Luận văn thạc sỹ - Khảo sát ứng dụng phần mềm Libol6.0 tại Trung tâm thông tin – Thư viện Trường đại học Kinh tế Quốc dân - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AACR2 : Quy tắc biên mục Anh – Mỹ ấn bản 2
CNTT : Công nghệ thông tin
CSDL : Cơ sở dữ liệu
CSDL/ISIS : Cơ sở dữ liệu
DDC
:
Khung phân loại thập phân Deway
HQTTVTH
:
Hệ quản trị thư viện tích hợp
ILL
:
Inter – Library loans
ISO 2709 : Phân loại tiêu chuẩn khổ mẫu trao đổi thông tin
ISO 10161 :
Chuẩn các giao thức thông thư viện cho trao đổi văn bản
ảo
LIBOL : Giáo dục và Đào tạo
LAN : Mạng máy tính nội bộ
LCC : Khung phân loại thư viện Quốc hội Hoa Kỳ
MACR21 : Khổ mẫu biên mục đọc máy
OPAC
:
Phân hệ tra cứu

:
Quyết định
TT – TV
:

Đào tạo và Nhà trường dành cho dự án giáo dục mức A và C để nâng cấp, điều này
đã đem lại cho Trung tâm sự thay đối cả về hình thức lẫn nội dung, cả về số lượng
và chất lượng nguồn thông tin, nhằm vươn tới xây dựng thư viện điện tử, phục vụ
ngày càng tốt sự nghiệp đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học của Trường.
1
Trước tình hình chung đó, Trung tâm thông tin – Thư viện Đại học Kinh tế
Quốc dân đã có những chuyển biến để từng bước hoàn thiện hoạt động của mình
bằng việc bắt tay vào công tác tin học hoá, cụ thể vào năm 2002 thư viện đã bắt đầu
triển khai phần mềm Libol. Phần mềm Libol đã ứng dụng công nghệ thông tin một
cách triệt để, tự động hoá tất cả các chu trình hoạt động của một thư viện hiện đại,
cung cấp các tính năng cần thiết cho một thư viện để sẵn sàng hội nhập với hệ thống
thư viện quốc gia và quốc tế. Phần mềm Libol hiện đã được nâng cấp lên phiên bản
6.0 với ưu điểm nổi bật so với nhiều sản phẩm cùng loại trong nước với Phân hệ
Quản lý Tư liệu điện tử, cho phép thư viện quản lý các dạng tài liệu số phổ biến (âm
thanh, hình ảnh, video, text), cung cấp tài liệu số tới mọi đối tượng người dùng,
đồng thời các thư viện có thể thực hiện mua bán, trao đổi và cung cấp tài liệu điện
tử một cách dễ dàng. Việc ứng dụng LIBOL trong hoạt động ở Trung tâm thực sự là
một bước ngoặt quan trọng nhằm mục đích đưa Thư viện trường Đại học Kinh tế
quốc dân trở thành một trong những thư viện hiện đại và hoạt động có hiệu quả
trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Với lý do trên nên tôi chọn đề tài: “Khảo sát ứng dụng phần mềm Libol6.0
tại Trung tâm thông tin – Thư viện Trường đại học Kinh tế Quốc dân” làm luận
văn thạc sỹ khoa học thư viện với mong muốn vận dụng những kiến thức và kỹ
năng tiếp thu được từ khoá học, nghiên cứu đề xuất những kiến nghị và giải pháp để
nâng cao hiệu quả việc ứng dụng phần mềm Libol6.0 tại Trung tâm.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Khảo sát việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích hợp Libol6.0 vào công tác
hoạt động thư viện tại Trung tâm thông tin – Thư viện đại học Kinh tế Quốc dân, từ
đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm

luận văn chuyên ngành khoa học thư viện quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này. Tác
giả Vũ Văn Sơn có công trình “Lựa chọn phần mềm quản trị thư viện” đã đề cập tới
một số nguyên tắc lựa chọn phần mềm quản trị thư viện. Tác giả Nguyễn Ngọc Anh
3
trong luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm
LIBOL5.0 tại Trường đại học Xây dựng” cũng đã khảo sát, đánh giá việc ứng dụng
Libol 5.0 tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội; tương tự, tác giả Chu Khánh Vân
cũng đã “Khảo sát việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích hợp LIBOL5.5 tại Trung
tâm thông tin – Thư viện đại học Quốc gia Hà Nội” ….Các công trình trên chủ yếu
đi vào kháo sát nghiên ứng dụng phần mềm Libol ở một thư viện hoặc một trung
tâm cụ thể, mà mỗi cơ quan, mỗi thư viện lại có những hoàn cảnh đặc thù riêng và
mỗi người có một cách tiếp cận khác nhau. Về hoạt động thông tin thư viện tại
trường Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cũng đã có luận văn thạc sĩ của Bùi Thị
Sen “Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân ”. Tác giả Bùi Thị Sen có đề cập tới hoạt động thông tin – thư
viện tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tuy
nhiên, tác giả cũng chỉ nghiên cứu một khía cạnh trong hoạt động thông tin – thư
viện tại trường là nguồn lực thông tin.
Có thể nói, cho đến nay chưa có đề tài nào đề cập trực tiếp, đầy đủ thực trạng
ứng dụng phần mềm Libol6.0 tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân. Chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu tôi hy vọng có thể kế
thừa những thành tựu của các tác giả đi trước và những kinh nghiệm làm việc của
bản thân để làm rõ thực trạng ứng dụng Libol 6.0 tại Trung tâm Thông tin Thư viện
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để rút ra những thành công, kết quả và cả những
hạn chế khi ứng dụng phần mềm Libol6.0. Trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị
và giải pháp để nâng cao hiệu quả việc ứng dụng phần mềm Libol6.0 tại Trung tâm,
trong giai đoạn có nhiều chuyển biến đối với hoạt động ở các cơ quan thông tin thư
viện - giai đoạn hiện đại hoá thư viện, xây dựng và khai thác thư viện điện tử.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:

THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1. Phần mềm LibolL6.0
1.1.1. Sự ra đời của phần mềm Libol
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão ngày nay thực chất
là cuộc cách mạng công nghệ. Khoa học phát triển đã thu hút một bộ phận lớn nhân
lực vào lĩnh vực này làm cho đội ngũ những người làm khoa học gia tăng nhanh
chóng. Lực lượng những người làm khoa học tăng lên theo cấp số cộng thì tài liệu
khoa học và những sản phẩm nghiên cứu của họ tăng lên theo cấp số nhân. Tất cả đã
tạo nên một khối lượng thông tin khổng lồ và không ngừng phát triển, dẫn đến hiện
tượng bùng nổ thông tin. Ngoài ra, cộng đồng khoa học được bổ sung thêm nhiều
người dùng tin khác nhau: các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, các nhà công nghệ,
các nhà giáo dục, các nhà sản xuất kinh doanh… Họ không chỉ là người dùng tin, mà
còn là những người sản xuất ra các thông tin mới.
Sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức khoa học tác động mạnh mẽ tới
các hoạt động của các cơ quan thông tin thư viện. Nó tác động tới cơ cấu của kho tài
liệu, làm cho số lượng, chủng loại tài liệu tăng lên gấp bội. Thêm vào đó nhu cầu
đòi hỏi phải rút ngắn đáng kể thời gian hữu ích của một tài liệu làm cho các nhà
quản ý phải thường xuyên bổ sung vốn tài liệu và không ngừng phải xử lý chúng,
hoặc bằng thủ công hoặc bằng phương tiện tự động hóa. Sự bùng nổ thông tin gắn
liền với sự bùng nổ của công nghệ đặc biệt trên ba lĩnh vực có mối liên hệ chặt chẽ
với công tác thông tin – thư viện đó là tin học, viễn thông và vi xử lý – hạt nhân của
công nghệ thông tin hiện đại.
Với việc ứng dụng máy tính điện tử trên thế giới trong xử lý thông tin tư liệu
diễn ra trong vòng 40 năm trở lại đây đã đem lại hiệu quả vô vùng to lớn: tập trung
thông tin trong những bộ nhớ lớn, những cơ sở dữ liệu (CSDL) và ngân hàng dữ
liệu, tăng nhanh tốc độ ở tất cả các công đoạn xử lý thông tin. Sự phát triển của
6
những bộ nhớ lớn truy nhập trực tiếp tạo ra khả năng tra cứu nhanh, tại thời điểm
bất kỳ những thông tin mà người sử dụng tin yêu cầu.
Sự kết hợp giữa máy tính và viễn thông dẫn đến sự hình thành, phát triển các

- Đáp ứng những yêu cầu đặc thù đối với công tác biên mục, tuân theo các
chuẩn quốc tế: khổ mẫu trao đổi ISO 2709, khổ mẫu biên mục đọc máy MACR 21,
chuẩn tìm kiếm Z39.50, phân loại DDC, UDC, BBK…
- Cung cấp khả năng tra cứu cho các bạn đọc đến thư viện hay từ xa qua Internet.
- Có khả năng trao đổi thông tin thư mục với các hệ thống khác trên thế giới
cũng như tại Việt Nam.
- Ứng dụng mã vạch trong các nghiệp vụ.
- Có khả năng quản lý dữ liệu số, bao gồm cả lưu trữ, biên mục và cung cấp
khả năng truy cập trực tuyến cho bạn đọc.
- Có hệ thống báo cáo tự động và các phân tích thống kê từ các hoạt động
của thư viện.
- Có độ an toàn và bảo mật cao.
- Có công nghệ hiện đại, đảm bảo đầu tư lâu dài.
- Có đội ngũ hỗ trợ có khả năng đào tạo, bảo trì, phát triển, nâng cấp sản phẩm.
Nhạy bén với xu hướng phát triển và nhu cầu áp dụng CNTT vào việc chuẩn
hoá các quy trình nghiệp vụ thông tin-thư viện (TTTV), một số công ty tin học
đã nghiên cứu và phát triển các phần mềm ứng dụng phục vụ cho tổ chức, quản
lý và khai thác thông tin. Trong số đó có thể kể đến các công ty tên tuổi như Lạc
Việt với phần mềm Vebrary, VNNesoft với Elib, Tinh vân với phần mềm Libol
và CMC với phần mềm iLib… Libol là giải pháp phần mềm tự động hóa thư viện
tổng thể với đầy đủ các module chức năng, có khả năng quản lý được các loại tài
liệu đa dạng. Để thích ứng với thị trường Việt Nam các phần mềm này đều hỗ
8
trợ tiếng Việt và có khả năng chuyển đổi CSDL từ CDS/ISIS, hỗ trợ nghiệp vụ
quản lý thư viện phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của thư viện Việt Nam.
Libol có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Libol là phần mềm tích hợp và quản lý hầu hết các hoạt động của
thư viện với nhiều phân hệ thông qua trình duyệt WEB, cho phép hoàn thiện công
tác tin học hóa thư viện.
Thứ hai: Libol ngoài việc cho phép sử dụng nhiều chuẩn phân loại khác

tàng lịch sử…đặc biệt là việc chạy thử Libol tại Thư viện Quốc gia để quản lý
nghiệp vụ thư viện của một thư viện lớn hàng đầu tại Việt Nam đã giúp cho công ty
Tinh Vân nhận biết được những yếu điểm của Libol phiên bản 2.0.
Cùng với sự hợp tác của Thư viện Quốc gia và Trung tâm Thông tin tư liệu
Khoa học công nghệ Quốc gia, Công ty Tinh Vân đã đầu tư nâng cấp phần mềm
Libol phiên bản 2.0 lên thành phiên bản 3.0 với một loạt chức năng quan trọng, hỗ
trợ đắc lực cho quản lý nghiệp vụ thư viện tại các thư viện lớn với số đầu ấn phẩm
lên tới hàng triệu bản ghi bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Libol 3.0 được kết hợp
thêm một số chức năng rất quan trọng như chuyển dữ liệu theo các chuẩn khác
nhau, xây dựng thêm phân hệ quản lý ấn phẩm định kỳ và hoàn thiện quá trình tự
động hóa nghiệp vụ thư viện, như sử dụng mã vạch trong quá trình quản lý ấn phẩm
thông tin và thẻ bạn đọc. Đặc biệt Libol 3.0 ra đời đã mở ra một tiềm năng rất to lớn
cho sự phát triển của Thư viện điện tử tại Việt Nam. Bằng các chức năng quản lý đa
phương tiện, đa ngôn ngữ kết hợp với khả năng quản lý và tự động hóa các nghiệp
vụ thư viện, Libol đã thực sự trở thành sản phẩm phần mềm Việt Nam đầu tiên về
thư viện điện tử tích hợp với nghiệp vụ thư viện truyền thống.
Năm 2000, Libol được nâng cấp thành phiên bản 4.0, cung cấp thêm rất
nhiều tính năng vượt trội, hoàn thiện trong khâu tuỳ biến dữ liệu. Libol đã đăng ký
bản quyền sáng chế cho phần mềm Libol tại Cục Quản lý sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Năm 2001, do yêu cầu của thực tế từ các thư viện, Libol đã được nâng cấp
10
thành phiên bản Libol5.0. Với phiên bản này, phần mềm có thêm 2 phân hệ chức
năng, đó là “ Phân hệ ấn phẩm định kỳ” và “ Phân hệ liên thư viện”.
Kế thừa thành công cũng như kinh nghiệm tích luỹ được từ những phiên bản
trước đó, vào năm 2005 phòng Giải pháp Thư viện Điện tử Công ty Tinh Vân đã
hoàn thiện phiên bản 6.0. Libol6.0 tiếp tục bổ sung thêm nhiều tiện ích mới nhằm
đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các đối tượng khách hàng khác nhau. Về mặt nghiệp
vụ, Libol6.0 áp dụng các chuẩn quốc tế về nghiệp vụ thư viện, trên cơ sở cung cấp
các tính năng đặc thù cho thư viện Việt Nam. Ở phiên bản này, tính bảo mật và hiệu
năng của hệ thống được đặc biệt quan tâm. Nhờ sự gia tăng các tính năng này, thư

- Mượn liên thư viện theo giao thức ISO 10161, sử dụng định dạng mã hoá
dữ liệu BER/MIME;
- Tích hợp với các thiết bị mã vạch, thẻ từ và RFID; các thiết bị mượn trả tự
động theo chuẩn SIP 2;
- Hỗ trợ đa ngữ Unicode với dữ liệu và giao diện làm việc; các bảng mã tiếng
Việt như TCVN 5712, VNI
- Có công cụ xây dựng, quản lý và khai thác kho tài nguyên số;
- Xuất bản các cơ sở dữ liệu hoặc thư mục trên đĩa CD;
- Bảo mật và phân quyền chặt chẽ;
- Thống kê tra cứu đa dạng, chi tiết và trực quan phục vụ mọi nhóm đối tượng;
- Vận hành hiệu quả trên những CSDL lớn hàng triệu bản ghi, hỗ trợ hệ quản
trị CSDL Oracle hoặc MS SQL Server;
- Khai thác và trao đổi thông tin qua web, thư điện tử, GPRS (điện thoại di
động) và thiết bị hỗ trợ người khiếm thị;
- Tương thích với cả mô hình kho đóng và kho mở;
- Hỗ trợ hệ thống thư viện nhiều kho, điểm lưu thông…
1.1.4. Cấu trúc của phần mềm LIBOL6.0.
12
Phần mềm Libol6.0 có 3 hạt nhân, đó là công nghệ và truyền thông; các
chuẩn nghiệp vụ thông tin thư viện; các phân hệ chức năng [17]
Phần về công nghệ thông tin và truyền thông:
- Phần mềm Libol6.0 được thiết kế, xây dựng và vận hành theo các chuẩn
công nghệ mở để đảm bảo khả năng nâng cấp, thay đổi, bổ sung, kết nối thêm các
module mới mà không kéo theo sự đổ vỡ hệ thống cũng như phải đảm bảo được sự
kế thừa các thành quả đã đạt được.
- Xây dựng theo mô hình khách/chủ (client/server).
- Làm việc trên mạng theo giao thức TCP/IP: Phần mềm phải hỗ trợ các giao
thức TCP/IP để đảm bảo khả năng kết nối mạng toàn cầu và triển khai các dịch vụ
liên quan tới chia sẻ và khai thác các nguồn tin điện tử trên thế giới.
- Làm việc trong môi trường Web, bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc một số

quan (bổ sung, lưu thông).
- Khả năng tùy biến cao trong việc tạo khuôn dạng báo cáo dữ liệu: Cán bộ
thư viện có thể tự định dạng cho các loại báo cáo dữ liệu khác nhau: các sản phẩm
thư mục, thư từ, hợp đồng, nhãn, phích phiếu, thẻ đọc mà không cần sự can thiệp
của đơn vị cung cấp phần mềm.
Phần về các chuẩn nghiệp vụ thông tin-thư viện:
Các chuẩn nghiệp vụ TTTV tiên tiến và các chuẩn hiện hành đã được
Libol6.0 tính đến để đảm bảo sự tương thích trong giao dịch và vận hành các quá
trình TTTV và trao đổi các sản phẩm, dịch vụ TTTV trong môi trường nối mạng
toàn cầu:
- Hỗ trợ MARC21, MARC21 VN, hỗ trợ các bảng mã tiếng Việt:
TCVN5712, VNI, TCVN6909.
- Hỗ trợ chuẩn ISO 10161 cho việc mượn liên thư viện: Phần mềm hỗ trợ
chuẩn ISO 10161 cho nghiệp vụ mượn liên thư viện (Inter-library Loans), bao gồm
14
cả việc tuân thủ cả giao thức và định dạng dữ liệu.
- Hỗ trợ đồng thời nhiều khung phân loại như: BBK, DDC, LC, UDC,
Khung đề mục quốc gia, khung phân loại 19 lớp
- Hỗ trợ định chủ đề (subject heading) và hệ thống từ khóa kiểm soát.
- Hỗ trợ các quy tắc biên mục và chuẩn hiển thị thông tin biên mục: Phần
mềm tuân thủ các chuẩn ISBD, AACR-2, LC In-publication Catalog, TCVN
4743-89.
- Trao đổi dữ liệu với các phần mềm hỗ trợ UNIMARC và MARC 21: Phần
mềm có khả năng trao đổi dữ liệu biên mục hai chiều với các phần mềm hỗ trợ
UNIMARC và MARC21. Nhập/xuất dữ liệu theo chuẩn ISO 2709;
- Trao đổi dữ liệu với phần mềm CDS/ISIS.
- Trao đổi dữ liệu với các hệ quản lý siêu dữ liệu (Metadata) theo chuẩn
Dublin Core, RDF/XML, chuẩn truy cập các kho lưu trữ mở,
- Áp dụng quy tắc sinh số Cutter theo chuẩn của Thư viện Quốc gia với
tên ấn phẩm/tên tác giả tiếng Việt, phần mềm tự động sinh số Cutter theo xâu

- Phân hệ Quản lý Bạn đọc: Quản lý thông tin cá nhân và phân loại bạn đọc
giúp thư viện áp dụng được những chính sách phù hợp với mỗi nhóm bạn đọc và
tiến hành các xử lý nghiệp vụ theo lô hoặc theo từng cá nhân.
- Phân hệ Lưu thông mượn trả: Tự động hoá những thao tác thủ công lặp đi
lặp lại trong quá trình mượn trả và tự động tính toán, áp dụng mọi chính sách lưu
thông do thư viện thiết đặt. Cung cấp các số liệu thống kê về tình hình mượn trả tài
liệu phong phú và chi tiết.
- Phân hệ Sưu tập số: Quản lý kho tư liệu số hoá của thư viện, hỗ trợ công
tác số hóa và nhận dạng tài liệu, theo dõi và xử lý các yêu cầu đặt mua tài liệu điện
tử qua mạng.
16
- Phân hệ Mượn liên thư viện (ILL): Quản lý những giao dịch trao đổi tư liệu
với các thư viện khác theo chuẩn quốc tế dưới các vai trò là thư viện cho mượn và
thư viện yêu cầu mượn. Cho phép bạn đọc của thư viện này có thể mượn sách tại
các thư viện khác.
- Phân hệ Quản trị hệ thống: Quản lý, phân quyền người dùng và theo dõi
toàn bộ hoạt động của hệ thống. Tích hợp với cơ sở dữ liệu người dùng trên LDAP
hoặc Microsoft Active Directory. Cho phép tùy biến ngôn ngữ trên giao diện
chương trình.
Sau gần 15 năm phát triển, Libol là giải pháp phần mềm thư viện điện tử
được áp dụng nhiều nhất tại Việt Nam hiện nay. Với hơn 100 khách hàng là các thư
viện các trường đại học, thư viện công cộng và trung tâm nghiên cứu lớn nhất cả
nước như: Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia, Thư viện Khoa học tổng hợp
TP. Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội Libol đã khẳng định những đóng góp
xuất sắc về công nghệ cho sự nghiệp tin học hoá và hiện đại hoá công tác quản lý và
khai thác thư viện. Chính vì vậy, phần mềm Libol đã đạt được nhiều giải thưởng,
như: Giải thưởng Sao Khuê 2010 do Hiệp hội phần mềm Việt Nam VINASA trao
tặng; Cúp Vàng "Phần mềm đóng gói - phần mềm thương phẩm" cho sản phẩm
CNTT xuất sắc do Hội tin học Việt Nam trao tặng năm 2002 và 2007; giải thưởng
chất lượng do Bộ Bưu chính Viễn thông trao tặng cho 10 doanh nghiệp kinh doanh

trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng , Kế toán, Hệ thống thông tin kinh tế, Luật
học, Khoa học máy tính và Tiếng Anh ; ở bậc cao học đào tạo 2 nhóm ngành Kinh
tế, kinh doanh và quản lý với 33 chuyên ngành hẹp; bậc nghiên cứu sinh đào tạo 14
mã số chuyên ngành với 22 chuyên ngành hẹp. Bên cạnh các chương trình đào tạo
cấp bằng cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, Trường cũng thường xuyên tổ chức các khoá
bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho các
nhà quản lý các doanh nghiệp và các cán bộ kinh tế trên phạm vi toàn quốc. Cho
18
đến nay, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ cán bộ
quản lý chính quy, năng động, dễ thích nghi với nền kinh tế thị trường và có khả
năng tiếp thu các công nghệ mới. Trong số những sinh viên tốt nghiệp của Trường,
nhiều người hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng,
Quốc hội, Chính phủ và các doanh nghiệp.
- Trung tâm nghiên cứu khoa học kinh tế phục vụ đào tạo, hoạch định chính
sách kinh tế – xã hội của Đảng, Nhà nước, các ngành, các địa phương và chiến lược
kinh doanh của các doanh nghiệp. Trường đã triển khai nhiều công trình nghiên cứu
lớn về kinh tế và kinh doanh ở Việt Nam, được Chính phủ trực tiếp giao nhiều đề
tài nghiên cứu lớn và quan trọng. Ngoài ra, Trường cũng hợp tác về nghiên cứu với
nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế.
- Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ quản lý kinh tế và quản trị
kinh doanh. Trường đã có nhiều đúng góp to lớn trong việc tư vấn cho các tổ chức ở
Trung ương, địa phương và các doanh nghiệp. Ảnh hưởng sâu rộng của trường Đại
học Kinh tế Quốc dân đến toàn bộ công cuộc đổi mới được tăng cường bởi các mối
liên kết chặt chẽ của Trường với các cơ quan thực tiễn.
- Trường Đại học KTQD có quan hệ trao đổi, hợp tác nghiên cứu - đào tạo
với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu nổi tiếng và nhiều tổ chức quốc tế của
các nước như Liên Bang Nga, Trung Quốc, Bungari, Ba Lan, CH Sec và Slụvakia,
Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Thuỵ Điển, Hà Lan, CHLB Đức, Canada, Hàn Quốc,
Tháii Lan Đặc biệt, trường cũng nhận được tài trợ của các nước và các tổ chức
quốc tế như tổ chức Sida (Thuỵ Điển), UNFPA, CIDA (Canada), JICA (Nhật Bản),

nàn. Tới nay Trung tâm Thông tin Thư viện đã trường Đại học Kinh tế Quốc Dân
có nhiều đổi mới: Được Dự án Giáo dục Đại học đầu tư về cơ sở vật chất trang
thiết bị hiện đại, vốn tài liệu thông tin khá phong phú, đa dạng; hệ thống tra cứu
điện tử trên phần mềm Libol60, quản lý tài liệu trên đầu đọc mã vạch. Đội ngũ
cán bộ thông tin Thư viện đã phát triển nhanh về số lượng, chất lượng được nâng
20
cao được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, tiếng anh, tin học, phần mềm quản
lý thư viện Libol60.
Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm, có thể được chia thành 2
giai đoạn lớn:
- Giai đoạn thứ nhất từ năm 1956 đến năm 1985
- Giai đoạn thứ hai từ năm 1985 đến nay
Giai đoạn thứ nhất từ năm 1956 đến năm 1985:
Giai đoạn trước năm 1985 Trung tâm vẫn có tên là “Thư viện” và phải vượt
qua bao khó khăn để giữ vững vị trí và hoàn thành nhiệm vụ của mình. Bởi vì giai
đoạn này Nhà trường và Đất nước có nhiều sự kiện đặc biệt. Đó là khi Trường Đại
học Kinh tế - Tài chính này mới xây dựng và phát triển được mấy năm, nhưng do
yêu cầu mới, một số khoa của Trường phải tách ra để thành lập một số trường đại
học khác như Trường đại học Ngoại thương (tháng 10 năm 1962), khoa Kinh tế
Trường đại học Giao thông (tháng 1 năm 1963)… Sau ngày giải phóng miền Nam
năm 1975, các trường kinh tế phía Nam được xây dựng và củng cố, Trường
ĐHKTQD cũng lại có trách nhiệm giúp các trường đó. Như vậy trong những năm
này Nhà trường không những phải cử cán bộ, giáo viên đi xây dựng và củng cố các
trường mới, mà nguồn tài liệu của Thư viện cũng phải chia ra để chi viện cho các
trường đó.
Trước năm 1975, Nhà trường phải đi sơ tán, các khoa phải phân tán ở các
khu vực khác nhau. Vì vậy Thư viện phải phân chia lực lượng đi đến các nơi sơ tán
để phục vụ cán bộ, giáo viên và sinh viên các khoa. Trong điều kiện này Thư viện
gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về kinh phí, cơ sở vật chất, nguồn tài liệu, đội
ngũ cán bộ và hoạt động trong điều kiện gian khổ vì chiến tranh… Có thể nói rằng

trong và ngoài nước để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và tranh thủ những nguồn
tài liệu bạn tặng biếu, làm giàu thêm vốn tài liệu của mình. Tới nay Trung tâm đã
xây dựng được nguồn tài liệu mới có nội dung lý luận về nền kinh tế thị trường,
22

Trích đoạn Ứng dụng LIBOL6.0 trong quản lý ấn phẩm nhiều kỳ Ứng dụng LIBOL6.0 trong lưu thông mượn trả Ứng dụng LIBOL6.0 trong quản lý bạn đọc Ứng dụng LIBOL6.0 trong quản trị hệ thống Ứng dụng Libol6.0 trong tra cứu trực tuyến OPAC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status