PHÁT âm TIẾNG ANH của SINH VIÊN MIỀN tây NAM bộ (NGHIÊN cứu NGỮ âm THỰC NGHIỆM) tt - Pdf 53

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

---------------

LÊ KINH QUỐC

PHÁT ÂM TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN MIỀN TÂY NAM BỘ
(NGHIÊN CỨU NGỮ ÂM THỰC NGHIỆM)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu
Mã số: 62.22.02.41

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2018


Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN HUỆ

Phản biện độc lập 1: …………………………………………….
Phản biện độc lập 2: ………………………………………….....

Phản biện 1: ………………………………………………….....
Phản biện 2: ………………………………………………….....
Phản biện 3: ………………………………………………….....

đến quá trình thụ đắc về cảm thụ và tạo sản lời nói của nhiều thế
hệ học trò mai sau. Đây là lý do nghiên cứu đề tài.
0.2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới: Trên bình diện ngữ âm học thực nghiệm so
sánh đối chiếu, nghiên cứu giao thoa giữa tiếng Anh (L2) và tiếng
mẹ đẻ (L1) của người học từ những quốc gia khác nhau, đã có
một số công trình tiêu biểu đề cập đến năng lực tạo sản và lỗi
phát âm tiếng Anh của người học (Li) đối với các đơn vị đoạn
tính và siêu đoạn tính như: (1) phẩm chất và trường độ của
nguyên âm đơn Li của 40 người Hàn học tiếng Anh (luận án tiến
sĩ của Michael Carey, 2002); (2) lỗi phát âm nguyên âm, phụ âm
Li của 11 sinh viên Xu-đăng có L1 là tiếng A-rập (luận án tiến sĩ


2

của Tajeldin Ali, 2011); (3) tạo sản nguyên âm và phụ âm Li của
50 Trung Quốc nói tiếng Quan Thoại (Enli, 2014); (4) trọng âm
và ngữ điệu Li của hai nhóm người có L1 là tiếng Quan thoại và
tiếng Hàn (luận án tiến sĩ của McGory, 1997); (5) trọng âm và
nhịp điệu Li của người Việt ở Úc (luận án tiến sĩ của Nguyen Thị
Anh Thư, 2004); (6) tầm âm vực Li của người Ý (luận án tiến sĩ
của Urbani Martina, 2013); (7) trọng âm và tầm âm vực Li của
người Nhật (Aoyama và Guion, 2007); (8) trọng âm chủ trên cơ
chế trọng âm và tầm âm vực Li của người Tây Ban Nha
(Verdugo, 2006); (9) trọng âm và trường độ nguyên âm Li của
người Ma-rốc học TA, có L1 là tiếng A-rập (Yeou, 2004).
Ở Việt Nam: Ngôn ngữ học đối chiếu nghiên cứu tiếp xúc
ngôn ngữ và giao thoa ngôn ngữ là lĩnh vực khá mới mẻ và là
một vùng đất có nhiều tiềm năng khai phá. Những nhà ngôn ngữ

siêu đoạn tính mà thôi. Tiêu biểu là hai công trình nghiên cứu về
lỗi phát âm các đơn vị đoạn tính tiếng Anh: (1) Lê Thanh Hòa
(2016) nghiên cứu lỗi phát âm phụ âm và nguyên âm tiếng Anh
của 2 nam và 12 nữ chuyên Anh thuộc trường Đại học Đồng Nai.
Tác giả ghi âm phát ngôn của CTV và sử dụng “phương pháp
quan sát cảm thụ chủ quan của người nghiên cứu về các đặc trưng
và nét khu biệt ngữ âm-âm vị học giữa hai ngôn ngữ Việt-Anh
để đánh giá lỗi” đồng thời kết hợp so sánh với các “kết quả nghiên
cứu ngữ âm-âm vị học tiếng Việt và tiếng Anh của tác giả đi
trước”. Ở đây, lỗi phụ âm và nguyên âm được tác giả thẩm nhận
và đánh giá dựa vào “thang đánh giá” với khung 5 bậc sai, tạm
chấp nhận, trung bình, khá và đúng, chứ không dựa vào các tham
số âm học được phân tích và truy xuất từ các phần mềm như
Praat hay Speech Analyzer; (2) Dương Thị Nụ (2009) sử dụng
phương pháp so sánh đối chiếu hệ thống phụ âm tiếng Anh và
tiếng Việt để nghiên cứu lỗi phát âm 4 phụ âm tiếng Anh /ʃ, ʒ, tʃ,
dʒ/. Đến nay, đã có hai công trình nghiên cứu lỗi phát âm ở cấp
độ siêu đoạn tính tiếng Anh: (1) Nguyễn Huy Kỷ (2004) nghiên
cứu ngữ điệu tiếng Anh của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm
Hà Nội. Ngoài các phương pháp nghiên cứu chính như điều tra
điền dã, khảo sát sư phạm, miêu tả, phân tích và tổng hợp, tác giả
còn sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nhưng chỉ với
“tư cách là phương tiện bổ trợ”; (2) Trần Thị Thanh Diệu (2013)
sử dụng phương pháp thực nghiệm ngữ âm học để khảo sát cách
phát âm trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh của sinh viên Việt.


4

Trọng âm từ (2 và 3 âm tiết) và trọng âm ngữ đoạn của sinh viên

Li. Đề xuất một số giải pháp cho chương trình đào tạo nhằm
nâng cao năng lực phát âm tiếng Anh của SV.


5

1.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính trong phát âm tiếng
Anh (Li) của SV, trên cơ sở so sánh đối chiếu với các đơn vị
tương đương trong phát âm tiếng Anh (L2) của người Anh bản
ngữ (BNA) và trên cơ sở kết quả đối chiếu giữa các đơn vị đoạn
tính và siêu đoạn tính này trong phát âm L2 với các đơn vị tương
đương trong phát âm tiếng Việt (L1) của SV.
1.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các đơn vị đoạn tính (nguyên âm, phụ
âm) và siêu đoạn tính (trọng âm, nhịp điệu, tầm âm vực và ngữ
điệu) trong phát âm Li của sinh viên đến từ 13 tỉnh thành ở Miền
Tây Nam Bộ. Các đơn vị Li này được so sánh đối chiếu với các
đơn vị tương đương trong phát âm L2 của nhóm CTV người Anh
bản ngữ đến từ miền Nam nước Anh. Chúng tôi còn phân tích
một số thuộc tính đặc trưng của các đơn vị Li này thông qua đối
chiếu với một số thuộc tính tương đương trong L1.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Với sự trợ giúp của thiết bị ghi âm chuyên dụng và các phần
mềm phân tích âm tích hợp với máy vi tính, kết quả phân tích
ngữ âm thu được đã cho chúng tôi có cái nhìn “khách quan” và
“định lượng” về năng lực phát âm tiếng Anh của sinh viên.
Luận án góp phần làm rõ hơn diện mạo hệ thống ngữ âmâm vị học của phương ngữ Nam bộ và của hệ ngữ RP đương đại

ghi âm chứa trên 112 giờ phát ngôn, được thiết kế với 3 cấu trúc:
câu chứa, bài đọc và đối thoại. Luận án sử dụng dữ liệu phát ngôn
của 50 sinh viên và 4 người Anh bản ngữ trong kho tư liệu làm
ngữ liệu nghiên cứu. Người nghiên cứu (người viết) là người trực
tiếp thiết kế, tổ chức, giám sát, hỗ trợ quy trình ghi âm, phân tích
và đánh giá kết quả khảo sát trong suốt quá trình nghiên cứu.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp: (1) nghiên cứu ngữ âm
học và âm vị học; (2) so sánh-đối chiếu; (3) logic học và toán học
và (4) ngữ âm thực nghiệm. Phương pháp ngữ âm thực nghiệm
là phương pháp chính, được sử dụng để khảo sát năng lực thể
hiện các đơn vị chiết đoạn và siêu đoạn trong Li của mỗi SV
thông qua đối chiếu các tham số âm học như đỉnh cộng hưởng
(formant), thời điểm khởi thanh (VOT - Voice Onset Time),
trọng tâm cân bằng phổ (CoG - Center of Gravity), tỷ lệ biến
thiên qua trục không (ZCR - Zero Crossings Rate), tần số cơ bản
(F0), cường độ, trường độ, biến thiên âm vực, mức âm vực, quãng
âm vực và dạng sóng âm của từng đơn vị ngôn ngữ đích trong Li


7

với các tham số tương đương trong L2 và L1. Dữ liệu tạo sản Li,
L1 và L2 được miêu tả, phân tích và truy xuất qua phần mềm
Praat; được thống kê, xử lý qua phần mềm Excel và SPSS.
1.5. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án được triển khai thành ba chương: Chương 1. Cơ sở lý
luận; Chương 2. Năng lực phát âm các đơn vị đoạn tính tiếng
Anh của sinh viên miền Tây Nam Bộ; và Chương 3. Năng lực thể

Trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ trung gian, chúng tôi sử dụng
cả ba hệ thống ngôn ngữ Li, L2 và L1 trong quá trình so sánh đối chiếu nhằm nghiên cứu năng lực phát âm Li của SV. Phát âm
của SV đối với một đơn vị ngôn ngữ đích nào đó được xem là
đúng chuẩn khi các tham số âm học đích của nó có giá trị “tương
đồng” với các tham số âm học tương đương mà nhóm BNA thể
hiện. Phát âm được xem là “lệch chuẩn” khi các tham số âm học
của đơn vị ngôn ngữ nào đó được SV thể hiện “khác biệt” so với
nhóm BNA. Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích phương
sai (ANOVA) từ phần mềm SPSS (phiên bản 16.0, mức ý nghĩa
5%) để xác định “đúng chuẩn” hay “lệch chuẩn” trong phát âm
của mỗi SV cho từng đơn vị ngôn ngữ đích (Hình 1.4).

Hình 1.4. Quy trình đánh giá năng lực phát âm tiếng Anh của SV


9

Về nguyên âm, phụ âm, trọng âm, nhịp điệu, tầm âm vực và
ngữ điệu của tiếng Anh và tiếng Việt
Trong các phần này chúng tôi (1) phân tích và đối chiếu mỗi
đơn vị ngôn ngữ chiết đoạn và siêu đoạn giữa hai ngôn ngữ dựa
trên cơ sở lý thuyết của các công trình nghiên cứu trước; (2) nêu
ra những vấn đề khó khăn mà SV có thể gặp phải trong việc thể
hiện các đơn vị ngôn ngữ đích; và (3) định hướng cho quy trình
khảo sát, phân tích và đánh giá các đơn vị ngôn ngữ đích.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trên cơ sở lý thuyết phân tích đối chiếu, lý thuyết phân tích
lỗi, lý thuyết ngôn ngữ trung gian và kế thừa kết quả của các công
trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học đi trước, chúng tôi đã
vạch ra “quy trình đánh giá năng lực phát âm Li của SV”. Kết

Đúng & cận

/i:/

/e/

/ɜ:/

/ʌ/

/æ/

84

58

54

40

24

/ɪ/

/ʊ/
22

/ɑ:/

/u:/

/i:, u:/

/ɒ/

/ɑ:, ɔ:/

Đúng chuẩn (%)

32

20

14

12

8

4

2

0

Lý giải: So với không gian hoạt động lưỡi của BNA trong khoang
miệng, có ba khu vực nằm ở ngoại vi tầm hoạt động lưỡi mà SV
hành chức cho quá trình tạo sản hệ thống nguyên âm L1 (Hình


11

chiều hướng ngược lại khuynh hướng phạm lỗi.
Lỗi về trường độ nguyên âm và biện pháp khắc phục
Lỗi về trường độ nguyên âm Li được phân thành hai kiểu
lỗi: (1) rút ngắn trường độ nguyên âm trước phụ âm căng vô


12

thanh chưa phù hợp; (2) rút ngắn trường độ nguyên âm theo nhịp
chưa phù hợp; đồng thời đề xuất một số biện pháp khắc phục.
2.2. Năng lực phát âm phụ âm tiếng Anh của sinh viên
Năng lực phát âm 16 phụ âm đơn tiếng Anh của mỗi SV
được đánh giá thông qua (1) tham số VOT đối với 6 phụ âm tắc,
âm vị /p; b; t; d; k; ɡ/ và (2) tham số CoG, ZCR, StD cùng với
dạng sóng âm đối với 8 phụ âm xát, âm vị /f; v; θ; ð; s; z; ʃ; ʒ/ và
2 phụ âm tắc-xát TA /tʃ; dʒ/ mà mỗi SV thể hiện trên cơ sở đối
chiếu với các tham số của các phụ âm tương đương mà nhóm
BNA thể hiện. Chúng tôi tiến hành 4 thực nghiệm.
Kết quả và thảo luận
Phụ âm tắc: Năng lực thể hiện VOT của SV đối với các phụ
âm tắc tiếng Anh là khá thấp (Bảng 2.4).
Bảng 2.3. Năng lực thể hiện VOT của SV đối với phụ âm tắc Li
Tỷ lệ SV

VOTLi

Đúng chuẩn
& cận chuẩn

VOTLi ≥

40%

36%

26%

14%

10%

6%

Kết quả cho thấy, thứ nhất, tỷ lệ SV thể hiện phụ âm với
VOT khác biệt so với BNA là rất cao. Thứ hai, số SV thể hiện
VOT có giá trị âm của hai âm tắc hữu thanh /b/Li và /d/Li, chiếm
tỷ lệ cao lên đến 90% và 64% (theo thứ tự).
Lý giải: Thứ nhất, thể liên tục VOT âm tắc hữu thanh L1 có giá
trị VOT âm và nằm ngoài thể liên tục VOT âm tắc hữu thanh L2
có giá trị dương; và thể liên tục âm tắc vô thanh L1 có giá trị
VOT dương nhỏ hơn và cũng nằm ngoài thể liên tục VOT âm tắc
vô thanh L2. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt lớn
về VOT của phụ âm tắc giữa Li và L2 (Hình 2.16). Thứ hai, về
mặt âm vị học, trong TV và TA đều có âm tắc môi-môi hữu thanh
/b/ và âm tắc lợi hữu thanh /d/; nhưng về mặt ngữ âm học, /b/L2
và /d/L2 là hai âm tắc bật hơi (VOT > 35 ms), còn /b/Li; /d/Li mà
SV thể hiện là hai âm tắc hút vào (VOT > 40 ms).


13



/ð/

100

96

94

88

82

72

62

52

52

32

88

62

64

40


68

Lỗi và biện pháp khắc phục
Đối với 6 phụ âm tắc: Dựa vào tiêu chí bật hơi, chúng tôi
phân ra 4 kiểu lỗi chính: (1) lỗi thứ yếu (VOTLi > VOTL2); (2) lỗi
bật hơi yếu (VOTL2 > VOTLi > 35 ms), (3) lỗi không bật hơi (0
ms < VOTLi < 35 ms) và (4) lỗi hút hơi (VOTLi < 0 ms). Biện
pháp khắc phục cơ bản là điều chỉnh mức độ bật hơi của mỗi âm
tắc Li này dựa vào độ bật hơi chuẩn của âm tắc L2 tương ứng.
Đối với 8 phụ âm xát và 2 phụ âm tắc-xát: Dựa vào nguồn
gốc gây ra lỗi, chúng tôi phân ra 7 kiểu lỗi chính: (1) lỗi
CoG/ZCR; (2) lỗi VT; (3) lỗi PT; (4) lỗi TT; (5) lỗi VT/PT; (6)
lỗi PT/TT và (7) lỗi VT/PT/TT (VT: vị trí; PT: phương thức; TT:
tính thanh). Biện pháp khắc phục cơ bản là xác định rõ lỗi mà SV
phạm phải thuộc loại nào, ngữ âm học (kiểu 1) hay âm vị học
(kiểu 2 – 7). Nếu lỗi thuộc về âm vị học thì do một tiêu chí hay


14

hỗn hợp nhiều tiêu chí gây ra. Trên cơ sở đó, người dạy và người
học có thể vận dụng những chiến thuật và phương pháp khắc
phục thích hợp.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương hai tập trung phân tích, định lượng và đánh giá năng
lực thể hiện các đơn vị đoạn tính Li của SV gồm 11 nguyên âm
đơn và 16 phụ âm đầu. Từ kết quả số liệu, chúng tôi đã hệ thống
hóa tất cả các lỗi của các đơn vị chiết đoạn này thành những kiểu
lỗi điển hình dựa trên nguyên nhân gây ra lỗi của SV và đề ra

cũ; thứ hai, cũng do xem trọng ý nghĩa văn phạm nên SV phân
giới ngữ đoạn ngay sau vị trí “did” và hệ quả là “did” mang trọng
âm. Đây là hiện tượng chuyển di tiêu cực từ TV. Hệ quả là “How”
và “Why” sẽ không mang trọng âm do đứng trước “did” trong
ngữ đoạn “How did//” và “Why did//”.
Về mặt ngữ âm học: các âm tiết phân bố đúng trọng âm chưa
chắc đã đúng chuẩn về ngữ âm học. Đối với các âm tiết: (1) “she”,
24 nam SV cần phải hạ MAV xuống thấp hơn; (2) “to”, 25 nữ
SV cần phải dịch chuyển âm vực xuống với độ dốc lớn hơn; (3)
“be-”, 25 nữ SV cần phải rút ngắn thêm trường độ và 25 nam SV
cần phải hạ thấp mức âm vực xuống thấp hơn; (4) “work”, 22 nữ
SV cần tăng thêm khoảng BTAV rộng hơn; (5) “hun”, 22 nữ SV
cần tăng độ rộng BTAV, tăng trường độ và cường độ và 21 nam
SV cần kéo dài trường độ để thể hiện đúng trọng âm chủ này
trong câu 2; (6) “go”, 18 SV nữ cần thêm tăng cường độ; (7)
“come”, 19 SV nữ cần tăng cường độ và 15 nam SV cần tăng
thêm độ rộng BTAV; (8) “How”, 11 nữ SV cần tăng thêm BTAV;
và (9) “Why”, 11 nữ SV cần tăng thêm BTAV và cao độ.
Lỗi và biện pháp chung khắc phục lỗi
Chúng tôi phân lỗi trọng âm thành 2 nhóm kiểu lỗi chính:
nhóm 7 kiểu lỗi trọng âm về âm vị học (sai vị trí trọng âm) và
nhóm 6 kiểu lỗi trọng âm về ngữ âm học (dù đúng vị trí trọng âm
nhưng thể hiện các tham số âm học chưa chuẩn). Biện pháp chữa
lỗi cơ bản là dựa vào tham số nào mà SV phạm lỗi để khắc phục.
Có hai trường hợp đáng lưu ý, cần sử dụng biện pháp khắc
phục phù hợp: (1) đối với go và -come ở giữa câu, nữ SV cần
nâng thêm cường độ lớn như nữ BNA; (2) đối với các âm tiết chủ
và các âm tiết mang trọng âm của từ nghi vấn, nữ SV cần tăng
thêm BTAV vì so với nam BNA, nữ BNA nới rộng BTAV hơn
nhiều để đánh dấu trọng âm tương phản. Điều này phù hợp với

M
1,67
3,14

F
**
**

CV
16,45
18,78

So với BNA, trường độ nhịp giữa hai âm tiết mang trọng âm
nào đó mà SV thể hiện sẽ dài hơn, khi càng có nhiều âm tiết
không nhấn ở giữa hai âm tiết mang trọng âm đó.
Lỗi và biện pháp khắc phục
Dựa vào nguyên nhân gây ra lỗi, chúng tôi phân ra các 4
kiểu lỗi nhịp điệu: (1) phân bố trọng âm sai vị trí; (2) rút ngắn
trường độ âm tiết không mang trọng âm chưa đủ; (3) kéo dài
trường độ âm tiết mang trọng âm chưa đủ; và (4) tốc độ thể hiện
các âm tiết trong một khoảng nhịp chưa phù hợp. Đồng thời
chúng tôi đề xuất các biện pháp khắc phục tương ứng.
3.3. Năng lực thể hiện tầm âm vực tiếng Anh của sinh viên
Chúng tôi đối chiếu tầm âm vực (TAV) tiếng Việt (L1) và
tiếng Anh (L2) của sinh viên với tầm âm vực tiếng Anh (L1) của
BNA căn cứ vào mức âm vực (MAV) và quãng âm vực (QAV).
Chúng tôi tiến hành 2 thực nghiệm.
Kết quả và thảo luận
Qua kết quả đối chiếu tầm âm vực giữa tiếng Việt và tiếng
Anh, chúng tôi rút ra 5 quy luật BTAV trong tiếng mẹ đẻ của SV

398 Hz
114 Hz
167 Hz
81 Hz
(13) St (1,0) di
22 St
14 St
29 St
1,2 di
2,4 di
1,2 di

SV

BNA
209 Hz
87 Hz

97 Hz
78 Hz
(4) St (0,3) di
15 St
12 St
18 St
1,0 di
1,5 di
0,5 di

Lưu ý: Các giá trị in đậm là tầm âm (diapason); các giá trị trong ngoặc chỉ rằng
giá trị LFmintb của BNA nhỏ hơn LFmintb của SV.

Về đường nét ngữ điệu: số câu SV thể hiện đúng đường nét
ngữ điệu ở cuối câu chiếm tỷ lệ cao (And-S: 100%; S: 84%; OrQ: 71%; Wh-Q: 62.5% và Y/N-Q: 61%) Tuy nhiên, số SV không
nhất quán trong việc thể hiện đường nét ngữ điệu (cùng lên hay
cùng xuống) cho cùng một đơn vị ngữ điệu chiếm tỷ lệ khá cao
trong 3 nhóm, cao nhất là nhóm Wh-Q (60%), kế đến nhóm Y/NQ (48%) và nhóm S (46%). Do vậy, số SV thể hiện đúng đường
nét ngữ điệu cho cả 4 câu trong mỗi nhóm chiếm tỷ lệ khá thấp,
thấp nhất đối với nhóm câu Y/N-Q (34%), kế đến Wh-Q (36%)
và S (54%).
Đối với hai nhóm câu “Or-Q” và “And-S”, mặc dù tỷ lệ số lần
mà SV thể hiện đường nét NĐL của hai đơn vị ngữ điệu đầu khá
cao (76%; 55%) và tỷ lệ số lần mà SV thể hiện đường nét NĐX
của đơn vị cuối rất cao (71%; 100%) nhưng tỷ lệ số câu mà SV
thể hiện đúng cả 3 đơn vị ngữ điệu khá thấp (Or-Q: 40%; And-S:
30%). Do vậy, khi câu càng có nhiều đơn vị ngữ điệu thì tần suất
SV thể hiện đúng đường nét ngữ điệu cho cả câu sẽ càng thấp.
Về ngữ điệu (đúng đường nét và phẩm chất BTAV cuối câu):
năng lực thể hiện ngữ điệu của SV cao nhất đối với loại câu S
(nữ: 84%; nam: 72%), kế tới là loại câu Wh-Q (nữ: 64%; nam:
60%) và thấp nhất là loại câu Y/N-Q (nữ: 16%; nam: 20%).
Lỗi ngữ điệu và biện pháp khắc phục
Chúng tôi phân ra hai kiểu lỗi chính: (1) lỗi đường nét ngữ
điệu (về mặt âm vị học); và lỗi thu hẹp khoảng BTAV cuối câu
(về mặt âm vị học và ngữ âm học). Đồng thời, chúng tôi đề ra
những biện pháp khắc phục (1) lỗi “không nhấn quán” trong việc
thể hiện đường nét ngữ điệu lên hay xuống và (2) lỗi thể hiện
khoảng BTAV ở cuối đơn vị ngữ điệu có độ dốc quá ít đối với
mô hình NĐX và mô hình NĐL.
Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao năng lực phát âm tiếng
Anh cho sinh viên chuyên Anh ở miền Tây Nam Bộ
Chúng tôi nêu ra một số chiến thuật giảng dạy và phương

nguyên âm tiếng Anh rộng hơn, với 6 nguyên âm /i:/, /u:/, /ʊ/,
/ɔ:/, /ɒ/ và /ɑ:/ có phân bố ở ngoại vi không gian cộng hưởng của
phổ nguyên âm L1. Vì thế, lỗi về phẩm chất có tần suất cao rơi
vào 6 nguyên âm này là do SV (1) không có thói quen lùi lưỡi về
sau sâu hơn bình thường (vào khu vực phía trong của khoang
miệng) để tạo sản 3 âm đích /ɔ:/L2, /ɒ/L2 và /ɑ:/L2; và (2) không có
thói quen nâng lưỡi cao hơn bình thường (vào khu vực trần của
khoang miệng) để tạo sản 3 âm đích /i:/L2, /u:/L2 và /ʊ/L2. SV cần
phải nới rộng không gian dịch chuyển lưỡi ra khỏi cộng minh


20

trường mà lưỡi có thói quen hành chức cho hệ thống nguyên âm
L1: (1) nâng lưỡi lên thêm cho /i:/, /u:/ và /ʊ/; và (2) lùi lưỡi về
sau thêm cho /ɔ:/, /ɒ/ và /ɑ:/.
Phẩm chất nguyên âm Li của SV còn bị chi phối bởi sự khác
biệt về vị trí lưỡi (F1) và độ cao lưỡi (F2) giữa nguyên âm đích
và nguyên âm L1 tương tự. Do tập quán phát âm và chuyển di
phẩm chất F1/F2 cùng tác động đến /ɔ:/Li và /u:/Li nên tần suất
SV phạm lỗi cao rơi vào cả hai “formant” F1 và F2 của chúng.
Về trường độ nguyên âm: năng lực (1) rút ngắn trường độ
nguyên âm đứng trước phụ âm vô thanh và (2) rút ngắn trường
độ nguyên âm để giữ nhịp của sinh viên khá cao. Tuy nhiên, năng
lực thể hiện trường độ nguyên âm trong mối tương quan giữa
nguyên âm ngắn và nguyên âm dài trong những ngữ cảnh khác
nhau của SV khá thấp; và năng lực rút ngắn trường độ nguyên
âm của SV để giữ nhịp cũng giảm xuống khi càng có nhiều âm
tiết không nhấn chêm vào cùng một từ đích.
1.2. Phụ âm đầu

yếu bởi tập quán thể hiện phụ âm L1 trên bình diện âm vị học đối
với ba tiêu chí: vị trí cấu âm, phương thức cấu âm và tính thanh;
(2) bởi tập quán thể hiện đặc tính phổ CoG/ZCR L1 (tính ồn/tiếng
thanh) trên bình diện ngữ âm học; và (3) bởi hiện tượng răng hóa.
1.2.2.1. Tập quán thể hiện 3 tiêu chí âm vị của 10 phụ âm đích
Đối với /f, v/ và /s, z/ đích: Ở vị trí cấu âm môi-răng của /f, v/
và vị trí cấu âm cấu âm đầu lưỡi-lợi của /s, z/, tập quán thể hiện
phương thức xát, rung (/v/L1, /z/L1) hoặc không rung (/f/L1, /s/L1)
dây thanh quản là thuộc tính cố hữu của SV. Do vậy, số SV thể
hiện 4 phụ âm đích này lệch sang phụ âm khác chiếm tỷ lệ thấp.
Đối với /θ, ð/ đích: Ở vị trí cấu âm đầu lưỡi-răng, SV chỉ có
thói quen thể hiện phương thức tắc và tính vô thanh (/tʰ/L1, /t/L1).
Vì thế, SV (1) không có thói quen thể hiện phương thức xát cho
âm đích /θ/; và (2) không có thói quen thể hiện phương thức xát
và tính hữu thanh cho âm đích /ð/. Số SV thể hiện hai âm này
lệch sang âm khác chiếm tỷ lệ cao nhất ở /ð/ và cao thứ hai ở /θ/.
Đối với /tʃ, dʒ/ đích: Ở vị trí cấu âm ngạc-lợi, SV có thói quen
thể hiện tính vô thanh cho phương thức tắc (/ʈ/L1) và xát (/ʂ/L1),
nhưng không có thói quen thể hiện tính vô thanh cho phương
thức tắc-xát đối với âm đích /tʃ/. Do chỉ khác biệt ở phương thức
tắc-xát, mà phương thức này là sự kết hợp của tắc và xát, nên số
SV thể hiện /tʃ/Li lệch sang âm khác chiếm tỷ lệ rất thấp. Ở vị trí
cấu âm ngạc-lợi này, SV cũng không có thói quen thể hiện tính
hữu thanh cho phương thức tắc-xát cho âm đích /dʒ/. Do khác
biệt hai tiêu chí nên số SV thể hiện /dʒ/Li lệch sang âm khác chiếm
tỷ lệ cao hơn nhiều so với số SV thể hiện /tʃ/Li lệch sang âm khác.


22


MAV cực đại cho các âm tiết mang trọng âm như trong L2.
1.4. Nhịp điệu
Cũng do cách phân giới trọng âm “vào âm tiết (hay tiếng)
cuối cùng hay duy nhất của ngữ đoạn” nên nguyên nhân chính


23

phạm lỗi nhịp của SV là họ thường nhấn giọng vào âm tiết không
mang trọng âm như “did”. Lúc này, trường độ giữa hai âm tiết
mang trọng âm sẽ dài hơn do nó là tổng trường độ của hai nhịp
nhấn là “How-did” và “did-go”; hay “How-did” và “did-come”.
Ngoài ra, SV thường không có khuynh hướng rút ngắn và
dồn nén các âm tiết không nhấn lại để giữ nhịp như trong tiếng
Anh. Vì thế, so với BNA, trường độ nhịp giữa hai âm tiết mang
trọng âm mà SV thể hiện sẽ dài hơn khi càng có nhiều âm tiết
không nhấn chêm vào giữa hai âm tiết mang trọng âm đó.
1.5. Tầm âm vực
Qua kết quả đối chiếu tầm âm vực giữa tiếng Việt và tiếng
Anh, chúng tôi rút ra 5 quy luật BTAV trong tiếng mẹ đẻ của SV
và BNA: (1) quy luật Hmaxtb; (2) quy luật Lmintb; (3) quy luật
LFmintb; (4) quy luật Hmaxtb - Lmintb; và (5) quy luật Hmaxtb - LFmintb.
Ở cuối đơn vị ngữ điệu, SV không có thói quen hạ MAV
xuống thấp hơn ngưỡng 167 Hz (nữ) và 97 Hz (nam). Đây là
nguyên nhân chính dẫn đến lỗi thu hẹp khoảng BTAV ngữ điệu
xuống. Tần suất lỗi cao nhất của SV là không thể hạ MAV cuối
câu xuống thấp như BNA ở các câu “Wh-Q”, “Or-Q”, “And-S”
đối với nữ và “Wh”, “S”, “And-S” đối với nam. Ở những vị trí
khác trong đơn ngữ điệu, SV thường nâng MAV cực tiểu của âm
tiết không nhấn lên cao hơn so với MAV cực tiểu của âm tiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status