Lời mở đầu
Việc quy định quyền nhân thân giữa vợ và chồng là một phần quan
trọng được ghi nhận trong bộ luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, mục
đích nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền
vững. Để tự mỗi người nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, tự
giác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng giống như tôn trọng
quyền nhân thân của vợ hoặc chồng ngoài ra nó xóa bỏ những tư tưởng
đinh kiến , phong kiến về giới còn rơi rớt trong xã hội Việt Nam. Để hiểu
hơn về vấn đề này với bài tập nhóm chúng em xin chọn đề tài “ Thực hiện
quyền nhân thân giữa vợ chồng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
về vấn đề này”
Nội dung
I. Khái niệm và đặc điểm quyền nhân thân giữa vợ và chồng
1. Khái niệm quyền nhân thân giữa vợ và chồng
Theo quy định của điều 24 bộ luật dân sự quy định quyền nhân thân là
“quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác,
trừ trường hợp pháp luật quy định khác”. Quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá
nhân và không thể dịch chuyển được cho chủ thể khác, gắn liền với giá trị tinh
thần của mỗi chủ thể và có tính chất phi tài sản. Từ những đặc trưng ấy ta có thể
hiểu quyền nhân thân là một quyền dân sự, được nhà nước công nhận cho mỗi
các nhân, liên quan đến lợi ích tinh thần của mỗi cá nhân, gắn liền với mỗi
người cụ thể, không định giá được thành tiền và không thể chuyển giao cho
người khác, trừ trường hợp pháp luật quy định.
Đối với cá nhân nam, nữ phát sinh quan hệ vợ chồng trên cơ sở sự kiện
đăng kí kết hôn khi có đủ điều kiện kết hôn luật định thì cũng phát sinh quan hệ
1
nhân thân và quan hệ tài sản. Quyền nhân thân giữa vợ và chồng là quyền gắn
liền với quan hệ vợ chồng, không tách rời, có mối quan hệ qua lại phụ thuộc, tác
II. Nội dung cơ bản về nhân thân giữa vợ và chồng theo
Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000
1. Nghĩa vụ yêu thương, chung thuỷ giữa vợ và chồng
2
Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ với nhau: “Vợ
chồng chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau
xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” (Điều 18
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000), mục đích của hôn nhân là xây dựng gia
đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Để hôn nhân đạt được
mục đích đó thì điều cơ bản là vợ chồng phải yêu thương nhau, chung thuỷ với
nhau, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Xuất phát từ tình yêu
thương mà vợ chồng chung thuỷ với nhau, xây dựng một gia đình hạnh phúc.
Chính hai yếu tố đó đã giúp cho vợ chồng chung sống hạnh phúc và là cơ sở để
duy trì quan hệ hôn nhân bền vững.
Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng
1. Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.
2. Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh
dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.
Vợ chồng phải quý trọng nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng
gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Sự quý trọng chăm
sóc, giúp đỡ nhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi, cách xử sự và thái độ của
họ đối với nhau như: Tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, động viên lẫn nhau,
tạo điều kiện thuận lợi để vợ hoặc chồng phát huy khả năng của bản thân và thực
hiện nhiệm vụ đối với gia đình và xã hội. Vợ chồng phải tạo điều kiện cho nhau
trong việc học tập, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ. Cấm mọi
hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm giữa vợ và
Điều 22. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng
Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không
được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
4
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng:
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của công dân (Điều 70), Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đã quy định vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhau. fQuy định này nhằm xoá bỏ hiện tượng xảy ra trong
thực tế là với danh nghĩa vợ, chồng một bên đã cấm hoặc cản trở
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của bên kia, làm ảnh hưởng không
những đến quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp thừa
nhận mà còn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Không ít các
trường hợp, vợ chồng mâu thuẫn dẫn đến ly hôn vì lý do bất đồng
về tín ngưỡng, tôn giáo.
2.4. Quyền lựa chọn nghề nghiệp, học tập, tham gia các hoạt động kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội
Điều 23. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt
“Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề
nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia
hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của
mỗi người”.
Quyền được lựa chọn nghề nghiệp, học tập và tham gia các hoạt động
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Đây là quyền cơ bản của công dân đã được
Hiến pháp của Nhà nước ta đã thừa nhận. Với tư cách là công dân, vợ chồng
được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đó. Vợ chồng có thể cùng bàn bạc,
giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau trong việc chọn nghề nghiệp, học tập hoặc
Thành tựu trong việc thực hiện quyền nhân thân giữa vợ và chồng
trong thực tiễn
Trong quan hệ hôn nhân, quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng là
rất quan trọng, được pháp luật hôn nhân gia đình quy định khái quát và điều
chỉnh những quan hệ mang tính cơ bản nhất, chung nhất trong quan hệ vợ
chồng. Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng thể hiện quan hệ vợ
chồng trong thực tiễn đời sống. Trong thực tế, vợ, chồng thực hiện quyền và
nghĩa vụ về thân nhân một cách đa dạng, phong phú, bằng nhiều hình thức, dưới
6
nhiều vẻ khác nhau mà pháp luật không thể điều chỉnh toàn diện hết mọi mối
quan hệ của vợ, chồng trong xã hội.
Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng được thực hiện và áp dụng có
hiệu quả trên thực tiễn. Theo đó, trong gia đình vợ chồng có quan hệ tình cảm
tốt đẹp đồng thời thể hiện quyền bình đẳng, tự do, dân chủ giữa vợ và chồng.
Hiện nay, nhiều gia đình thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và
chồng là yếu tố quan trọng để gia đình được trao tặng những danh hiệu như gia
đình văn hóa,… và tỉ lệ này chiếm con số khá cao. Điển hình như: “Qua 5 năm
thực hiện phong trào xây dựng gia đình văn hóa, toàn tỉnh Quảng Nam có hơn
307.076 gia đình trong tổng số 307.441 gia đình được công nhận đạt chuẩn gia
đình văn hóa; có 761 gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc của xã, phường, thị
trấn; hơn 488 gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc được tôn vinh cấp huyện,
thành phố; 46 gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc được tỉnh biểu dương; có 16
gia đình trong toàn tỉnh được biểu dương gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc
cấp Trung ương.”
Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng được pháp luật quy định là
phù hợp với thực tế đời sống tình cảm vợ chồng, phù hợp với đạo đức chuẩn
mực xã hội nên về cơ bản được vợ, chồng tự giác thực hiện và đảm bảo tốt.
bạo hành mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lí và sức khỏe của những đứa
trẻ phải chứng kiến bạo lực gia đình. Đây cũng là nguy cơ gây tan vỡ và suy
giảm sự bền vững của gia đình.
Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình có nhiều, song kết quả điều tra của
Uỷ ban các vấn đề về xã hội chỉ ra rằng, nguyên nhân cơ bản dẫn đến bạo lực
gia đình là do lạm dụng rượu bia (63,7%) và các tệ nạn xã hội khác như cờ bạc,
nghiện ma tuý, ngoại tình, ghen tuông, thiếu hiểu biết pháp luật, kinh tế khó
khăn, kể cả kinh tế khá giả cũng có bạo lực gia đình.
Bạo lực của người chồng đối với người vợ trong gia đình, đây là hình thức bạo
lực được coi là phổ biến nhất trong gia đình. Nguyên nhân sâu xa là sự tồn tại
tình trạng bất bình đẳng giới và tư tưởng gia trưởng (có quyền "dạy bảo" các
thành viên yếu thế trong gia đình bằng vũ lực hoặc nhục mạ…)
Ngược lại, trong xã hội ngày nay, hiện tượng người vợ sử dụng bạo lực
với người chồng cũng không phải là hiếm. không chỉ dừng lại ở những lời lẽ
chua ngoa, những cách xử sự thô bạo mà họ còn trực tiếp gây ra những tổn
thương về thể chất cho chồng, thậm chí còn gây ra an mạng kinh hoàng
8
Nhận thức về công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình: tuy công tác dân số
kế hoạch hóa gia đình đã được Đảng và Nhà nước chú trọng và phổ biến cho
người dân hiểu biết hơn phần nào vẫn còn bị coi nhẹ bởi những cặp vợ chồng
còn khá bảo thủ, không chịu đổi mới tư tưởng lạc hậu. Vợ chồng còn mang nặng
quan niệm truyền thống “trọng nam khinh nữ” chỉ muốn có con trai để nỗi dõi
tông đường nên kiên quyết sinh con thứ ba, sinh nhiều con để có con trai. Vì
vậy, vấn đề sinh để có kế hoạch cần được các vợ chồng nhận thức sâu sắc với
đúng tầm ý nghĩa quan trọng của nó.
Vấn đề vi phạm trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do
một bên thực hiện: hiện nay, vợ chồng mâu thuẫn nhau dẫn đến tình trạng yêu
cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng rất
NĐ 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và
gia đình, theo đó Điều 2 quy định những nguyên tắc xử phạt vi phạm hành
chính: Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia
đình được thực hiện theo quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chủ
yếu nhằm mục đích giáo dục để cá nhân, tổ chức vi phạm nhận thức được sai
phạm, tự nguyện sửa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm
dứt hành vi vi phạm pháp luật và để răn đe, phòng ngừa chung. Việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình đối với người vi phạm là
người các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa có xem xét đến
ảnh hưởng và tác động của phong tục, tập quán để vận dụng cho phù hợp.
2. Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền nhân thân
của vợ và chồng
2.1 Đối với việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Theo quy định tại bộ luật hôn nhân và gia đình 2000 thì trong bộ luật này
cũng có nhiều quy định mới điều chỉnh tất cả các lĩnh vực hôn nhân. Tuy nhiên
10
sau một thời gian áp dụng ta thấy có nhiều điểm bất cập cần các nhà làm luật
cần phải sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp hơn.
- Thứ nhất : theo quy định tại bộ Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì
khoản 3 Điều 2 quy định về “nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch
hóa gia đình” nằm trong chương III quan hệ giữa vợ và chồng là chưa phù hợp.
Bởi vì theo quy định tại khoản 3 Điều 2 thì khoản này cũng quy định về quyền
và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng. Tuy nhiên trong khoản 3 Điều 2 này lại
chỉ đơn thuần là quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng mà các nhà làm
luật lại cho rằng đó là một nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình.
Quy định này chưa thật sự hợp lí vì vậy chúng ta cần phải đưa khoản 2 Điều 3
vào chương III “quan hệ vợ chồng”.
công tác tuyên truyền giáo dục về hậu quả của bạo lực gia đình tới các hộ gia
đình và để vợ chồng đi đến nhận thức được rằng “nạn bạo lực gia đình là vấn đề
mang tính xã hội” đã có sự can thiệp của các cấp chính quyền. Đảng và nhà
nước xây dựng các thiết chế gia đình bền vững, ngăn chặn và xử lí nghiêm minh
các hành vi bạo lực trong gia đình nói chung và bạo lực giữa vợ chồng nói riêng.
Đối với cá nhân là vợ hoặc chồng là nạn nhân bạo lực gia đình cũng cần
phải thẳng thắn nhìn nhận vấn đề, chủ động phối hợp với các cơ qua chức năng
các lực lượng đoàn thể để giải quyết vấn đề xã hội này. Mỗi người cần nâng cao
trách nhiệm của mình trong gia đình, dẹp bỏ bớt cái tôi cá nhân, rèn luyện kỹ
năng sống chia sẻ, nhường nhịn, tự điều chỉnh để vợ chồng hòa hợp. Cần vận
động mọi người và đặc biệt là người phụ nữ khi có bạo lực gia đình thì cần phải
lên tiếng trình báo với các cơ quan có thẩm quyền vào cuộc để ngăn chặn kịp
thời.
12
Kết luận
Việc thực hiện tốt quyền nhân thân giữa vợ và chồng không những đảm
bảo quyền và lợi ích nhân thân hợp pháp của vợ, chồng đối với nhau, xác định
hành vi xử sự thông thường giữa vợ và chồng: yêu thương, tôn trọng, chăm sóc,
giúp đỡ lẫn nhau mà còn đảm bảo quyền và lợi ích nhân thân của vợ, chồng đối
với người khác, đặc biệt là những người thân trong gia đình. Là cơ sở pháp lí để
giải quyết các tranh chấp liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình. Với nhịp
sống ngày càng phát triển như hiện nay thì quan hệ hôn nhân giữa vợ, chồng
luôn đòi hỏi pháp luật ngày càng hoàn thiện để có thể giải quyết những nảy sinh
những vấn đề mà pháp luật hiện nay chưa kịp điều chỉnh.
13