Phân tích, so sánh các đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị và lối sống nông thôn ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu xã hội học nông thôn đối với - Pdf 53

MỤC LỤC
Mục lục

Trang

LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………
GIẢI QUYẾT VẪN ĐỀ……………………………………………….
A. Phân tích, so sánh các đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị và lối

2
3

sống nông thôn…………………………………………………………
I. Thế nào là đô thị, lối sống đô thị, nông thôn, lối sống nông thôn?......
II. So sánh các đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị và lối sống nông

3
3

thôn……………………………………………………………………..
1. Giống nhau…………………………………………………………
2. Khác nhau……………………………………………………………
B. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu xã hội học nông thôn đối với

4
4
4

lĩnh vực pháp luật………………………………………………………
KẾT THÚC VẤN ĐỀ…………………………………………………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………….

Trong quá trình làm bài không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, em rất
mong nhận được lời góp ý từ thầy, cô.

2


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A. Phân tích, so sánh các đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị và
lối sống nông thôn
I. Thế nào là đô thị, lối sống đô thị, nông thôn, lối sống nông thôn?
Để so sánh được đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị và lối sống nông thôn
trước hết ta cần phải hiểu khái niệm đô thị, lối sống đô thị, nông thôn, lối sống nông
thôn.
- Đô thị là hình thức tồn tại của xã hội loài người trong phạm vi không gian –
xã hội mang tính cụ thể về mặt lịch sử, là hình thức tổ chức cư trú của con người
được đặc trưng bởi các chỉ báo sau:
+ Số lượng đan cư tập trung trên phạm vi lãnh thổ hạn chế (mật độ dân số cao).
+ Đại bộ phận dân cư làm các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp.
+ Là môi trường sống trực tiếp, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển xã hội và cá nhân.
+ Giữ vai trò chủ đạo đối với các vùng nông thôn xung quanh với toàn xã hội
nói chung.
- Lối sống đô thị là tổng thể các nét đặc trưng cơ bản cho phương thức hoạt
động sống có ý nghĩa xã hội đặc thù của các cá nhân và các nhóm xã hội, các giai cấp
tầng lớp xã hội tại các đô thị, điểm độc đáo của nó là được hình thành dưới ảnh
hưởng trực tiếp của đời sống xã hội đô thị với tư cách là môi trường không gian xã
hội đặc biệt , phân định rõ nết với môi trường xã hội nông thôn.
- Nông thôn là một kiểu cộng đồng lãnh thổ xã hội có tính cách lịch sử hình
thành trong một quá trình phân công lao động xã hội. Nông thôn là địa bàn cư trú đầu
tiên của con người, nó ra đời một cách tự nhiên cùng với sự ra đời của hình thức sản

các đặc trưng đó ta có thể nhận ra được rõ sự khác nhau giữa lối sống đô thị và
lối sống nông thôn.

4


a, Tính cơ động nghề nghiệp- xã hội, không gian- xã hội
Đô thị: Tính cơ động nghề nghiệp- xã hội, không gian- xã hội ở đô thị tương
đối cao. Đặc trưng này được quy định bởi sự đa dạng và phong phú trong cơ cấu
nghề nghiệp ở đô thị: giáo viên, luật sư, bác sĩ, kỹ sư….Sự đa dang và phong phú đó
đã tạo cho các cá nhân và các nhóm xã hội có nhiều cơ hội để lựa chọn và thay đổi
nghề nghiệp cho phù hợp với sở thích và năng lực và điều kiện của mình. Nhà ở tại
đô thị cũng có thể dễ dàng thay đổi ( mua , bán , chuyển đổi…) theo nguyện vọng,
mong muốn của các hộ gia đình, chỉ cần sự thay đổi đố tạo thuận lợi cho công việc
và sinh hoạt của họ.
Nông thôn: Trong khi đó ở nông thôn điều này khó thực hiện vì nhà ở
thường gắn liền với đất đai của cha ông để lại, liên quan đến việc thờ cúng tổ
tiên, chịu sự chi phối của dòng họ. Ỏ nông thôn, lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp (trồng chọt và chăn nuôi) là nghề cơ bản và chiếm lực lượng lao động
chủ yếu.

b, Hoạt động sống và sinh hoạt
Tại các đô thị, các hoạt động sống và sinh hoạt, nhất là các hoạt động sinh
hoạt phụ thuộc nhiều vào hệ thống dịch vụ công cộng và thị trường. Các thành
phố với đặc điểm cơ bản là mật độ dân số cao, chủ yếu hoạt động sản xuất phi
nông nghiếp, các nhu yếu phẩm như lương thực thực phẩm, rau xanh , hàng tiêu
dùng…phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân phát triển đa dạng , thuận tiện
cho nhu cầu của thị dân. Do không trực tiếp sản xuất ra các mặt hàng nhu yếu
phẩm nên người dân phải dựa vào hệ thống dịch vụ và thị trường. Vì vậy các
chợ và các siêu thị tại các thành phố ở nước ta đang tăng nhanh chóng. Ở hầu

Thời gian nhàn rỗi là khoảng thì giờ trong đó con người không bị ràng
buộc bởi các nhu cầu sinh tồn sơ đẳng. Đó là khoảng thì giờ gần như tự do cho
nhu cấu của mỗi người, mà chủ yếu là thỏa mãn nhu cầu tinh thần. Vì vậy sử
dụng thì giờ nhàn rỗi như thế nào cũng là chỉ báo quan trọng về đặc điểm và
đẳng cấp xã hội – văn hóa của mỗi người.

6


Ở đô thị, nhu cầu văn hóa – giáo dục tương đối cao, việc sử dụng thời gian
nhàn rỗi diễn ra rất đa dạng dưới nhiều hình thức: dạo chơi công viên, sinh hoạt của
lạc bộ, đọc sách báo, thưởng thức nghệ thuật… Điều này được quy định chủ yếu bởi
sự vượt trội về cơ sở hạ tầng và các công trình văn hóa, phúc lợi công cộng ở đô thị
so với ở nông thôn ( các công viên, rạp chiếu phim, nhà hát..) .Ở phương diện này tại
các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh lúc 23 giờ đêm đường phố vẫn
sang đèn, vẫn nhộn nhịp, các nhà hát ngoài trời, quàn cà phê vẫn còn đông khách.
Ở nông thôn chủ yếu là hoạt động nông nghiệp, các hoạt động lao động khác
của các gia đình nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp về cường độ và nhịp điệu thời
gian gần như phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp
mang tính thời vụ nghiêm ngặt, việc gieo trồng chăm bón, thu hoạch diễn ra theo
mùa vụ nên thời gian ở nông thôn không tính theo ngày, giờ, tuần, tháng mà tính theo
mùa vụ. Việc sử dụng thời gian nhà rỗi của nông thôn gắn với nhịp điệ sản xuất nông
nghiệp. Ở nông thôn có khái niêm “ tháng ba ngày tám” là để chỉ những khoảng thời
gian nhàn rỗi thồi gian thu hoạch mùa , thời gian có thể sử dụng để làm các công việc
phi nông nghiệp . Ở nông thôn không có thời gian rỗi mang tính định kỳ và ổn định
diễn ra đều đều như ở đô thị . Do nhịp điệu thời gian và công việc nhà nông theo mùa
vụ , do môi trường sống là nông thôn , do truyền thống văn hóa giáo dục nên việc dân
cư nông thôn dành thời gian nhà rỗi cho những mục đích riêng như; vui chơi giải trí,
xem báo, nghe đài, nâng cao trình độ học vấn còn hạn chế. Ở nông thôn thời gian nhà
rỗi được người dân dành cho các hoạt động chung có tính cộng đồng như hội làng


f, Mức sống
Ở đô thị, trong những năm qua, mức sống của người dân của người dân đô thị
đã được cải tiến đáng kể. Các chi tiêu cho nhu cầu ăn uống, học hành, ăn mặc, đi lại ,
may mặc được đáp ứng hơn so với nông thôn. Mức sống của người dân đô thị cao
hơn hẳn người dân nông thôn ở chỗ họ sẵn sang chi các khoản tiền để đáp ứng nhu
cầu cho bản thân và gia đình như: cho con em học trường tốt, trường điểm, phương
tiện đi lại không chỉ đảm bảo nhu cầu đi lại mà còn thỏa mãn về độ thời trang. Mức
sống đô thị ngày nay thể hiện một sự chênh lệch khá lớn so với mức sống nông thôn
vì vậy Nhà nước nên có những chính sách cân bằng, làm hài hòa mức sống ở khu vực
8


đô thị và nông thôn để giúp những người dân nông thôn đỡ khó khăn, vất vả hơn.
Dân cư đô thị cũng nên có ý thức và trách nhiệm giúp đỡ những người dân nông thôn
vượt qua khó khăn, thiếu thốn để có thể tiếp cận với những điều kiện tốt.
Ở nông thôn mặc dù trong những năm vừa qua cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước đời sống vật chất của người nông dân đã được cải thiện nhiều
hơn so với trước đây . Nhưng mức sống ở nông thôn nói chung và các gia đình nông
thôn nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn , túng thiếu nhất là các vùng trung du và miền
núi. Những địa bàn này còn nhiều gia đình thiếu đói cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ
mặc, con em phải làm việc vất vả thay cho việc đến trường. Họ không có mức sống
như thành thị để có thể vui chơi giải trí và được học hành đầy đủ như họ. Mọi người
đều biết rằng mức sống được nâng cao là điều kiện vật chất cần thiết để con người có
thể bồi dưỡng sức khỏe, nâng cao thể chất , phát triển tài năng , tổ chức cuộc sống gia
đình và đóng góp nhiều hơn cho xã hội . Vì vậy nâng cao mức sống là nguyện vọng
và là mục tiêu phấn đấu của mọi người nhất là người dân nông thôn để có cuộc sống
ổn định . Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước nhân dân nông thôn đã quyết tâm
xóa đói giảm nghèo để đem lại sự giàu có cho Tổ Quốc và không ngừng nâng cao
mức sống cho mọi người.
Ở nông thôn hiện nay bên cạnh những thói quên tốt căn bản của người dân

ích cá nhân.

B. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu xã hội học nông thôn đối với
lĩnh vực pháp luật
Việc thực hiện nghiên cứu xã hội học nông thôn có ý nghĩa rất lớn đối với lĩnh
vực pháp luật.
Xã hội học nông thôn cho chúng ta cách nhìn bao quát về nông thôn trong giai
doạn đổi mới hiện nay . Những thành tựu đã đạt được và những hạn chế đang còn tồn
tại ( việc tổ chức hội hè đình đám , ma chay , giỗ chạp nhiều nơi nhiều lúc còn cồng
kềnh tốn kém và lãng phí những hủ tực lạc hậu lỗi thời còn tồn tại , vì vậy nhiều
người đã lợi dụng những hủ tục mê tín dị đoan này để lừa gạt người dân , các thói hư
tật xấu , tệ nạn xã hội phát sinh …). Từ những nghiên cứu đó cung cấp cho các nhà
10


làm luật những tri thức vốn hiểu biết nhằm ban hành cho các điều luật nhằm hạn chế ,
giảm bớt những tồn tại những nhược điểm trong cuộc sống nông thôn.
- Nghiên cứu xã hội học nông thôn tạo cơ sở khoa học để các nhà nước ban
hành các chính sách xã hội phù hợp kịp thời đối với nông thôn. Nhà nước ta đã tiến
hành giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ gia đình nông dân, giao việc chăm
sóc bảo vệ rừng cho từng hộ dân . Từ đó tạo công việc cho người dân , giảm số người
thất nghiệp ra thành phố làm thuê tụ tập thành các nhóm xã hội gây mất trật tự xã hội.
- Nghiên cứu về xã hội học nông thôn , nhà nước đã ban hành các chính sách
xóa đói giảm nghèo song song với việc khuyến khích người dân làm giàu chính đáng.
Để từ đó, kinh tế phất triển số trẻ em đến lớp ngày càng nhiều , ý thức người dân
ngày càng nâng cao , góp phần hiểu biết nhiều hơn về phấp luật, ý thức chấp hành
luật ngày càng cao.

KẾT THÚC VẤN ĐỀ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status