Luận văn thạc sỹ - Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn - Pdf 53

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-----------------------

HOÀNG THANH HẢO

QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI
SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TỈNH LẠNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 8340410

Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS MAI NGỌC CƯỜNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn tốt nghiệp: “Quản lý ứng dụng công
nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn” do tôi
thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo GS.TS. Mai Ngọc Cường. Toàn bộ
số liệu và trích dẫn được sử dụng trong luận văn là thực tế, có nguồn gốc rõ
ràng và đáng tin cậy.
Trong quá trình hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này, tôi chỉ sử dụng
những tài liệu được ghi trong danh mục tài liệu tham khảo, không sao chép
hay sử dụng bất kỳ tài liệu nào khác. Nếu phát hiện có sự sao chép, không
trung thực tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Học viên thực hiện

Hoàng Thanh Hảo

CSDL:

Cơ sở dữ liệu

KTXH :

Kinh tế xã hội

QLNN:

Quản lý nhà nước

QLVB&ĐHCV:

Quản lý văn bản và điều hành công việc

QLVB&HSCV:

Quản lý văn bản và Hồ sơ công việc

TT & TT :

Thông tin và Truyền thông

TTĐT:

Thông tin điện tử

TTHC :


của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Lạng Sơn đã có những tiến bộ vượt bậc, đóng góp quan
trọng trong cải cách hành chính, trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành hoạt động của
các cấp, các ngành và doanh nghiệp; Bước đầu đã có những kết quả đáng ghi nhận.
Ngay từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới quan điểm của Đảng về ứng dụng và
phát triển CNTT được thể hiện bằng Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ chính trị về đẩy
mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH. Chỉ thị 58/CTTW của Bộ chính trị nêu rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp
phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy
công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm
bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu...”. Gần đây nhất là Nghị
quyết số 36-NQ-TW, ngày 01/7/2014 của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và
phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Một lần
nữa quan điểm của Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT lại được cụ thể
hoá bằng Nghị quyết của Đảng. Đó là: “Ứng dụng, phát triển CNTT là một yếu tố
quan trọng bảo đảm thực hiện thành công ba đột phá chiến lược, cần được chú
trọng, ưu tiên trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT -XH; Ứng
dụng, phát triển CNTT trong tất cả các lĩnh vực, song có trọng tâm, trọng điểm. Ưu
tiên ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước(CQNN)”(Bộ Chính trị,
2014, trang 1). Để cụ thể hoá các quan điểm, đường lối của Đảng, Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện
tử; Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai
đoạn 2016-2020


2
Từ khi thành lập đến nay, với chức năng, nhiệm vụ của mình Sở Thông tin và
Truyền thông Lạng Sơn đã thực hiện công tác Quản lý nhà nước về thông tin và
truyền thông, trong đó có lĩnh vực CNTT. Bằng việc tham mưu cho UBND tỉnh xây

động của cơ quan nhà nước ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ của Trường Đại học Kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Vũ Tuấn Linh (2013), Quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin
tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ của Học
viện Hành chính.
5.Lê Minh Quân (2017).Quản lý nhà nước trong ứng dụng và phát triển
công nghệ thông tin của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thanh Hóa. Luận văn
thạc sỹ , Trường đại học Vinh
6. Nguyễn Trị Trần Thìn (2016), Một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động của Kho bạc Nhà nước Thái Bình, Luận văn Thạc sĩ
của Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
6. Báo cáo “Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt
Nam”

của

Bộ

Thông

tin



Truyền

thông




Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý ứng dụng
công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn những năm tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là quản lý ứng dụng CNTT tại Sở thông tin và
truyền thông.
Luận văn tiếp cận quản lý ứng dụng CNTT ở tầm vĩ mô hay quản lý nhà
nước về ứng dụng CNTT
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Tại Sở thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn.
- Phạm vi thời gian: Thực trạng từ năm 2014 đến năm 2017, tầm nhìn đến
năm 2025
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn gồm:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu được thu thập và thực hiện là dữ
liệu thứ cấp tại Sở thông tin và truyền thông tỉnh Lạng Sơn.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu thu thập được phân tích, đánh
giá theo phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn chia làm 03 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý ứng dụng công
nghệ thông tin tại các cơ quan nhà nước.
Chương 2. Phân tích thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Thông tin và
truyền thông tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý ứng dụng công nghệ thông
tin tại Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Lạng Sơn.


5
CHƯƠNG 1

CNTT của Luật Công nghệ thông tin 2006. CNTT gồm tất cả các nhóm ngành công
nghệ (sử dụng hệ thống máy tính, phần mềm, và mạng lưới Internet) được sử dụng
cho việc xử lý và phân phối dữ liệu, lưu trữ, thu thập, trao đổi và sử dụng thông tin
dưới tất cả các hình thức dữ liệu. Trong đó, thông tin có thể tồn tại dưới nhiều dạng
khác nhau, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau. Người ta có thể định lượng tin tức
bằng cách đo độ bất định của hành vi, trạng thái. Xác suất xuất hiện một tin càng
thấp thì độ bất ngờ càng lớn do đó lượng tin càng cao. Chất lượng của thông tin
thường được đánh giá dựa trên các phương diện chủ yếu sau: Tính cần thiết, Tính
chính xác, Độ tin cậy, Tính thời sự. Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường
phải xử lý nó để tạo ra những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng
nhất định. Trong lĩnh vực quản lý, các thông tin mới là các quyết định quản lý.
(Quốc Hội, 2006)
Trong lĩnh vực CNTT, thông tin được hiểu là những tín hiệu, ký hiệu mang
lại hiểu biết, nhận thức của con người. Trong máy tính thông tin được mã hóa theo
những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và xử lý được. Sau khi xử lý,
thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có thể nhận thức được.
Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số.
- Hệ thống công nghệ thông tin trong một tổ chức
Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực
khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn
ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ
liệu. Bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng
nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được
xem là phần con của lĩnh vực công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin cung cấp
cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh
doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông tin, kết nối với khách
hàng và các công cụ sản xuất. Các chuyên gia IT tham gia xây dựng nhiều các chức
năng khác nhau từ phạm vi cài đặt phần mềm ứng dụng đến thiết kế mạng máy





8
nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả
năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH.
Luật CNTT 2006 cho rằng: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các
hoạt động thuộc lĩnh vực KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động
khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”.
Như vậy ứng dụng CNTT là việc đưa các sản phẩm của CNTT như phần
mềm, thiết bị CNTT, mạng máy tính vào hoạt động ở tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội nhằm HĐH các hoạt động, giải phóng sức lao động, giảm chi phí, nâng
cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.
Qua đó có thể thấy khái niệm về ứng dụng CNTT trong Luật CNTT 2006 là
phù hợp nhất: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc
lĩnh vực KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” . Ứng dụng CNTT có
các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, CNTT được ứng dụng trong mọi lĩnh vực. CNTT đang được ứng
dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy nhanh
quá trình tăng trưởng kinh tế của các nước. Nhờ có CNTT, quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế tại các nước chậm và đang phát triển diễn ra nhanh hơn. Một mặt,
CNTT làm thay đổi đời sống kinh tế của các quốc gia, mặt khác, khi điều kiện sống,
cách làm việc thay đổi sẽ dẫn đến những thay đổi về cơ cấu xã hội, phương pháp
học tập của con người. CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề mới, làm thay đổi
sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành
công nghiệp truyền thống thông qua một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, thương
mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện…Mức độ ứng dụng rộng và tốc
độ phát triển ứng dụng CNTT nhanh đã làm đảo lộn tổ chức nhiều ngành nghề.
Thứ hai, ứng dụng CNTT làm biến đổi cách thức giao tiếp. Nhờ có ứng

Thứ năm, ứng dụng CNTT làm biến đổi bản chất thương mại. Khách hàng
có thể tiếp xúc với các công ty một cách dễ dàng dù đang ở đâu. Công ty sẽ nhận
được phản hồi từ khách hàng ngay lập tức, do đó có thể nhanh chóng điều chỉnh
chiến lược tiếp thị hoặc danh mục hàng hoá trên cơ sở những phản hồi đó. Người
tiêu dùng có thể yêu cầu những mặt hàng, dịch vụ với giá cả hợp lý một cách thuận
lợi nhất từ nhà riêng, khách sạn hay văn phòng. Việc mua sắm này được thực hiện


10
an toàn vì nó cho phép người bán lẻ và nhà cung cấp nhận được tiền ngay lập tức.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là độ an toàn của mạng truyền thông, của máy tính và các
phần mềm ứng dụng.
Thứ sáu, ứng dụng CNTT làm thay đổi cách thức quản lý và làm việc của các
CQNN. Khi CNTT được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động của CQNN, sẽ làm thay
đổi cách thức làm việc của cán bộ, công chức, viên chức trong các CQNN. Từ
phương thức làm việc cũ, thủ công giấy tờ chuyển sang phương thức làm việc điện
tử, trên môi trường mạng. Cách thức quản lý cũng thay đổi từ quản lý trực tiếp sang
quản lý gián tiếp, sự giao tiếp giữa lãnh đạo và nhân viên sẽ chuyển sang một hình
thức giao tiếp mới thay cho giao tiếp trực tiếp, đó là giao tiếp trên môi trường mạng
thông qua các ứng dụng CNTT của các CQNN. Việc giao tiếp giữa người dân,
doanh nghiệp với các CQNN sẽ thuận lợi hơn khi các ứng dụng phục vụ cho người
dân và doanh nghiệp được các CQNN triển khai và đưa vào hoạt động.
Ứng dụng CNTT trong nội bộ các cơ quan nhà nước chưa được đồng đều,
một số cơ quan đơn vị ứng dụng Chương trình văn phòng điện tử, nhưng chưa khai
thác và phát huy hết các chức năng của phần mềm. Nguyên nhân quan trọng và có
tính chất quyết định đó là thiếu sự quan tâm, vào cuộc của lãnh đạo cơ quan; việc
ban hành quy chế, quy định sử dụng phần mềm chưa kịp thời, quy trình xử lý chưa
đúng và thống nhất, nên tốn thời gian, khó kiểm soát tiến độ xử lý công việc. Mặt
khác trình độ ứng dụng của một số cán bộ, chuyên viên còn hạn chế, không có cán
bộ chuyên trách về CNTT.

qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/2006/QH11- cơ sở pháp lý cho mọi hoạt
động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước.
1.2. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ quan nhà nước
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại các
cơ quan nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
Về tổng thể, quản lý nhà nước là sự điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước
thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phương thức và mức độ khác nhau
nhằm định hướng và phát triển kinh tế - xã hội mà trong đó có lĩnh vực công nghệ
thông tin. (Quốc Hội, 2006)


12
+ Quản lý nhà nước đối với ứng dụng công nghệ thông tin là việc nhà nước
sử dụng quyền lực công để điều chỉnh hoạt động CNTT nhằm xây dựng, tổ chức,
lưu trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực
hoạt động KT-XH, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...
+ Theo khái niệm này, quản lý nhà nước đối với ứng dụng CNTT đó là xây
dựng, ban hành các chủ trương, chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT; hình
thành nên các tổ chức với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp để quản lý các hoạt
động CNTT.
+ Cũng theo khái niệm này, quản lý nhà nước còn là sự thúc đẩy, kích thích
đảm bảo phát triển ổn định và liên tục của CNTT thông qua: xây dựng cơ sở hạ tầng
kỹ thuật CNTT, phát triển nguồn nhân lực về CNTT, xây dựng các chương trình, dự
án, chiến lược phát triển CNTT…
1.2.1.2. Mục tiêu quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ quan nhà nước
+ Thứ nhất, đối với công tác quản lý cơ quan Đảng
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng giúp phục
vụ tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong các cơ quan Đảng, đảm bảo an toàn, an
ninh thông tin, bảo vệ bí mật của Đảng, góp phần cải cách thủ tục hành chính trong

được thực hiện bằng phần mềm trên mạng máy tính đã làm cho việc thực hiện các
nhiệm vụ của các ngành, các cấp đảm bảo thời gian, tiến độ nâng cao hiệu lực, hiệu
quả trong công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh.
Ứng dụng và phát triển CNTT đã thực sự tạo ra bước chuyển biến mới trong
nhận thức về vai trò, vị trí CNTT của cộng đồng xã hội; làm đổi mới hoạt động
trong cơ quan nhà nước hướng đến mô hình chính quyền điện tử trong thời gian tới.
Từ kinh nghiệm thức tế ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước sẽ có tác động đến
việc ứng dụng CNTT của các doanh nghiệp, từ đó phát triển thị trường CNTT.
(Quốc hội, 2006)
- Thứ ba, đối với hoạt động của doanh nghiệp
Ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại ngày càng được xem như
một động lực phát triển quan trọng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp ở các nước
đang phát triển. Việc thiết lập trang thông tin điện tử bán hàng, cung cấp thông tin
cho việc giao kết hợp đồng trên môi trường mạng, thanh toán trên môi trường mạng
đang được nhiều tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp triển khai ứng dụng


14
rất hiệu quả. Nhà nước với vai trò quản lý của mình cần có những quy định cụ thể
trong việc tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển, đảm bảo cho hoạt động
của doanh nghiệp và bảo vệ người tiêu dùng. (Quốc hội, 2006)
- Thứ tư, đối với sự phát triển của các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục, thể
thao, du lịch,…
Chính sách của Nhà nước trong đảm bảo ứng dụng công nghệ thông tin trong
các lĩnh vực này được thể hiện: Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng
công nghệ thông tin trong việc dạy, học, tuyển sinh, đào tạo và các hoạt động khác
trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo trên môi trường mạng; chịu trách nhiệm xây dựng,
triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy ứng dụng
công nghệ thông tin trong giáo dục - đào tạo. Nhà nước có chính sách khuyến khích
ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế, văn hóa - thể thao, du lịch, quốc

CNTT: Trên cơ sở chủ trương và định hướng về ứng dụng và phát triển CNTT
của cả nước; căn cư vào tỉnh hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và xu thế
phát triển của ứng dụng và phát triển CNTT; căn cứ vào hiện trạng về phát triển
và ứng CNTT như hạ tầng CNTT, Công nghiệp CNTT, Ứng dụng CNTT, Nguồn
nhân lực CNTT và các chủ thể phát triển CNTT (Cơ quan Nhà nước, doanh
nghiệp, người sử dụng) để đưa ra mục tiêu, định hướng ứng dụng và phát triển
CNTTT trong giai đọan tiếp theo. Trên cơ sở mục tiêu đã đưa ra về ứng dụng và
phát triển CNTT đưa ra các giải pháp thực hiện và tổ chức thực hiện. Kế hoach
ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn tỉnh theo giai đoạn và hằng năm. (Quy
hoạch phát triển Công nghệ thông tin tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2007 - 2015 và định
hướng đến năm 2020)
Các nội dung chính của Kế hoạch ứng dụng ứng dụng CNTT là: kế hoạch
phát triển hạ tầng kỹ thuật, kế hoạch đảm bảo nguồn lực, kế hoạch đảm bảo thông
tin mạng, kế hoạch phát triển ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước và
ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp.
1.2.1.4. Tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
Trên cơ sở mục tiêu ứng dụng CNTT theo giai đoạn và hằng năm đã được
UBND tỉnh phê duyệt tại các Kế hoạch ứng dụng CNTT hằng năm và giai đoạn; Sở
Thông tin và Truyền thông tỉnh phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu cho
UBND tỉnh triển khai các chương trình, dự án, nhiệm vụ đảm bảo mục tiêu của kế
hoạch đã đề ra


16
Việc triển khai ứng dụng CNTT nhằm góp phần xây dựng hạ tầng thông tin
hiện đại, chuẩn hóa, đồng bộ, liên thông; Phát triển nguồn nhân lực CNTT chất
lượng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của việc ứng dụng CNTT, tiến tới đạt
chuẩn quốc gia. Nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng; đảm bảo an toàn, an ninh
thông tin. Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước nhằm tăng hiệu quả hoạt động
của cơ quan chính quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian và

hệ thống an ninh mạng, bảo đảm an toàn an ninh thông tin ở các cơ quan, đơn vị.
Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại sẽ phục vụ tốt cho người dân và
doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp được chú
trọng, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế thành phố.
Nhận thức của nhân dân trong việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin
và truyền thông được nâng lên rõ rệt.
Những cơ sở hạ tầng cần được đảm bảo cho quản lý nhà nước về CNTT
được ứng dụng và phát triển bao gồm:
- Mạng viễn thông băng rộng (mạng cáp quang, 3G/4G, Wifi đô thị, ...).
- Trung tâm điều hành an toàn, an ninh thông tin mạng và dữ liệu dùng chung
ứng dụng công nghệ điện toán đám mây để phục vụ mọi lúc, mọi nơi, phục vụ chính
quyền điện tử, công dân điện tử.
- Trung tâm dữ liệu lớn của tỉnh (Big Data); quản trị thông minh (BI); Trực
quan hóa dữ liệu để chọn lọc, tổng hợp thông tin đưa ra các dự báo, hỗ trợ ra quyết
định của lãnh đạo tỉnh.
- Hạ tầng mạng WAN, mạng LAN để liên kết hệ thống thông tin trên phạm vi
toàn tỉnh, phục vụ chỉ đạo, điều hành, tổng hợp, tra cứu khai thác;
Thứ hai, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, thiết thực và hiệu
quả trong các ngành, các lĩnh vực.
Như đã nói, CNTT được sử dụng trong tất cả các ngành, các lĩnh vực như cơ
quan nhà nước, phục vụ người dân, doanh nghiệp và an ninh quốc phòng nhằm đảm
bảo an toàn, an ninh mạng. Vì thế cần triển khai ứng dụng CNTT trong tất cả các
ngành, lĩnh vực, nhất là các ngành kinh tế, kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh. Đẩy
mạnh ứng dụng CNTT trong xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội (giáo dục, y tế, giao thông, điện, thủy lợi, hạ tầng đô thị, …). Triển
khai các ứng dụng CNTT trong các tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội. Đẩy
mạnh ứng dụng CNTT trong sản xuất, kinh doanh và quản trị các hoạt động của


18



19
quy, hiện đại quốc phòng, an ninh, đánh thắng chiến tranh mạng và chiến tranh điện
tử. Gắn kết chặt chẽ ứng dụng, phát triển CNTT với bảo đảm an toàn, an ninh và
bảo mật hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu. Có biện pháp bảo đảm an toàn thông
tin cho các hạ tầng thông tin trọng yếu. Phát huy vai trò các lực lượng chuyên trách
bảo vệ an toàn, an ninh thông tin và bí mật nhà nước. Thực hiện cơ chế phối hợp
chặt chẽ giữa các lực lượng công an, quân đội, cơ yếu, thông tin và truyền thông để
sẵn sàng, chủ động, phòng ngừa và xử lý các tình huống phát sinh trong lĩnh vực an
toàn, an ninh thông tin.Xây dựng tiềm lực về CNTT, cơ sở vật chất và nhân lực đủ
khả năng bảo đảm an ninh chính trị, an toàn xã hội, bảo đảm an toàn mạng, an ninh
thông tin. Xây dựng hệ thống phòng, chống và ứng cứu sự cố về an toàn, an ninh
thông tin tại các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể; phối hợp chặt chẽ giữa các
ngành, địa phương, các cơ quan chuyên trách để sẵn sàng, chủ động phòng ngừa và
xử lý các tình huống phát sinh.Tăng cường giám sát, phát hiện và kịp thời loại bỏ
các thông tin phá hoại của các thế lực thù địch, thông tin trái chủ trương, đường lối
của đảng, pháp luật của nhà nước. Quản lý chặt chẽ báo mạng và các loại truyền
hình, thông tin trên mạng Internet nhằm tận dụng tối đa tiềm năng tích cực của
mạng Internet, hạn chế mặt trái, tiêu cực.Ưu tiên sử dụng sản phẩm, giải pháp bảo
đảm an toàn, an ninh thông tin, mạng máy tính của các tổ chức, doanh nghiệp trong
nước. Khuyến khích các nhà sản xuất cùng tham gia phát triển, sáng tạo các sản
phẩm, giải pháp an toàn an ninh thông tin.
1.2.1.5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin
Hoạt động kiểm tra, giám sát đánh giá hiệu quả đầu tư ứng dụng và phát triển
CNTT là hoạt động theo dõi, kiểm tra và xác định mức độ đáp ứng so với mục tiêu,
yêu cầu đặt ra khi đầu tư Dự án. Quá trình này do các đơn vị có thẩm quyền (UBND
thành phố, Sở Thông tin và Truyền thông,…) tiến hành nhằm thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về CNTT, đảm bảo các Dự án đầu tư đạt hiệu quả, phù hợp với
mục tiêu, kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT của ngành, địa phương và đối với

- Xử lý các vi phạm về thực hiện quy hoạch, kế hoạch ứng dụng và phát triển
công nghệ thông tin trên địa bàn. (Quốc hội, 2006)
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại
các cơ quan nhà nước
1.2.2.1. Các yếu tố thuộc cơ quan nhà nước trên địa bàn
Thứ nhất, xây dựng cơ chế chính sách cho ứng dụng và phát triển CNTT:
Môi trường pháp lý là cơ sở để thực hiện quản lý nhà nước đối với mọi ngành nghề



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status