Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở thành phố hà nội tt - Pdf 53

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ MINH THOA

QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 9 34 04 10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNGẪN KHOA HỌC:

1. PGS.TS. Lê Xuân
. Lê Anh Vũ

Hà Nội - 2019


Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Lê Xuân Bá
2. TS. Lê Anh Vũ

Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Quang Tuấn
Phản biện 2: PGS.TS. Ngô Tuấn Nghĩa
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Thị Nguyệt


Lê Minh Thoa (2015), “Hoàn thiện công tác quản lý chi phí tại
các dự án xây dựng ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo
(Số 03/2015 - Số chuyên đề), tr.63-65.


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới và phát triển đất nước, cùng quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì tốc độ đô thị hóa ở
nước ta tăng nhanh. Sự cạnh tranh đô thị với chất lượng cuộc sống
ngày càng đòi hỏi chúng ta phải có tầm nhìn chiến lược về quá
trình xây dựng, phát triển và quản lý đô thị đặc biệt là đô thị xanh.
Thành phố Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: “Là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính
quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và
giao dịch quốc tế”. Luật Thủ đô xác định rõ trách nhiệm của Thủ
đô: “Xây dựng, phát triển Thủ đô văn minh, hiện đại, tiêu biểu cho
cả nước”. Phát triển đô thị xanh, đô thị thông minh là xu hướng
hiện nay trên toàn thế giới. Thủ đô Hà Nội cũng cần phải phát triển
theo hướng này. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có ảnh hưởng rất
lớn đến đầu tư phát triển đô thị xanh - thông minh - hiện đại của Thủ
đô Hà Nội và luôn được quan tâm đặc biệt. Vì cuộc cách mạng này
làm thay đổi nhiều đến bộ mặt đô thị xanh - thông minh - hiện đại, sự
phát triển của cư dân thông minh, chính quyền đô thị thông minh…
Bên cạnh đó, Dân số của Thủ đô Hà Nội tăng nhanh, đô thị hóa
ngày càng phát triển mạnh chưa từng có làm cho Hà Nội phải đối
mặt với các thách thức nghiêm trọng: Biến đổi khí hậu, khủng hoảng
năng lượng, môi trường đô thị ngày càng ô nhiễm, nguồn nước sạch

quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở thành phố Hà Nội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
Đề tài luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu quản lý của chính
quyền thành phố Hà Nội về đầu tư phát triển một số khu đô thị
xanh điển hình.
- Về thời gian: + Số liệu thứ cấp từ năm 2010 - 2017;
+ Số liệu sơ cấp năm: 2017 và 2018.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt quá trình
nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra,
luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể bao
gồm:(1) Phương pháp nghiên cứu tại bàn; (2) Phương pháp phân
tích, tổng hợp; (3) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, tham khảo
ý kiến chuyên gia; (4) Phương pháp phân tích SWOT.
2


5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
(1)Tổng hợp những cơ sở lý luận về quản lý đầu tư phát triển đô
thị theo hướng xanh - thông minh - bền vững; (2) Hệ thống hóa các
tiêu chí đánh giá đầu tư phát triển đô thị xanh, quản lý đầu tư phát
triển đô thị xanh; (3) Đánh giá thực trạng phát triển đô thị xanh ở
thành phố Hà Nội, quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh của chính
quyền thành phố Hà Nội; (4) Xây dựng một số giải pháp hoàn
thiện quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở thành phố Hà Nội;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa về mặt khoa học

1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Cho đến nay, trên thế giới đã có một số nghiên cứu liên quan
đến quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh. Luận án đã tham khảo
những công trình nghiên cứu sau:
Nghiên cứu về “Tình hình thực hiện chính sách đô thị thông
minh tại Hàn Quốc” của Lee Jae Yong (2013) đã đưa ra tầm nhìn
và mục tiêu xây dựng đô thị sáng tạo tiên phong, an toàn và hạnh
phúc: Thứ nhất, mở rộng thành phố thông minh; Thứ hai, phát triển
công nghiệp đô thị thông minh theo mô hình kinh tế sáng tạo; Thứ
ba, tăng cường hỗ trợ tiến ra thị trường nước ngoài.
Nghiên cứu về “Quy hoạch U - City” của Park Chan Ho
(2013) đưa ra việc tiếp cận U - City một cách tổng hợp trên
phương diện dịch vụ kết hợp giữa không gian đô thị với hạ tầng
công trình và công nghệ thông tin. Lập quy hoạch U-City góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bằng hạ tầng thông
minh.
Nghiên cứu về “Chiến lược phát triển thành phố xanh tại
Hàn Quốc” của tiến sĩ Lee Bum-Huyn (2013) đã đưa ra cách tiếp
cận nên tập trung phát triển đô thị chuyển đổi từ “Nền kinh tế
Cacbon” sang “Nền kinh tế phi Cacbon” có cấu trúc đô thị bền
vững và thân thiện hơn với môi trường. Cần thiết lập một loạt
chính sách hỗ trợ công nhận thành phố xanh theo đặc thù của từng
vùng, đưa ra những ưu đãi cho quy hoạch thành phố xanh theo đặc
điểm của từng vùng.
Nghiên cứu về “Modular - Mô hình xây dựng mới trong xu
hướng phát triển đô thị xanh và bền vững” của Kim Sang Soo
(2013), Tác giả đã đưa ra lợi ích về phát triển đô thị xanh, đô thị
thân thiện với môi trường với điểm nổi bật có nhiều không gian
xanh, chất lượng môi trường xanh, hài hòa các hệ sinh thái nhân
tạo (hệ sinh thái đô thị) và hệ sinh thái tự nhiên, tạo ra môi trường

của tác giả Ebennezer Howard (1898) đưa ra mô hình “thành phố
vườn” để giải pháp cho vấn nạn ô nhiễm môi trường, bệnh dịch
tràn lan đe dọa các thành phố công nghiệp ở Anh.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Một số công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến việc
nghiên cứu luận án “Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở thành
phố Hà Nội” như:
5


Trương Văn Quảng (2013), Một số yêu cầu trong quy hoạch
phát triển đô thị xanh ở Việt Nam, đưa ra tổng quan về đô thị và
nhận thức về đô thị xanh, từ đó xác định yêu cầu trong quy hoạch
phát triển đô thị xanh tại Việt Nam.
Đào Ngọc Nghiêm (2013), Đô thị xanh, thông minh - mô hình
phát triển của Thủ đô Hà Nội, Tác giả đã đưa ra bối cảnh đô thị
hóa của một số nước và Việt Nam và phát triển bền vững là một xu
thế tất yếu của toàn cầu, tác động đến từng lĩnh vực với những
nghiên cứu cụ thể, chuyên ngành hơn, trong đó có đô thị hóa, đó là
đô thị bền vững - đô thị sinh thái - đô thị xanh - kiến trúc xanh. Từ
đó tác giả xác định mô hình phát triển đô thị xanh ở Hà Nội “Xanh
- văn hiến - văn minh - hiện đại”, đô thị năng động, hiệu quả, có
sức cạnh tranh cao trong nước, khu vực và quốc tế, có môi trường
sống tốt…
Nguyễn Hồng Thục (2013), Các yếu tố của phát triển đô thị
xanh thông minh tại Việt Nam, Hội thảo khoa học quốc tế. Tác giả
đã đưa ra cách tiếp cận mới về các đô thị là tăng trưởng kinh tế, tài
nguyên đô thị, môi trường sinh thái, tăng trưởng xanh, quy hoạch
lãnh thổ bền vững dựa trên các cơ sở pháp lý.
Nguyễn Văn Cường (2015), Phát triển các khu đô thị mới

lượng đô thị xanh phù hợp với chiến lược phát triển chung của đô thị”.
2.1.1.3. Đầu tư phát triển đô thị xanh
“Đầu tư phát triển đô thị xanh là việc bỏ vốn đầu tư để gia tăng
về số lượng đô thị xanh nhằm nâng cao chất lượng và cơ cấu các đô thị
xanh hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển đô thị nói riêng, phát
triển kinh tế - xã hội nói chung”.
2.1.1.4. Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
“Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh là sự tác động có chủ đích,
liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu gây ảnh hưởng của các cơ
quan quản lý nhà nước, chính quyền thành phố thông qua các thể chế
chính sách tác động đến việc phát triển đô thị xanh một cách phù hợp
quy luật khách quan và quy luật đặc thù các tiêu chí để đạt được mục
tiêu chung là vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu nhằm phát triển kinh tế
- xã hội”.
2.1.2. Một số lý thuyết cơ bản về quản lý đầu tư phát triển đô thị
xanh
Luận án sử dụng một số lý thuyết cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên
cứu: (1) Lý thuyết quản lý hệ thống của L.P. Bertalafly; (2) Lý thuyết
quản lý tổng hợp và thích nghi (thuyết tích hợp trong quản lý); (3)
7


Thuyết sinh thái; (4) Thuyết nhị nguyên về “Đô thị - Nông thôn”.
2.2. Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh và tiêu chí đánh giá
2.2.1. Mục tiêu quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh muốn thành công phải có
mục tiêu động lực để thúc đẩy các hoạt động đầu tư. Cụ thể:
Thứ nhất, thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược đầu
tư phát triển đô thị xanh; Thứ hai, huy động tối đa và sử dụng hiệu quả
cao nguồn vốn đầu tư phát triển đô thị xanh. Đồng thời quản lý đầu tư

(2) Kinh nghiệm quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở Thủ đô
Bắc Kinh, Trung Quốc;
(3) Kinh nghiệm quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
Singapore;
(4) Kinh nghiệm quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở Thủ đô
Stockholm, Thụy điển;
(5) Kinh nghiệm về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở
thành phố Đà Nẵng;
(6) Kinh nghiệm về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở
thành phố Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho thành phố Hà Nội như
sau:
Những bài học thành công:
Thứ nhất, Cần xây dựng các công cụ pháp lý và thể chế chính
sách phù hợp với quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh được can thiệp
chủ động của Chính phủ sao cho phù hợp với điều kiện và tình hình
thực tế của Hà Nội.
Thứ hai, Để phát triển đô thị xanh theo hướng bền vững thì cần
phải có quy hoạch dài hạn thông qua bản “Concept plan” về nhận diện
đô thị xanh. Cần phải tính toán kỹ lưỡng để sử dụng đất cho hợp lý và
hiệu quả. Theo kinh nghiệm Bắc Kinh thì cần lên kế hoạch, chiến lược
phát triển cụ thể, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm từng giai đoạn góp
phần quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh được hợp lý nhất, hiệu quả
nhất.
Thứ ba, kinh nghiệm của Singapore thì với diện tích đất hạn chế,
chính phủ đã thực hiện chiến lược “vườn trong phố”, “vườn tường”,
“vườn mái”, “vườn ở bất cứ đâu”. Mật độ cây xanh che phủ cao đã
khiến không gian đô thị được “mềm hóa” và cải thiện chất lượng môi
trường nói chung. Chính quyền thành phố Hà Nội cần xem lại để chọn
lọc và giữ gìn hệ sinh thái đô thị đảm bảo môi trường Thủ đô xanh,

ban hành nhiều quy định, chính sách, đầu tư đồng thời đưa ra các hình
phạt nghiêm khắc nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường đô thị. Tuy nhiên
việc thực thi các biện pháp này chỉ mang tính chất đối phó chưa được
giải quyết một cách khoa học và quyết liệt.
Thứ hai, Bài học thất bại của thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề
ngập úng nhưng chưa giải quyết triệt để, ô nhiễm môi trường không
khí nặng, công tác quản lý chất thải rắn không tốt…. Từ bài học không
thành công của thành phố Hồ Chí Minh làm tiền đề cho công tác quản
lý của thành phố Hà Nội để có biện pháp phòng trách và có chiến lược
đúng trong quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh.

10


CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ XANH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Tổng quan đầu tư phát triển khu đô thị xanh của thành phố Hà Nội

Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030
và tầm nhìn đến năm 2050 được lập với mục tiêu xây dựng Hà Nội trở
thành một thành phố xanh - văn hiến - văn minh - hiện đại đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày
26/7/2011.
Huy động vốn đầu tư phát triển đô thị xanh của chính quyền
thành phố Hà Nội luôn được chú trọng và quan tâm đặc biệt.
Theo cục thống kê Hà Nội thì vốn đầu tư phát triển trên địa bàn
thành phố Hà Nội hàng năm rất cao. Vốn đầu tư trực tiếp nước nước
ngoài từ năm 2010 đến năm 2017, tổng số vốn đăng ký 8.021 triệu đô
la Mỹ; tổng số vốn thực hiện là 11.490 triệu đô la Mỹ, như vậy vốn
thực hiện so với vốn kế hoạch là 1,43 %, năm 2010 vốn thực hiện là

các kiến nghị điều chỉnh quy hoạch tổng thể của ngành để đảm bảo
phát triển bền vững, tiết kiệm tài nguyên nhiên liệu, kiểm soát ô nhiễm
và quản lý chất thải một cách hiệu quả, xây dựng khung chính sách đô
thị hóa xanh và kế hoạch tăng trưởng xanh của ngành xây dựng giai
đoạn 2014 - 2020.
Về chiến lược quy hoạch và phát triển nhà ở đô thị đạt 18 m2 sàn
trên một người, phát triển nhà ở theo hướng xanh - văn minh - hiện đại
nhưng vẫn bảo tồn được kiến trúc cảnh quan đô thị, hoàn thiện các cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông, cải thiện chất lượng môi trường đô thị.
3.3.2. Thực trạng thực hiện cơ chế, chính sách về quản lý đầu tư
phát triển đô thị xanh ở Hà Nội
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đầu tư phát triển đô thị
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, Đại hội toàn
quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ trong Nghị
quyết: “Đổi mới cơ chế, chính sách, kiểm soát chặt chẽ quá trình phát
triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch. Từng bước hình thành hệ
thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và thân thiện với môi
trường, gồm một số đô thị lớn, nhiều đô thị vừa và nhỏ liên kết và phân
bố hợp lý trên các vùng. Nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và năng
lực cạnh tranh của các đô thị, chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc
trưng của các đô thị tạo động lực phát triển kinh tế của đất nước, của
các vùng”.
Để thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ đã ban hành
chương trình hành đông thực hiện Nghị quyết của Đại hội toàn quốc
lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đó đề ra nhiệm vụ:
12


“…Đổi mới cơ chế chính sách, phát triển đô thị theo hướng đồng bộ,
hiện đại, bền vững, thân thiện với môi trường, ứng phó với biến đổi khí

xanh phải dựa vào các quy định của Chính phủ, Bộ Xây dựng và
UBND thành phố Hà Nội. Việc kiểm tra giám sát của các sở ban
13


ngành, UBND thành phố đôi khi vẫn chưa được chú trọng, mang tính
hình thức, chưa quyết liệt.
Công tác kiểm tra giúp nhà quản lý phát hiện các sai sót, các ách
tắc của tổ chức trong quá trình quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh để
có các giải pháp, xử lý, điều chỉnh, tận dụng các nguồn lực để sớm đưa
ra hệ thống đến mục tiêu.
Cơ chế, chính sách về kiểm tra, giám sát việc đầu tư phát triển đô
thị nói chung, đầu tư phát triển đô thị xanh nói riêng ngày càng được
đổi mới và hoàn thiện, nâng cao vai trò và trách nhiệm chính quyền
thành phố, cụ thể là các sở: Quy hoạch - Kiến trúc, Xây dựng, Giao
thông vận tải, Tài chính. Chính quyền thành phố Hà Nội ngày càng
tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhằm có
biện pháp phòng ngừa những sai phạm, phát hiện và xử lý kịp thời để
không xảy ra hậu quả nghiêm trọng.
3.3.5. Thực trạng quản lý của chính quyền thành phố Hà Nội về đầu
tư phát triển đô thị xanh
3.3.5.1. Thực trạng về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh trong
những năm qua
Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở thành phố Hà Nội xét trên khía
cạnh kinh tế, xã hội, môi trường thì thực trạng còn nhiều bất cập ảnh
hưởng đến phát triển chung của Thủ đô. Cụ thể:
Thứ nhất, chưa bố trí hợp lý các khu đô thị xanh với cấu trúc
chung đầu tư phát triển đô thị của toàn thành phố, chất lượng sống của
người dân trong các khu đô thị giảm, gây sức ép ảnh hưởng tới cấu trúc
chung đô thị, cảnh quan môi trường cũng như công tác quản lý đầu tư

Mục tiêu quy hoạch của thành phố Hà Nội đến năm 2030 là xây
dựng và phát triển thủ đô Hà Nội trở thành thành phố xanh - văn hiến văn minh - hiện đại trên nền tảng phát triển bền vững, Hà Nội trong
tương lai sẽ phát triển năng động và hiệu quả, là biểu tượng cho cả
nước, đóng vai trò trung tâm hành chính - chính trị Quốc gia, trung tâm
lớn của Quốc gia về văn hoá - khoa học - giáo dục - kinh tế, một trung
tâm du lịch và giao dịch Quốc tế có tầm khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương. Thủ đô Hà Nội sẽ là nơi có môi trường sống tốt nhất, sinh hoạt
giải trí với chất lượng cao và có cơ hội đầu tư thuận lợi. Tương lai
mong muốn xây dựng và phát triển Hà Nội trở thành thành phố xanh,
văn hiến, văn minh - hiện đại. Mục tiêu chính của công tác quy hoạch
được UBND thành phố Hà Nội đề ra, cụ thể: Một là, Nâng cao vai trò
vị thế, tính cạnh tranh của Hà Nội, xứng đáng là Thủ đô của một nước
có trên 100 triệu dân, phát triển bền vững và hội nhập với nền kinh tế
thế giới; Hai là, Xây dựng hình ảnh của Hà Nội, một đô thị lịch sử, văn
hoá truyền thống, cảnh quan, kiến trúc đặc trưng, phát triển và bảo tồn
được đặc thù riêng của Hà Nội; Ba là, Định hướng, thực hiện triển khai
15


các chủ trương chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh quốc phòng của Quốc gia và Thủ đô; Bốn là, Xây dựng
mô hình chính quyền đô thị, tự chủ và phân quyền hợp lý cho các đô
thị trực thuộc nhằm tạo năng động trong công tác quản lý đô thị và thu
hút đầu tư.
Quản lý phát triển nhà ở đô thị: Đến năm 2030, nhà ở đô thị phấn đấu
tăng từ 7,5 m2/người (năm 2007), lên 18m2 sàn/người (chỉ tiêu chung
của quốc gia là 15 – 20 m2/người) và nhà ở nông thôn đạt 15m2
sàn/người. Dãn dân từ đô thị lõi lịch sử tới các khu đô thị mới hoặc đô
thị vệ tinh với các tiêu chuẩn nhà ở đạt tiêu chuẩn quốc gia và đa dạng
về loại hình đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng trong xã hội.

vốn đầu tư phát triển đô thị xanh ở thành phố Hà Nội; HL4 - Chính
sách thu hút tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức trong công tác
quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở Hà Nội.
Kết quả khảo sát cho thấy: HL1 đạt mức độ bình thường là 20%, đồng
ý 70%, hoàn toàn đồng ý 10%. HL2 thì hiệu lực về kiểm tra giám sát
chưa được đánh giá cao: Bình thường 50%, đồng ý 30%, hoàn toàn
đồng ý 20%. HL3 thì đồng ý 50%, bình thường 40%, hoàn toàn đồng ý
10%. HL4 thì việc tuyển dụng cán bộ, công chức trong quản lý đầu tư
phát triển đô thị xanh là cần thiết. Điều này thông qua việc khảo sát,
phỏng vấn các nhà quản lý nhà khoa học và thu được kết quả:Bình
thường 20%, đồng ý 60%, hoàn toàn đồng ý 20%.
Tiêu chí hiệu quả trong công tác quản lý đầu tư phát triển đô thị
xanh của chính quyền thành phố được đánh giá thông qua lợi ích mang
lại cho thành phố lớn hơn, đáp ứng được mục tiêu đề ra. Kết quả đánh
giá tiêu chí hiệu quả của công tác quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
như sau: Hiệu quả thực thi các quyết định, quy định (HQ1) - Hiệu quả
của việc thực thi chưa cao, cụ thể: bình thường 50%, đồng ý 40%, hoàn
toàn đồng ý 10%. Qua kết quả điều tra thấy được hiệu quả của việc
thực thi cần phải tăng cường hơn nữa. Hiệu quả thông qua lợi ích đầu
tư phát triển đô thị xanh mang lại cho thành phố (HQ2) thì 70% đồng ý
là hiệu quả thông qua lợi ích đầu tư phát triển đô thị xanh đem lại cho
thành phố là rất cao. Hiệu quả về kiến trúc cảnh quan, sinh thái và môi
trường đô thị đem lại cho người dân (HQ3) thì 75% đồng ý, 15% bình
thường, 10% hoàn toàn đồng ý hiệu quả về kiến trúc cảnh quan, sinh
thái, môi trường đô thị mang lại cho người dân.
Tiêu chí phù hợp của quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh được
đánh giá hệ thống quản lý cần tuân thủ tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật
tương ứng. Sự phù hợp của hệ thống quản lý được thông qua đánh giá
giám sát. Với PH2, PH4, PH5 thì 100% hoàn toàn đồng ý là phù hợp
17

3.4.2. Đánh giá chung quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
3.4.2.1. Những kết quả đạt được
Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở thành phố Hà Nội đã đạt
được một số thành công nhất định sau:
Thứ nhất, Việc phân bổ vốn và kế hoạch vốn về đầu tư phát triển
18


đô thị xanh phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đô
thị chung của thành phố Hà Nội, phù hợp với phát triển kinh tế - xã
hội, nhu cầu đầu tư của thành phố.
Thứ hai, Việc đầu tư phát triển đô thị xanh có trọng tâm, trọng
điểm, không đầu tư dàn trải, công tác kiểm tra, giám sát việc đầu tư
phát triển đô thị xanh ngày càng được sát sao hơn, tăng cường hơn và
dần hoàn thiện hơn.
3.4.2.2. Những điểm chưa được trong quản lý đầu tư phát triển đô
thị xanh ở Hà Nội
Thứ nhất, Công tác lập quy hoạch đô thị nói chung, lập quy
hoạch đô thị xanh nói riêng đã tập trung thực hiện, song nhiều khu vực
phát triển nhanh, trong khi việc lập quy hoạch xây dựng chậm, từ đó
ảnh hưởng đến chất lượng phát triển đô thị xanh.
Thứ hai, Công tác triển khai thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn
chế, còn thiếu quy định về quy hoạch dẫn đến tình trạng “có quy
hoạch là có đầu tư”, dẫn đến đầu tư theo phong trào, gây dư thừa bất
động sản trong một thời kỳ.
Thứ ba, Bộ máy quản lý đô thị nói chung đô thị xanh nói riêng
còn yếu và còn thiếu, nhưng chậm hoàn thiện và đào tạo nguồn nhân
lực cho phù hợp.
Thứ tư, Nhu cầu xã hội cho xây dựng đô thị rất lớn, nhưng đáp
ứng từ nguồn lực Nhà nước hạn chế, đặc biệt nhu cầu của người dân về

nhà quản lý, phân công phân cấp quản lý còn chồng chéo, năng lực
quản lý còn yếu và chưa tốt.
Thứ hai, Thiếu tầm nhìn chiến lược và các cơ chế chính sách
kiểm soát cho việc đầu tư phát triển đô thị xanh, chưa xác định được
đối tượng người dân có nhu cầu sống trong các khu đô thị xanh nên
chưa đáp ứng việc cung cầu.
Thứ ba, Công tác quy hoạch còn nhiều vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu. Cụ thể: Chưa hình thành các khu đô thị xanh tầm cỡ cũng
như các trung tâm văn hóa, vui chơi giải trí, môi trường đô thị xanh sạch - đẹp. Cần phát huy quy hoạch đô thị xanh với không gian kiến
trúc cảnh quan, giao thông đô thị tiếp tục nâng cấp và mở rộng theo
hướng xanh - thông minh, kết nối hạ tầng đô thị xanh và môi trường đô
thị ít ô nhiễm. Chính quyền thành phố cần tìm nguồn lực cho đầu tư
phát triển đô thị xanh - thông minh - hiện đại - bền vững cũng như thiết
lập công cụ quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh hiệu lực, hiệu quả
nhất, hợp lý nhất.
Thứ tư, Sự tham gia giám sát cộng đồng còn yếu, một số còn thờ
ơ, không quan tâm hoặc không có chính kiến, một số bộ phận quan tâm
đến lợi ích trước mắt, lợi ích nhóm chưa thấy được tầm quan trọng của
20


đầu tư phát triển đô thị xanh sẽ đem lại lợi ích về điều kiện sống, môi
trường sống gần gũi với thiên nhiên, thân thiện với môi trường…
CHƯƠNG 4. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.1. Bối cảnh và những khó khăn, thuận lợi về đổi mới quản lý đầu
tư phát triển đô thị xanh ở Hà Nội đến năm 2030
4.1.1. Bối cảnh mới về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở Hà
Nội
Bối cảnh Quốc tế: Trong một thế giới phẳng hiện nay đòi hỏi mọi

tình hình thực tế, UBND thành phố Hà Nội đặt ra mục tiêu xây dựng
khu đô thị xanh - thông minh - hiện đại theo hướng bền vững cần chú
trọng một số vấn đề sau: Một là, Đảm bảo hài hòa, bền vững giữa đô
thị xanh và đô thị truyền thống, với những đặc trưng của Thủ đô Hà
Nội, gìn giữ bản sắc và di sản… Hai là, Hài hòa giữa phát triển kinh tế,
phát triển đô thị xanh - thông minh - hiện đại theo hướng bền vững,
môi trường đô thị ít ô nhiễm, xây dựng và nâng cao chất lượng các
công trình xã hội, công ích và kiến trúc cảnh quan không gian xanh. Ba
là, Gắn việc phát triển đô thị xanh - thông minh - hiện đại theo hướng
bền vững, khai thác mạnh mẽ không gian ngầm, với tầm nhìn xa trong
quy hoạch - kiến trúc tổng thể của thành phố.
4.1.2. Cơ hội và thách thức về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh ở
Hà Nội
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam nói chung và Thủ
đô Hà Nội nói riêng vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là thách thức lớn
cho quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh giai đoạn hiện nay. Mô hình
SWOT tác giả lập tạo ra một bức tranh tổng thể về quản lý đầu tư phát
triển đô thị xanh với những đường nét nổi bật nhất, chi tiết nhất. Phân
tích ở đây chỉ tập trung vào một số điểm nhấn của thực trạng quản lý
đầu tư phát triển đô thị xanh, chủ yếu mặt tồn tại, điểm yếu để đưa ra
các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
trong thời gian tới.
4.2. Định hướng về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh trong
những năm tới của thành phố Hà Nội
4.2.1. Căn cứ xây dựng định hướng quản lý đầu tư
4.2.1.1. Mục tiêu, chiến lược phát triển đô thị xanh của Hà Nội
Mục tiêu phát triển đô thị ở thành phố Hà Nội đến năm 2030 tầm
nhìn 2050 đã được Chính phủ đề ra là xây dựng Hà Nội phát triển đô
thị theo hướng xanh - văn minh - hiện đại - thông minh theo hướng bền
vững. Xây dựng một Hà Nội năng động, hiệu quả, có sức lan tỏa và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status