Đái tháo đường và thai nghén
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ THAI NGHÉN
Mục tiêu học tập
1. Mô tả được các loại đái tháo đường và thai nghén
2. Phân tích được các ảnh hưởng của bệnh đái tháo đường khi có thai.
3. Trình bày nguyên tắc và hướng điều trị bệnh đái tháo đường trong khi có thai.
1. ĐẠI CƯƠNG
Trước khi phát hiện ra Insulin, bệnh đái tháo đường thường là nguyên nhân gây vô sinh
hoặc khó có thai. Đối với bà mẹ, bệnh này gây tử vong 2/3 số phụ nữ có thai trong quá trình
mang thai, nhưng vấn đề ảnh hưởng lớn của bệnh là đối với thai nhi.
Những năm gần đây, được phát hiện và điều trị cho những thai phụ có bênh đái tháo
đường người ta nhận thấy :
- Giảm đáng kể tỷ lệ tử vong chu sinh.
- Vẫn có khoảng 4 - 8% dị dạng bẩm sinh.
- Thai chết trong tử cung.
- Thai nhi có nguy cơ hạ đường huyết sau đẻ
2. NHẮC LẠI VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Là bệnh chuyển hóa, có đặc trưng là tăng glucose huyết. Glucose huyết tăng do sự tiết
ínsulin bị thiếu, hoặc do insulin có tác dụng kém hoặc do phối hợp cả hai yếu tố trên. Tăng
glucose huyết mãn tính trong đái tháo đường dẫn đến những thương tổn, những rối loạn, suy
yếu chức năng nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh và mạch máu.
Ăn uống quá độ làm tăng đường huyết, kích thích tế bào ( của đảo tụy tạng tăng sinh và
tăng tiết insulin, gây mập phì do tế bào của cơ thể đón nhận nhiều insulin và sử dụng nhiều
glucose để tạo năng lượng và dự trử glycogène và chất béo. Đến một lúc nào đó các tế bào
( của đảo tụy tạng mất đáp ứng với những kích thích gây nên do tăng đường huyết, tế bào đích
mất khả năng sử dụng glucose do mất đáp ứng với insulin. Và hậu quả là bệnh đái đường xuất
hiện.
3. PHÂN LOẠI
Hiện nay có nhiều cách phân loại, dựa vào:
3.1. Ảnh hưởng của insulin
- Đái tháo đường type I: Là loại đái tháo đường phụ thuộc insulin. Đây là dạng nặng,
- Trong gia đình có người bị bệnh đái tháo đường.
- Tiền sử bản thân bị bênh đái tháo đường (50% bị lại).
- Tiền sử đẻ con to (> 4,500kg), suy yếu, thai lưu, dị tật bẩm sinh, đa ối…
- Test sàng lọc: Cho sản phụ uống 50g glucose vào giữa tuần 24 -28 của thai kỳ, bất kỳ
thời điểm nào trong ngày, bất kỳ thời gian nào sau khi ăn. Nếu glucose huyết một giờ sau khi
test ≥ 140mg/dl (7,8mmol/L), những người này cần làm mghiệm pháp dung nạp đường để xác
định chẩn đoán.
3.3.2. Chẩn đoán
Có nhiều tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh đái tháo đường. Hội nghị Quốc tế về đái tháo
đường đề nghị sử dụng tiêu chuẩn của Carpenter - Coustan với test dung nạp đường như sau:
Cách thực hiện: Lấy máu xét nghiệm đường của sản phụ, rồi cho uống 100g đường, vào
buổi sáng, nhịn đói qua đêm ít nhất là 8giờ nhưng không quá 14giờ. Bệnh nhân không hút
thuốc trong quá trình test, với các hoạt động thể lực bình thường. Và lấy 3 mẩu máu khác nhau
vào 3 giờ liên tiếp để định lượng đường máu.
Bình thường:
+ Khi đói : Đường máu < 95mg/dl (hoặc 5,3mmol/L)
+ Sau 1giờ : Đường máu < 180mg/dl (hoặc 10,0mmol/L)
+ Sau 2giờ : Đường máu < 155mg/dl (hoặc 8,6mmol/L)
+ Sau 3giờ : Đường máu < 140mg/dl (hoặc 7,8mmol/L)
Nếu bệnh nhân có nhiều hơn hoặc bằng 2 trị số glucose huyết cao hơn giá trị trên là đủ
tiêu chuẩn chẩn đoán.
3.4. Diễn biến của bệnh đái tháo đường khi có thai
Bệnh đái tháo đường có thể có trước khi có thai gọi là đái tháo đường và thai nghén hoặc
chỉ xuất hiện trong khi có thai gọi là đái tháo đường thai nghén.
3.4.1. Bệnh đái tháo đường chưa ổn định
- Ngưỡng thanh thải glucose qua nước tiểu bị giảm, căn nguyên do: tăng tính lọc của cầu
thận và giảm tái hấp thu đường ở các ống thận.
- Khả năng dung nạp đường giảm, điều này dẫn đến sự gia tăng đường máu. Dưới tác
dụng kép của các glucocorticoid và nhất là nội tiết tố HPL (human placental lactogen) làm cho
đường máu có xu hướng tăng thường xuyên và chỉ được duy trì ở mức bình thường bởi sự suy
+ Nguy cơ mắc bệnh màng trong, ứ trệ hệ tiểu tuần hoàn dẫn đến phù phổi cấp tính
ngay sau đẻ.
+ Thai nhi dể bị suy với các dấu hiệu thần kinh cơ như co giật sơ sinh do hạ calci
máu sơ sinh. Hạ đường huyết sơ sinh xuất hiện rõ nhất vào giờ thứ 3 sau đẻ, giảm kali máu.
- Hiện nay, nhờ vào sự săn sóc tích cực và điều trị bệnh chúng ta đã thấy có một sự thay
đổi rõ về bệnh đái tháo đường và thai nghén. Những nguy cơ cần để ý đến là:
Đái tháo đường và thai nghén
+ Cần chú ý đến những bất thường nhỏ nhất ngay cả khi bệnh đái tháo đường ổn
định.
+ Tăng huyết áp và tiền sản giật.
+ Nhiễm trùng đường tiểu.
+ Dọa sinh non.
+ Suy thai mãn tính.
Khi chúng ta phát hiện ra những nguy cơ trên thì tiên lượng của mẹ và con khả quan hơn.
- Tỷ lệ tử vong chu sinh giảm (2.7%) Ở Bệnh Viện Port-Royal từ năm 1971 - 1981 khi
nghiên cứu # 370 thai phụ có bệnh đái tháo đường và 4% dị dạng bẩm sinh (C. Tchobroutsky) .
- Nhìn chung thai chết trong tử cung # 2,1% cũng ở Bệnh Viện Port-Royal (Pháp).
- Số lượng bệnh màng trong cũng giảm nhờ vào việc điều trị làm trưởng thành phổi của
thai nhi.
- Tuy nhiên tỷ lệ dị dạng bẩm sinh vẫn còn cao, đặt biệt là dị dạng về tim của thai nhi.
Điều kiện thuận lợi để gây ra dị dạng này vẫn chưa được biết rõ. Nhưng người ta thấy có một
sự liên quan giữa sự dị dạng này và những bà mẹ có các vết thương thóai hóa hoặc có thai vào
tuần lễ đầu ở những bà mẹ có bệnh đái tháo đường mà không được phát hiện.
3.6. Hướng điều trị
3.6.1. Nguyên tắc điều trị
- Phải có một sự cộng tác có hiệu quả giữa bác sỹ sản khoa và bác sỹ chuyên nghành đái
tháo đường.
- Nên điều trị ở những trung tâm chữa bệnh đái tháo đường.
3.6.2. Theo dõi bà mẹ
- Ngay từ khi có thai, thai phụ phải được theo dõi bởi bác sỹ sản khoa và bác sỹ chuyên
- Trong thực tế, thái độ xử trí có thể thay đổi tùy theo type đái tháo đường:
+ Ở bệnh đái tháo đường type B (thời gian diễn biến của bệnh <10 năm) và C (thời
gian diễn biến của bệnh từ 10 đến 20 năm) mà đã không có biến chứng nào. Xét nghiệm nước
ối được tiến hành từ tuần thứ 36 hoặc 37 của thai nghén. Nếu tỷ L/S là bằng hoặc lớn hơn 2 lần
thì em bé có thể sống được điều này cho phép khởi phát chuyển dạ. Nếu sự trưởng thành phổi
chưa thực hiện được thì xét nghiệm nước ối sau 8 ngày.
+ Ở bệnh đái tháo đường type D (thời gian diễn biến của bệnh > 20 năm hay có sự
hiện diện của các thương tổn thoái hóa) và F (có các bệnh lý về tăng sinh ở võng mạc và hoặc
bệnh lý cầu thận) hoặc một khi mà thai nghén có biến chứng như cao huyết áp, viêm mủ cầu
thận.... thì xét nghiệm nước ối được thực hiện vào đầu tuần lễ thứ 35 của thai nghén.
+ Đối với đái tháo đường không ổn định thì phát khởi chuyển dạ từ khi có dấu hiệu
trưởng thành ở phổi của thai nhi.
- Sự sinh đẻ bằng đường âm đạo nên được thực hiện khi mà điều kiện phần mềm và
khung chậu tốt (ở người con rạ), nhưng vấn đề thường nhất là mổ lấy thai (đa số được thực
hiện ở nguời con so), khi mổ lấy thai nên gây mê toàn thân, hay gây tê vùng (ngoài màng cứng)
sau khi đã đạt được tỷ đường máu ở mức bình thường trong nhiều giờ trước khi tiến hành phẫu
thuật.
3.6.5. Hậu sản
Săn sóc hậu sản cũng cần chú ý đến khả năng dể bị nhiễm trùng hậu sản, nhiễm trùng
đường tiểu với kháng sinh dự phòng.
Nên khuyên sản phụ triệt sản khi có đủ con, nhất là những trường hợp đái tháo đường đã
có biến chứng.
Vấn đề ngừa thai nếu muốn dùng chỉ kê đơn với các thuốc tránh thai chỉ có progesteron
đơn thuần.
3.7. Những hình thái lâm sàng đặc biệt
3.7.1. Tình trạng tiền đái tháo đường
Thai phụ có các dấu chứng như sau: mập, thai nhi có trọng lượng quá mức bình thường
(> 4kg). Các xét nghiệm gây tăng đường máu là bình thường, tuy nhiên các tai biến và các biến
chứng do bệnh đái tháo đường cho thai và cho mẹ cũng có thể xảy ra.
3.7. 2. Tình trạng đái tháo đường tiềm tàng