Dân sự 1995 thì định nghĩa
trong Luật SHTT 2005 đã thay thế từ “nhãn hiệu” cho từ “nhãn hiệu hàng

2.2. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Đối chiếu với chức năng của nhãn hiệu thì bất kỳ dấu hiệu nào có khả
năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau đều có
thể được coi là nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định “Bất kỳ một dấu
hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch
vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp
khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ,
9


kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và các tổ hợp các màu
sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký
là nhãn hiệu.... Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký
là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”. Điều 72 của Luật SHTT năm
2005 quy định nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc
nhiều màu sắc.
- Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với
hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Điều kiện đầu tiên để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu là phải
“nhìn thấy được”. Bằng quy định này luật đã loại bỏ khả năng bảo hộ cho các
dấu hiệu đặc biệt như dấu hiệu mùi, dấu hiệu âm thanh gọi chung là “dấu hiệu
không nhìn thấy được”. Nhãn hiệu để được bảo hộ nhất định phải có khả năng
phân biệt. Khả năng phân biệt chính là yếu tố quan trọng nhất để một dấu hiệu
được coi là nhãn hiệu. Trên thực tế, việc đánh giá tính phân biệt của một nhãn
hiệu là một vấn đề rất phức tạp.
Trước khi Luật SHTT được ban hành, trong Điểm a Khoản 1 Khoản 6
Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 có quy định một yêu cầu đối với nhãn hiệu là
phải “được tạo thành từ một số yếu tố độc đáo...” hoặc “từ nhiều yếu tố kết hợp

làm nhãn hiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc cố tình lừa dối người tiêu
dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các
đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.
2.4. Tiêu chí đánh giá NHNT
Trong các văn bản quốc tế như Công ước Pari, hiệp định TRIPs không
quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá NHNT. Việt Nam là một thành viên của hai
công ước trên nên có nghĩa vụ thiệt lập một hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể
các quy định của công ước, hiệp định về mặt lý luận cũng như áp dụng vào thực
tiễn. Với quy định “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết
đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” đã giới hạn phạm vi nổi tiếng của
nhãn hiệu, dẫn tới những hệ quả pháp lý nhất định, nếu một nhãn hiệu nổi tiếng
trên thế giới mà người tiêu dùng Việt Nam không biết đến, thì nhãn hiệu đó sẽ
không được coi là NHNT theo quy định của pháp luật Việt Nam.

11


Như vậy một NHNT muốn được coi nổi tiếng ở Việt Nam thì phải đáp
ứng đầy đủ theo Điều 75 Luật SHTT năm 2005:
“1) Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua
việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua
quảng cáo; 2) Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được
lưu hành;
3) Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc
số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp; 4) Thời
gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; 5) Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang
nhãn hiệu; 6) Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; 7) Số lượng quốc gia công
nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; 8) Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử
dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu”.

cho các hàng hoá, dịch vụ không tương tự nhưng gây ra các hậu quả như: có khả
năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ; có khả
năng làm giảm danh tiếng, uy tín, khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng.
- Chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm
quyền áp dụng các biện pháp chống lại hành vi như: sử dụng dấu hiệu trùng
hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng; sử dụng dấu hiện dưới dạng dịch nghĩa,
phiên âm từ nhãn hiệu đó cho hàng hoá, dịch vụ không cùng loại, không tương
tự vói và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nếu
việc sử dụng đó có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ hoặc
gây ấn tượng sai lệnh về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu với chủ thể
có nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng.
2.4. Căn cứ xác lập quyền và cơ chế bảo hộ NHNT
2.4.1. Căn cứ xác lập quyền
Cũng giống như các quan hệ sở hữu khác, quyền sở hữu công nghiệp đối
với NHNT chỉ phát sinh khi có những căn cứ pháp lý nhất định.
Theo Điểm 1.5 Khoản 1 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành
Nghị định số 103/2006/NĐ-CP thì “Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi khiến cho
nhãn hiệu đó trở thành nổi tiếng mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tại
Cục Sở hữu trí tuệ. Khi sử dụng quyền và giải quyết tranh chấp quyền đối với
nhãn hiệu nổi tiếng, chủ sở hữu nhãn hiệu đó phải chứng minh quyền của mình
bằng các chứng cứ phù hợp quy định tại Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ”.
Như vậy, xuất phát từ các đặc điểm riêng của NHNT là uy tín, chất lượng,
danh tiếng trên phạm vi thể giới sau một thời gian đăng kí bảo hộ nhất định.
Việc quy định về xác lập quyền theo quy định trên là phù hợp với thực tiễn quốc
13


tế về NHNT. Tiêu chí thực tiễn sử dụng là một tiêu chí quan trọng nhất để đánh
giá một nhãn hiệu có phải là một NHNT. Chính nhờ quá trình sử dụng liên tục



Thứ ba, khi các tổ chức, cá nhân yêu cầu xử lý vi phạm quyền sở hữu
công nghiệp liên quan đến NHNT (Theo Điểm d Khoản 1 Điều 129 Luật SHTT
năm 2005).
Thứ tư, khi có các tổ chức, cá nhân yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh
không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng (Theo Khoản 1 Điều 130
Luật SHTT năm 2005).
Trên đây là những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ chế
bảo hộ NHNT. Các quy định của Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành
đã phù hợp với quy phạm quốc tế, cụ thể là 6bis của Công ước Pái và phù hợp
với thực tiễn pháp luật quốc tế.
2.5. Thời gian bảo hộ
Về nguyên tắc, thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa là thời hạn của
Giấy chứng nhận đăng ký; theo quy định của pháp luật hiện hành, đó là 10 năm
kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp không hạn chế, mỗi lần gia
hạn là 10 năm (Khoản 6 Điều 93 Luật SHTT năm 2005). Pháp luật Việt Nam
cũng dành cho những nhãn hiệu loại này một ưu đãi đặc biệt: quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô thời hạn tính từ ngày nhãn
hiệu được công nhận là nổi tiếng ghi trong quyết định công nhận nhãn hiệu nổi
tiếng. Tuy vậy, ta cũng không loại trừ trường hợp một nhãn hiệu nổi tiếng không
được bảo hộ nữa. Đó là khi nhãn hiệu không còn nổi tiêng nữa, hay nói cách
khác là khi các tiêu chí làm nhãn hiệu đó trở thành nổi tiếng không còn trên thực
tế hoặc nhãn hiệu đã trở thành tên gọi chung của một loại sản phẩm, dịch vụ
nhất định (trường hợp này còn gọi là sự lu mờ nhãn hiệu).
2.6 Các quy định về hành vi xâm phạm bảo hộ NHNT
Ngoài việc quy định khái niệm, các tiêu chí đánh giá, thời gian bảo hộ
NHNT, hệ thống pháp luật Việt Nam còn có các quy định khác bảo hộ NHNT ở
nhiều phương diện khác nhau.
Theo Khoản 11 Điều 39 Thông tư 02/2007 hướng dẫn, thi hành Nghị định

Chương 3
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
3.1. Thực trạng hoạt động bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam
Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để nâng cao hoạt động
bảo hộ quyền SHTT về NHNT. Tuy nhiên, thực tiễn đã cho thấy việc bảo hộ
NHNT còn nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục. Có thể thấy được thực trạng
bảo hộ NHNT qua hai vụ kiện sau:
16


Vụ án thứ nhất: “vụ xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng, bị thua kiện”
Nội dung vụ án: TAND TP.HCM vừa chấp nhận toàn bộ yêu cầu của phía
nguyên đơn là Interbrand Group (địa chỉ ở Anh) với nội dung như trên. Theo
tòa, phán quyết trên nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Interbrand Group và
ngăn chặn hành vi xâm phạm trong tương lai. Trước đó, trình bày với tòa,
nguyên đơn cho biết Interbrand Group ra đời vào năm 1974 ở London, nổi tiếng
trong lĩnh vực định giá, sáng tạo và quản trị tài sản thương hiệu. Nguyên đơn
định giá thương hiệu cho hơn 4.000 thương hiệu hàng đầu tại Mỹ, Anh, Úc,
Hong Kong, Nhật Bản... Hằng năm, nguyên đơn còn phối hợp với tạp chí
Business Week phát hành Bảng xếp hạng 100 thương hiệu mạnh nhất thế giới
(The best Global Brand’s).
Năm 2006, nhãn hiệu Interbrand được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng
tại Việt Nam. Công ty bị đơn đã sử dụng nhãn Interbrand trong nhiều sự kiện dù
nguyên đơn nhiều lần yêu cầu chấm dứt việc vi phạm. Vì bị đơn không hợp tác
nên nguyên đơn đành phải kiện ra tòa nhờ phân xử…
Thụ lý vụ án, tòa không hòa giải được vì phía bị đơn vắng mặt không lý
do, cũng không có văn bản giải trình hay có yêu cầu gì gửi tòa. Vì vậy, tòa cho
biết sẽ xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị đơn phải chịu trách nhiệm
về việc tự khước từ tham gia tố tụng và không cung cấp chứng cứ cho tòa.

mang nhãn hiệu Adidas và Nike thì sẽ bị xử lý vì hành vi xâm phạm NHNT.
Ngay cả trong trường hợp Hoàng Huỳnh sản xuất hàng hóa không thuộc
nhóm hàng hóa của Adidas và Nike cũng có thể bị xử lý. Việc xử lý đó căn cứ
vào Điểm b Khoản 4 Điều 11 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định trong
trường hợp “Hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan
tới hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm
lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai
lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với
chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng”.
Một số lý do căn bản dẫn đến thực trạng nêu trên có thể kể đến:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về SHTT của Việt Nam mới chỉ đầy đủ về
phần khung pháp lý nhưng còn thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết.
Thứ hai, quy định về NHNT ở Việt Nam còn nhiều chồng chéo, mâu
thuẫn, gây khó khăn cho việc áp dụng, thực hiện.
Ví dụ: Khoản 20 Điều 4 và Điều 75 Luật SHTT năm 2005.
Thứ ba, chưa có một cơ chế đảm bảo tính độc lập, khách quan và nhanh
chóng trong việc giải quyết khiếu nại, yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ.
18


Thứ tư, việc xử lý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo con đường dân
sự tại tòa chưa được sử dụng hiệu quả khiến cho việc xử lý bằng các biện pháp
hành chính bị lạm dụng. Năng lực của các cán bộ làm công tác thực thi quyền
SHTT còn chưa tương xứng với đòi hỏi của các vấn đề thực tiễn cần xử lý.
Thứ năm, ý thức tự bảo vệ quyền của chính các chủ thể quyền chưa cao
dẫn đến việc chưa chủ động trong hoạt động xác lập quyền, nhiều trường hợp
chỉ đến khi bị vi phạm hoặc có tranh chấp xảy ra mới tính đến việc đăng ký bảo
hộ.
Thứ sáu, năng lực của cơ quan xác lập quyền chưa đủ để đảm bảo giải
quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật các đơn yêu cầu xác lập quyền cũng

bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần gây ra do các hành vi xâm phạm. Đối
với trường hợp xâm phạm NHNT, cần sử đổi hành vi xâm phạm là hành vi gây
tổn hại đến tính phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng. Ngoài ra, các tiêu chí để đánh
giá nhãn hiệu nổi tiếng cần dành phần chủ động cho các doanh nghiệp bằng cách
quy định thêm rằng doanh nghiệp có thể đệ trình bất kỳ yếu tố nào của doanh
nghiệp mình để chứng minh cho nhãn hiệu là nổi tiếng, Cục SHTT sẽ xem xét
các yếu tố đó và quyết định cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu nổi tiếng hay không.
Hai là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi quyền SHTT và quyền đối với
NHNT trong pháp luật hành chính.
Ba là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi quyền SHTT trong pháp luật
hình sự, cần ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật
Hình sự liên quan việc xét xử các vụ án hình sự về xâm phạm quyền SHTT cũng
như là NHNT. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, về lâu dài Việt Nam
cũng cần phải thay đổi cách nhìn và nên đi theo xu hướng chung, đó là việc đưa
các vụ tranh chấp, xâm phạm về Toà án để giải quyết theo đúng bản chất dân sự
của nó. Có thế Việt Nam mới thật sự hội nhập trong cộng đồng quốc tế.
Bốn là, nâng cao ý thức tự bảo vệ chủ sở hữu nhãn hiệu cũng như người
tiêu dùng là giải pháp cần thực hiện để NHNT được bảo hộ đúng tầm quan trọng
của nó.

KẾT LUẬN

NHNT là một trong những đối tượng quan trọng của quyền sở hữu công
nghiệp và giá trị cũng như tầm quan trọng của việc bảo hộ NHNT ngày càng
20


được quan tâm trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Sở hữu
được một NHNT mạnh đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên
thị trường. Để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh,

một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.
6. Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành nghị định số
103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu
công nghiệp
7. Cục Sở hữu trí tuệ (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Nxb Bộ Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
8. Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập (2002),
Chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam –Thụy Sỹ về sở hữu trí tuệ, Hà
Nội.
9. Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa 1994 (2002), Nxb Bản đồ, Hà Nội.
10. />s

22


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU......................................................................2
1.1. Khái quát chung về nhãn hiệu....................................................................2
1.2. Chức năng của nhãn hiệu...........................................................................4
1.3. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu............................................5
1.4. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu................................6
Chương 2 BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ
TUỆ 2005..............................................................................................................8
2.1. Khái niệm bảo hộ NHNT...........................................................................8
2.2. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ........................................9
2.3. Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu..........................10
2.4. Tiêu chí đánh giá NHNT..........................................................................11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status