Một số lý thuyết cơ bản về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh - Pdf 53

Một số lý thuyết cơ bản về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
1. Lý thuyết quản lý hệ thống của L.P. Bertalafly
Theo L.P.Bertalafly áp dụng năm 1940, được áp dụng phổ biến năm 1960-1970.
Thuyết này cho rằng: Hệ thống tập hợp các phần tử, các bộ phận có quan hệ chặt
chẽ với nhau và tác động qua lại một cách có quy luật để tạo thành một chỉnh
thể, từ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là tính trồi, đảm bảo việc thực
hiện chức năng hay một số mục tiêu nhất định. Một hệ thống bao giờ cũng nằm
trong một môi trường nhất định với các yếu tố cấu thành cơ bản: đầu vào, quá
trình hoạt động và đầu ra. Trên thực tế mọi hệ thống đều là hệ mở với những
mức độ khác nhau. Mọi hệ thống đều có cơ chế phản hồi thông tin để điều chỉnh
khi cần thiết.
Để vận dụng lý thuyết này trong công tác quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh,
cần tập hợp việc đầu tư phát triển các bộ phận riêng lẻ: quy hoạch đô thị xanh,
kiến trúc cảnh quan không gian xanh, vật liệu xây dựng thân thiện với môi
trường, tiết kiệm năng lượng hiệu quả, kinh tế xanh và môi trường sống của
người dân hài hòa… tạo nên sự vượt trội, mang tính chất ưu việt và tính bền
vững cao. Để đạt được điều này, cần có chiến lược phát triển đô thị một cách
tổng quát, hài hòa, việc thực hiện đầu tư cần đảm bảo các tiêu chí đề ra, cần
kiểm tra sát sao, định kỳ và đánh giá những vấn đề quản lý tốt và chưa tốt để
khắc phục kịp thời.
Thuyết quản lý hệ thống của L.P.Bertalafly dựa trên trường phái định lượng với
nội dung: Quản lý là ra quyết định và muốn quản lý hiệu quả thì các quyết định
phải đúng đắn, chính xác. Để làm được điều này, các nhà quản lý phải có quan
điểm hệ thống khi xem xét sự việc của các dự án đô thị, thu thập và xử lý thông
tin, sử dụng các mô hình toán học trong việc ra quyết định quản lý đầu tư phát
triển đô thị xanh, cần kiểm tra và công thức hóa các giải pháp quản lý sao cho
phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất.


Thuyết này cho rằng hệ thống là tập hợp các bộ phận, các phần tử có môi quan
hệ qua lại tác động bên trong, tạo nên tính ưu việt hơn hẳn mà các phần tử riêng

nhập. Trong hệ thống lý thuyết tích hợp có một số quan điểm sau:
Quan điểm quản lý quá trình của Harold Koontz, quan điểm này được đề
cập từ đầu thế kỷ thứ XX qua hệ tư tưởng Henri Fayol, nhưng chỉ thực sự phát
triển mạnh từ những năm 1960 do công của Harold Koontz và các đồng sự. Tư
tưởng này cho rằng quản lý đầu tư là một quá trình liên tục của các chức năng
quản lý, đó là hoạch định chiến lược đầu tư phát triển, tổ chức, nhân sự, lãnh
đạo, kiểm tra và phản hồi. Đây là các chức năng chung của quản lý đầu tư phát
triển đô thị nói riêng và của bất cứ lĩnh vực nào từ đơn giản đến phức tạp cũng
phải thực hiện đầy đủ các chức năng đó. Vận dụng để quản lý đầu tư phát triển
đô thị xanh là một quá trình quản lý liên tục từ khâu quy hoạch, chiến lược phát
triển, tổ chức thực hiện, lãnh đạo quản lý, cần kiểm tra giám sát quá trình quản
lý đầu tư phát triển đô thị xanh sao cho hợp lý, hiệu quả.
Quan điểm tình huống ngẫu nhiên của Fiedler, quan điểm này thì chủ
trương rằng muốn quản lý hữu hiệu thì phải căn cứ vào tình huống cụ thể để vận
dụng phối hợp các lý thuyết đã có từ trước. Nếu lý thuyết cổ điển và tâm lý xã
hội cho rằng năng suất lao động là chìa khóa để đạt hiệu quả quản lý, còn lý
thuyết định lượng cho rằng việc ra quyết định đúng đắn là chìa khóa của quản lý,
thì Fiedler là tác giả đại diện cho quan điểm tình huống ngẫu nhiên (còn gọi là
phương pháp quản lý theo điều kiện ngẫu nhiên) cho rằng cần phải kết hợp các
lý thuyết quản lý ở trên lại với nhau để vận dụng vào việc xử lý các tình huống
quản lý trong thực tiễn. Ông cho rằng việc quản lý đầu tư phát triển như một
cuộc đời không thể dựa vào các nguyên tắc đơn giản. Quan điểm tình huống


ngẫu nhiên đòi hỏi trực giác của các nhà quản lý phải linh hoạt bởi vì các tổ
chức khác biệt nhau về kích thước, mục tiêu, nhiệm vụ nên khó có thể có những
nguyên lý chung áp dụng một cách khái quát. Để quản lý đầu tư phát triển đô thị
xanh hiệu lực, hiệu quả và hợp lý cần vận dụng lý thuyết này là tính linh hoạt về
mục tiêu, nhiệm vụ phát triển cũng như việc thực thi nhiệm vụ.
3. Thuyết sinh thái

(sector) và cho thấy rằng đô thị xanh tăng trưởng như thế nào khi thông qua
mạng lưới giao thông xanh. Bởi vậy khi quy hoạch đường bộ,đường sắt đô thị
thành các vòng tròn đồng tâm và phát triển rộng ra đường viền bên ngoài thì sẽ
phản chiếu được mức độ sử dụng đất đô thị theo biểu đồ hình quạt. Trong mô
hình này, Hawley lấy khu vực đô thị trung tâm hành chính và thương mại làm
cốt lõi của đô thị xanh để thực hiện vai trò chủ đạo cho sự tăng trưởng đô thị
xanh.
Tiếp đó, Hoyt đưa ra mô hình đa lõi (multiple nuclei) thì khu vực hành
chính và thương mại là cơ cấu không gian đô thị xanh quan trọng, ngoài ra ông
còn giải thích về quá trình xuất hiện các đô thị vệ tinh do mở rộng và phát triển
khu vực đô thị.
Các nhà lý luận học về đô thị sinh thái rất quan tâm đến đặc điểm nội bộ
của không gian đô thị và quá trình tách biệt cư trú. Sự biến hóa bắt nguồn từ
quan điểm xác định về thay đổi xã hội, hình dạng của các đô thị xanh theo sự
tăng trưởng đô thị và quá trình phát triển bền vững vùng ngoại ô, xem xét đến
mạng lưới giao thông xanh và công nghệ kỹ thuật.
Qua thuyết này, cần vận dụng vào quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh
dựa trên mô hình “Đường tròn đồng tâm” của Burgess. Mc Kenzie để phát triển
đô thị theo hướng sinh thái, kết hợp hài hòa hệ thống giao thông, hành chính và


thương mại nhưng vẫn tạo nên kiến trúc cảnh quan hài hòa nhất cho các khu đô
thị.
4. Thuyết nhị nguyên về “Đô thị - Nông thôn”
Thuyết này cho rằng những đô thị tăng trưởng nhanh chóng nhờ công nghiệp
hóa, là biểu tượng cạnh tranh, mâu thuẫn, mối quan hệ cam kết và tính hiệu quả
của quản lý đầu tư, được so sánh với quan hệ hợp tác, quan hệ hội nhập, quan hệ
tương thích trong xã hội địa phương. Những người tiêu biểu theo thuyết này là
Comte, Durkheim, Toennies và Weber.
Theo Comte quan điểm nếu quản lý đầu tư phát triển đô thị theo trật tự cũ

trật tự đô thị, tự do cá nhân trong quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh cũng là
một nhân tố quan trọng để đem lại hiệu quả cao.
Các lý thuyết tác giả lựa chọn để vận dụng trong quản lý đầu tư phát triển
đô thị xanh là lý thuyết nghiên cứu của các nước trên thế giới hiện nay. Tuy
nhiên, tác giả vận dụng cho thành phố Hà Nội về quản lý đầu tư phát triển đô thị


xanh sao cho phù hợp,ệu
hi quả và hợp lý. Thể hiện ở hình 2.8 như sau:
Lý thuyết quản lý hệ thống
của L.P. Bertalafly
LÝ THUY Ế T CƠ B Ả N
V Ề QUẢN LÝ Đ ẦU TƯ
PHÁT TRI Ể N
ĐÔ TH Ị XANH

Lý thuyết quản lý tổng hợp và
thích nghi (thuyết tích hợp trong
quản lý)
Thuyết sinh thái
T huyết nhị nguyên
về “Đô thị- Nông thôn”

Nguồn:Tác giả nghiên cứu và tổng hợp.
Hình: Một số lý thuyết cơ bản về quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status