BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG
ISO 9001:2015
ĐẶNG THỊ THU PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hải Phòng - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG
ĐẶNG THỊ THU PHƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY LẮP THƯƠNG
MẠI ICC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60 34 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LƯƠNG KHÁNH CHI
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu: ................................................................................... 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu: ...................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 4
6. Kết cấu của luận văn ................................................................................................ 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG............................................................ 6
1.1. Tổng quan chung về doanh nghiệp xây dựng. ...................................................... 6
1.1.1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm của DNXD ........................................ 6
1.1.2. Ảnh hưởng của đặc điểm ngành đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp xây dựng ................................................................................................... 9
1.2. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. ............................................. 11
1.2.1. Khái niệm và phân loại HQKD của DNXD .......................................... 11
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNXD ......... 14
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của DNXD ................................... 22
1.3. Kinh nghiệm về nâng cao HQKD của các doanh nghiệp xây dựng ................... 28
1.3.1. Kinh nghiệm của Công ty CP xây dựng Coteccons .............................. 28
1.3.2. Kinh nghiệm của Công ty CP XD và kinh doanh địa ốc Hòa Bình ..... 29
1.3.3. Kinh nghiệm của Công ty CP Xây dựng FLC Faros ............................. 30
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp xây dựng ......................................................................................................... 31
1.4.1. Nhóm nhân tố bên ngoài ........................................................................ 31
1.4.2. Nhóm nhân tố bên trong......................................................................... 36
Tóm tắt chương 1 ...........................................................................................40
iii
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BEP
:
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tài sản
BQ
:
Bình quân
BCTC
:
Báo cáo tài chính
CSH
:
Chủ sở hữu
CTT
:
Đơn vị tính
EBIT
:
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
ICC
:
Công ty cổ phần Đầu tư và xây lắp thương mại ICC
HQKD
:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh
HTK
:
Hàng tồn kho
LNTT
:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu
Trđ
:
Triệu đồng
VCĐ
:
Vốn cố định
VLĐ
:
Vốn lưu động
STT
:
Số thứ tự
XD
:
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là mục
tiêu quan trọng hàng đầu đối với mọi doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh chịu
tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả nhân tố vĩ mô và nhân tố
vi mô thuộc về doanh nghiệp. Để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, nhà quản trị tài chính phải thiết kế được hệ thống các chỉ tiêu
đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh, am hiểu cơ chế tác động của các
nhân tố đến hiệu quả kinh doanh, từ đó, đưa ra các giải pháp đúng để cải thiện
hiệu quả kinh doanh.
Doanh nghiệp xây dựng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế: quyết
định trình độ sản xuất; tạo công ăn việc làm, nâng cao tay nghề cho người lao
động; đóng góp nhiều vào tổng giá trị sản phẩm quốc gia cũng như ngân sách
nhà nước. Để các doanh nghiệp xây dựng có thể hoạt động hiệu quả thì phải
hết sức coi trọng công tác huy động, sử dụng và phân bổ nguồn lực tài chính.
Mục tiêu trong ngắn hạn là doanh nghiệp phải tối đa hoá được lợi nhuận,
trong dài hạn phải tối ưu hoá giá trị doanh nghiệp. Điều này tạo áp lực ngày
một to lớn cho những nhà điều hành, quản trị doanh nghiệp đặc biệt là những
nhà quản trị tài chính chính doanh nghiệp. Làm thế nào để nâng cao hiệu suất
hoạt động, nâng cao khả năng sinh lời từ đó nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp xây dựng là một vấn đề sống còn trong bối cảnh hiện
nay.
Trong những năm qua, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và cạnh
tranh gay gắt từ các nhà thầu xây dựng trong và ngoài nước, hiệu quả kinh
doanh của Công ty cổ phần Đầu tư và xây lắp thương mại ICC giảm sút: hiệu
suất hoạt động giảm, khả năng sinh lời đi xuống. Để nâng cao hiệu quả kinh
tích hiệu quả kinh doanh, tác giả đề ra các nhóm giải pháp để hoàn thiện phân
2
tích hiệu quả kinh doanh trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong đề tài “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh
doanh trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam”[10].
Các nghiên cứu trên đã đánh giá tầm quan trọng cũng như sự cần thiết
của công tác nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh
mẽ của hệ thống kinh tế cùng với quá trình toàn cầu hóa thì công tác nâng cao
hiệu quả kinh doanh cần phải có những thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi
của nền kinh tế. Qua quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy trong vòng 05 năm
gần đây, chưa có công trình chính thống nào nghiên cứu về công tác nâng cao
hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư và xây lắp thương mại ICC.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn của học viên vẫn đảm bảo tính mới và
không bị trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu lý thuyết và phân tích
thực trạng hiệu quả kinh doanh để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư và xây lắp thương mại
ICC.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định một số nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp xây dựng;
- Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư
và xây lắp thương mại ICC;
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại
Công ty cổ phần Đầu tư và xây lắp thương mại ICC.
- Phương pháp thu thập thông tin và số liệu: Sử dụng số liệu thứ cấp và
thông tin được tập hợp từ báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài
chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển
4
tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính) của Công ty cổ phần Đầu tư và xây lắp
thương mại ICC giai đoạn 2013 – 2017;
- Phương pháp xử lý số liệu: phần mềm Ms EXCEL.
- Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng để mô tả những đặc tính
cơ bản của dữ liệu thu thập được qua các bảng.
- Các phương pháp liên quan đến phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phương pháp tỷ số, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích Dupont.
- Phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian: được dùng để làm
công tác dự báo và kiểm tra các giả thiết kinh tế. Các sự kiện quan sát được
sắp xếp theo trình tự thời gian để rút ra quy luật, so sánh, kết luận.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
xây dựng
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư
và xây lắp thương mại ICC.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty
cổ phần Đầu tư và xây lắp thương mại ICC.
nhau. Chính vì vậy một doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp xây dựng nếu
doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động xây dựng chiếm tỷ trọng chủ đạo trong
tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ của một doanh nghiệp, tức
6
là doanh thu từ hoạt động xây dựng chiếm tỷ trọng trên 50% tổng doanh thu
thuần của doanh nghiệp.
1.1.1.2. Phân loại doanh nghiệp xây dựng:
Nhằm phục vụ cho những mục đích nghiên cứu hiệu quả kinh doanh
của các doanh nghiệp xây dựng, các nhà phân tích có thể sử dụng nhiều cách
phân loại khác nhau. Những cách phân loại cơ bản đó là:
- Thứ nhất, xét theo quy mô doanh nghiệp có thể chia thành:
+ Một, doanh nghiệp xây dựng quy mô lớn;
+ Hai, doanh nghiệp xây dựng quy mô vừa;
+ Ba, doanh nghiệp xây dựng quy mô nhỏ;
+ Bốn, doanh nghiệp xây dựng quy mô siêu nhỏ.
Tiêu chí để phân biệt doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa,
doanh nghiệp siêu nhỏ tại các quốc gia khác nhau có những khác biệt nhất
định. Tuy nhiên, đặc điểm chung đó là, các doanh nghiệp xây dựng quy mô
lớn có trình độ tích tụ vốn lớn, có điều kiện đầu tư thiết bị thi công hiện đại,
có thể thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao và thường hội đủ điều
kiện năng lực thi công mạnh, có thể đảm nhận vị trí tổng thầu xây dựng.
Trong khi đó, các doanh nghiệp xây dựng quy mô nhỏ và vừa thường có
lượng nhân lực hạn chế, hạn chế về năng lực thi công và thiết bị, do đó,
thường đảm nhận vị trí là nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp tổng thầu.
Bảng 1. 1: Phân loại quy mô doanh nghiệp
Tiêu chí
100 lao động
200 lao động
động
Nguồn: Quy định tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018
7
- Thứ hai, xét theo năng lực và vai trò trong quá trình thực hiện công trình
xây dựng có thể chia thành:
+ Một, doanh nghiệp xây dựng là tổng thầu xây dựng;
+ Hai, doanh nghiệp xây dựng là nhà thầu phụ.
Các doanh nghiệp đảm nhận vị trí là tổng thầu xây dựng thường là các
doanh nghiệp lớn, có năng lực thi công mạnh và việc đảm nhận vị trí này
thường đem lại tỷ suất lợi nhuận tốt hơn các nhà thầu phụ. Tuy nhiên, các
doanh nghiệp tổng thầu thường không tự mình thực hiện toàn bộ các phần
hành xây dựng mà thường thuê lại các nhà thầu phụ để thực hiện các phần
hành công việc.
- Thứ ba, doanh nghiệp xây dựng có thể được phân loại theo công trình mà
doanh nghiệp thi công xây dựng:
+ Doanh nghiệp xây dựng công trình dân dụng;
+ Doanh nghiệp xây dựng công trình công nghiệp;
+ Doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông;
+ Doanh nghiệp xây dựng công trình thủy lợi;
+ Doanh nghiệp xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật;
+ Doanh nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng;
Trong mỗi nhóm doanh nghiệp trên lại có thể đi sâu vào từng loại hẹp
tuy nhiên, do sản phẩm xây dựng là sản phẩm có tính tiêu chuẩn hóa cao, vì
vậy, sẽ khó tạo ra sự khác biệt hóa một cách rõ ràng. Chính vì vậy, phương
thức cạnh tranh đặc trưng của ngành là cạnh tranh bằng dẫn đầu về chi phí
thấp thông qua giá bỏ thầu thấp, dẫn tới tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh
thu thường thấp. Để bù lại điểm yếu này, các doanh nghiệp xây dựng phải cố
gắng nhận thầu nhiều công trình xây dựng và nỗ lực đạt doanh thu và vòng
quay tài sản cao và sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.
Kỳ luân chuyển vốn dài và vòng quay vốn chậm: Do đặc điểm xây dựng
công trình thường diễn ra trong thời gian dài, do đó, việc thanh quyết toán
9
công trình diễn ra tại nhiều thời điểm khác nhau và kỳ luân chuyển vốn của
ngành xây dựng là khá dài.
Cơ cấu nguồn vốn thường khá phụ thuộc vào nợ vay: Để bù vào hạn
chế là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thấp, các doanh nghiệp xây
dựng thường cố gắng tận dụng đòn bẩy tài chính thông qua chính sách vay nợ
hợp lý nhằm gia tăng tỷ suất lợi nhuận. Do đó, đặc trưng là ngành xây dựng
khá phụ thuộc vào nguồn nợ phải trả.
Chi phí, giá thành sản phẩm gồm nhiều loại, phức tạp và có tính cá biệt
cao: Mỗi một công trình xây dựng hoàn thành gồm nhiều công đoạn, mỗi
công đoạn có cách tính toán chi phí khác nhau, bản thân mỗi công đoạn đó ở
những công trình khác nhau cũng có chi phí khác nhau... chính điều này khiến
công tác quản lý chi phí, xác định giá thành đối với các sản phẩm xây dựng
tương đối phức tạp.
Kết quả kinh doanh trong năm có tính thời vụ: Doanh thu của ngành
xây dựng thường có sự khác biệt khá lớn giữa mùa mưa và mùa khô. Ngành
xây dựng có đặc trưng rất rõ là chịu tác động trực tiếp của điều kiện thời tiết.
Trong điều kiện mưa lũ, ngành xây dựng thường phải đình hoãn các hoạt
của các nhà kinh tế học, nó thể hiện chất lượng của hoạt động. Như vậy, hiệu
quả kinh tế phải là một đại lượng kinh tế so sánh giữa kết quả thu được và chi
phí bỏ ra. Cụ thể, kết quả kinh doanh là những gì doanh nghiệp đạt được sau
một kỳ nhất định được lượng hóa bằng các chỉ tiêu như sản lượng tiêu thụ,
doanh thu, thị phần tiêu thụ...., còn hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử
11
dụng các nguồn lực, được tính bằng tỷ số giữa kết quả và hao phí bỏ ra để đạt
được kết quả đó.
Như vậy, khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù
kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp mà
doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả
đó, được thể hiện thông quacác chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh
nghiệp.
Xét dưới góc độ tài chính, mục tiêu tối đa của doanh nghiệp là tối đa
hóa giá trị doanh nghiệp trên cơ sở tôn trọng pháp luật và thực hiện tốt trách
nhiệm xã hội. Do đó, một doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh cao sẽ tạo ra
sự gia tăng giá trị doanh nghiệp trong dài hạn trên cơ sở sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực của doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị
doanh nghiệp, thì các doanh nghiệp phải không ngừng cải thiện hiệu quả kinh
doanh.
Do vậy, hiệu quả kinh doanh còn thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận trên vốn
kinh doanh trong tương quan với chi phí sử dụng vốn: Điều này có nghĩa là
trên một đồng vốn bỏ ra, doanh nghiệp cố gắng thu được lợi nhuận cao nhất
trên cơ sở đã tính đến các rủi ro có thể chấp nhận. Chính vì vậy, một doanh
nghiệp có hiệu quả kinh doanh tốt là doanh nghiệp tạo ra tỷ suất lợi nhuận
trên vốn lớn hơn chi phí sử dụng vốn. Nói cách khác, doanh nghiệp có giá trị
gia tăng kinh tế (EVA) dương. Biểu hiện của doanh nghiệp có hiệu quả kinh
gián tiếp. Hiệu quả kinh doanh trực tiếp là hiệu quả do chủ thể thực hiện có
tác động trực tiếp ngay đến kết quả khi thực hiện mục tiêu hoạt động của chủ
thể. Hiệu quả kinh doanh gián tiếp là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo
ra cho một đối tượng khác.
- Theo quá trình hình thành: Theo cách phân loại này hiệu quả kinh
doanh bao gồm hiệu quả trung gian và hiệu quả kinh doanh cuối cùng. Hiệu
quả trung gian là khâu trung gian trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh
doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Biểu hiện của hiệu quả kinh doanh trung
gian là hiệu suất sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, là bước trung gian,
13
tiền đề đánh giá hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Hiệu quả
kinh doanh cuối cùng là khả năng sinh lời của doanh nghiệp, một mục tiêu
chủ đạo trong hoạt động của doanh nghiệp.
- Phân loại theo cách thức xác định hiệu quả kinh doanh: Theo cách
phân loại này, hiệu quả kinh doanh được chia thành hiệu quả tương đối và
hiệu quả tuyệt đối. Hiệu quả tương đối là hiệu quả được xác định bằng tỷ số
giữa kết quả và chi phí. Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được đo bằng hiệu số
giữa kết quả và chi phí.
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNXD
Các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DNXD bao gồm: chỉ tiêu phản ánh
hiệu suất hoạt động và các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời.
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu suất hoạt động của DNXD
Các hệ số hiệu suất hoạt động kinh doanh có tác dụng đo lường năng
lực quản lý và khai thác hiệu suất của các tài sản hiện có của doanh nghiệp.
Thông thường các hệ số hoạt động sau đây được sử dụng trong việc đánh giá
mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng vốn dài hạn
Vốn ngắn hạn BQ trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ, nó cho
biết một đồng vốn ngắn hạn bình quân trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng
DTT. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động nhanh, đó là
nhân tố góp phần nâng cao HQKD cho DNXD.
+ Kỳ luân chuyển vốn ngắn hạn:
Kỳ
luân
chuyển
Số ngày trong kỳ
=
vốn ngắn hạn
Vòng quay vốn ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết, để thực hiện một vòng luân chuyển (vòng quay),
vốn ngắn hạn cần bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ tài sản
ngắn hạn vận động nhanh, đó là nhân tố góp phần nâng cao HQKD cho
DNXD.
Trong thành phần của VNH của DNXD thì tiền, HTK và nợ phải thu là
ba thành phần chủ yếu, do đó để đánh giá hiệu suất sử dụng VNH cần quan
tâm đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền, sử dụng HTK
và nợ phải thu của DNXD.
Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của khoản phải thu trong kỳ, nó
cho biết khoản phải thu luân chuyển được bao nhiêu vòng trong kỳ. Chỉ tiêu
này càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi công nợ của DNXD càng nhanh, DN ít
bị chiếm dụng vốn, từ đó tiết kiệm vốn và đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển
VNH, góp phần nâng cao HQKD cho DNXD.
+ Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân
Số ngày trong kỳ
=
Vòng quay khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết, số ngày cần thiết để khoản phải thu thực hiện
được một vòng quay. Nó là độ dài tính từ lúc DNXD xuất giao hàng đến khi
DNXD thu được tiền bán hàng. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ tốc độ thu
tiền càng nhanh, góp phần nâng cao HQKD cho DNXD.
Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho (HTK)
Để đánh giá hiệu quả sử dụng hàng tồn kho của DNXD có thể sử dụng
2 chỉ tiêu: (1)vòng quay hàng tồn kho và (2) số ngày một vòng quay HTK.
16
+ Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng
Giá vốn bán hàng trong kỳ
Vòng quay vốn
(tài sản)
=
Doanh thu thuần trong kỳ
Tổng tài sản (V KD) bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VKD (tài sản) DNXD đưa vào kinh
doanh trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Đây là chỉ tiêu
tổng hợp phản ánh trình độ khai thác, sử dụng tài sản của DNXD, bao gồm cả
vốn ngắn hạn và vốn dài hạn của DN. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn càng cao, là nhân tố góp phần nâng cao HQKD của DNXD.
17