Sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm thông tin -thư viện trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN THỊ NHUNG

SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƢ VIỆN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SỸ THÔNG TIN - THƢ VIỆN
:
Khoa học Thông tin - Thƣ viện
Mã số
:
60.32.02.03 LUẬN VĂN THẠC SỸ THÔNG TIN -THƢ VIỆN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
:
PGS.TS. NGUYỄN THU THẢO Hà Nội – 2013

3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới PGS. TS.
Nguyễn Thu Thảo, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Phát triển ngành nghề đào tạo đại học giai đoạn 2013-2020
23
Bảng 1.2. Phát triển đội ngũ giảng viên giai đoạn 2013-2020
24
Bảng 1.3. Thành phần vốn tài liệu của TTTT-TV
30
Bảng 1.4. Thành phần người dùng tin của TTTT-TV
31
Bảng 2.1. Thống kê dịch vụ đọc tại chỗ của TTTT-TV
52
Bảng 2.2. Thống kê dịch vụ mượn về nhà của TTTT-TV
53
Bảng 2.3. Thống kê dịch vụ sao chụp, scan tài liệu của TTTT-TV
55
Bảng 2.4. Thống kê truy cập Internet của TTTT-TV
58

DANH MỤC CÁC BIỂU DỒ Biểu đồ 1.1. Mức độ sử dụng thư viện của người dùng tin
35
Biểu đồ 1.2. Mục đích sử dụng thư viện của người dùng tin
35
Biểu đồ 1.3. Nhu cầu tin theo loại hình tài liệu của người dùng tin
36
Biều đồ 1.4. Nhu cầu tin theo lĩnh vực chuyên môn của người dùng tin


Hình 2.1. Giao diện tìm tin trên cơ sở dữ liệu thư mục
47
Hình 2.2. Giao diện bộ sưu tập tài liệu giáo trình trên Greenstone
48
Hình 2.3. Giao diện tìm kiếm tài liệu giáo trình trên Greenstone
49
Hình 2.4. Giao diện kết quả tìm kiếm dữ liệu trên Greenstone
49

1.2.3. Cơ cấu tổ chức và độ ngũ cán bộ 35
1.3. Trung tâm thông tin – thƣ viện với sự nghiệp phát triển của trƣờng 36
1.3.1. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 36
1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ 37
1.3.3. Nguồn lực thông tin 38
1.3.4. Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại Trung tâm thông tin – thư
viện 39

7
1.3.4.1. Đăc điểm người dùng tin 39
1.3.4.2. Nhu cầu tin 42
1.4. Vai trò của sản phẩm và dịch vụ đối với sự nghiệp đào tạo của trƣờng
Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa 45
CHƢƠNG 2 47
THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ 47
TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC 47
VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH THANH HÓA 47
2.1. Sản phẩm thông tin – thƣ viện 47
2.1.1. Hệ thống mục lục 47
2.1.2. Thư mục dạng in 49
2.1.3. Danh mục 52
2.1.4. Cơ sở dữ liệu 53
2.2. Dịch vụ thông tin- thƣ viện 58
2.2.1. Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc 59
2.2.2. Dịch vụ sao chụp, scan tài liệu 62
2.2.3. Dịch vụ tư vấn, hỏi đáp 63
2.2.4. Dịch vụ truy cập Internet 65
2.2.5. Dịch vụ tra cứu thông tin 66
2.2.6. Dịch vụ cung cấp thông tin chọn lọc 67
2.3. Các yêu tố tác động đến sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm thông tin –

3.3.2. Nâng cao nguồn lực thông tin 99
3.3.3. Đào tạo người dùng tin 100
3.3.4. Tổ chức quảng bá sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 101
3.3.5. Chính sách phát triển 103
3.3.6. Đầu tư cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin 104
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHẦN PHỤ LỤC LUẬN VĂN 112

9

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới
đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi
mặt đời sống xã hội của các quốc gia. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn
ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông đã trở thành
một bộ phận lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, làm chuyển
dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa
thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri
thức, trong đó tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng trở thành nhân tố quyết
định sự phát triển của mỗi quốc gia. Các nước phát triển trên thế giới đang dịch
chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, coi thông tin như một
nguồn lực đặc biệt của mỗi quốc gia và là những chỉ tiêu của sức mạnh kinh tế - xã
hội và chính trị của mỗi nước. Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội đang chuyển
dịch sang nền kinh tế tri thức, “thông tin trở thành nguồn lực kinh tế chính” thúc
đẩy sự phát triển vượt bậc trong mọi ngành kinh tế, nguồn lực thông tin mà cụ thể là
hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện (SP&DVTT-TV). Do đó,
phát triển SP&DVTT-TV chính là góp phần phát triển ngành công nghệ thông tin
trong nền kinh tế.

(ĐHVHTT&DLTH) nằm trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam được
thành lập trên cơ sở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa theo quyết
định số 1221/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2011, là một trường đào tạo đa ngành
về lĩnh vực Văn hoá, Nghệ thuật, Thể thao, Du lịch cho khu vực Bắc Miền Trung và
Nam Sông Hồng. Với mục tiêu mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy
và học ở bậc đại học nhằm thu hút sinh viên theo học.
Để nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường trong giai đoạn mới một
trong những vấn đề được Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến phát triển các
sản phẩm và dịch vụ đào tạo, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng và tổ
chức các SP&DVTT-TV tại Trung tâm thông tin – thư viện (TTTT-TV), nhằm góp

11
phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu của nhà trường trong
giai đoạn đào tạo ở bậc đại học.
Với ý nghĩa và vai trò quan trọng trong giai đoạn mới của nhà trường từ đào
tạo trung cấp, cao đẳng lên đào tạo ở bậc đại học tôi đã lựa chọn đề tài “ Sản phẩm
và dịch vụ tại Trung tâm thông tin -thư viện trường Đại học Văn hóa, Thể thao
và Du lịch Thanh Hóa” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học thư
viện của mình với mong muốn vận dụng những kiến thức và kỹ năng tiếp thu được
trong khóa học, thực tiễn của bản thân để nghiên cứu và đề xuất những giải pháp
khả thi nhằm xây dựng và tổ chức sản phẩm và dịch vụ tại TTTT-TV trường
ĐHVHTT&DLTH, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng đầy đủ kịp thời
nhu cầu tin của NDT của TTTT-TV trường ĐHVHTT&DLTH.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, nghiên cứu về SP&DVTT-TV đã được nhiều tác giả lựa chọn
nghiên cứu trên bình diện lý thuyết cũng như tại các cơ quan, đơn vị khác nhau trên
thế giới và ở Việt Nam. Đã có nhiều giáo trình, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa
học, bài báo, tạp chí, hội thảo, tài liệu tập huấn trình bày về vấn đề này.
Trên thế giới đã có những nghiên cứu về SP&DVTT-TV trên cơ sở sách
tham khảo và bài viết trên tạp chí như: sách tham khảo “Giới thiệu dịch vụ thư viện

ở cuốn giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện” của tác giả Trần Mạnh
Tuấn xuất bản năm 1998; cũng được đề cập đến trong giáo trình “Thông tin học”
của tác giả Đoàn Phan Tân xuất bản năm 2006. Các tài liệu này đã cung cấp một
cách cơ bản các vấn đề lý luận về loại hình SP&DVTT-TV. Tuy nhiên trong các tài
liệu các tác giả chưa đi sâu phân tích các loại hình SP&DVTT-TV với từng loại
hình thư viện cụ thể.
SP&DVTT-TV được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu là luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Khoa học thư viên như: “ Nghiên cứu và hoàn thiện các dịch
vụ thông tin trong hệ thống thông tin – thư viện thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam”của tác giả Phùng Thị Bình (2008); “Nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ
thông tin – thư viện tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội” của tác giả Đào Linh
Chi (2007); “Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Học

13
viện công nghệ Bưu chính viễn thông”của tác giả Trần Thị Ngọc Diệp (2011);
“Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Học viện Chính
trị khu vực I” của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang (2007) ; “Phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin – thư viện tại trường Đại học Ngoại thương Hà Nội”của tác giả
Thạch Lương Giang (2012); “Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hệ thống sản
phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của trường Đại học Hà Nội”của tác giả Đặng
Thị Thu Hiền (2011); “Nghiên cứu hoàn thiện các sản phẩm thông tin của Trung
tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia” của tác giả Nguyễn Thị Hồng
(2005); “Phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Thư viện
tỉnh Bắc Giang” của tác giả Phạm Thị Hải Huyền (2009); “Phát triển hệ thống sản
phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại các trường Đại học khối Văn hóa Nghệ thuật
ở Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền (2009); “ Sản phẩm và dịch vụ thông
tin – thư viện tại Trung tâm thông tin – thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng
Quốc Hội” của tác giả Trịnh Thị Giáng Hương (2006); “Đa dạng hóa sản phẩm và
dịch vụ thông tin trong điều kiện hội nhập khoa học và công nghệ tại Trung tâm
thông tin tư liệu Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam” của tác giả Đặng Thu

GS.TS. Rodionov.I, Lê Trọng Hiển; “Dịch vụ các thư viện chuyên ngành trên địa
bàn Hà Nội hiện trạng và vấn đề” của Nguyễn Thị Hạnh“ Một số vấn đề về chính
sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam” của Nguyễn Hữu
Hùng; “Pháp triển các dịch vụ thông tin trong các cơ quan thông tin thư viện” của
Nguyễn Huy Thắng; “Nghiên cứu, xây dựng hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin
tại Viện Khoa học xã hội hiện nay”của tác giả Trần Mạnh Tuấn (2008); “ Hiện
trạng và một số tính chất phát triển của dịch vụ tại các thư viện” của Trần Mạnh
Tuấn; “Dịch vụ cung cấp thông tin chuyên đề: nội dung và một số kiến nghị” của
Trần Mạnh Tuấn; “Sản phẩm thông tin từ góc độ Marketing” của Trần Mạnh Tuấn
“Dịch vụ tham khảo” của Trần Mạnh Tuấn; “ Một số vấn đề về phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin” của Trần Mạnh Tuấn; “ Về hệ thống sản phẩm và dịch vụ
thông tin” của Trần Mạnh Tuấn; “ Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thực trạng và
các vấn đề” của Trần Mạnh Tri; “ Đánh giá các dịch vụ thông tin và thư viện” của
Vũ Văn Sơn; “Hình thành dịch vụ thông tin thư viện sẵn sàng đáp ứng trong trường

15
đại học” của Dương Thị Vân; “Các loại hình dịch vụ thông tin tiêu chuẩn đo lường
chất lượng phục vụ các doanh nghiệp tại Trung tâm thông tin tiêu chuẩn đo lường
chất lượng” của Đỗ Tường Vân. Các bài viết trên đã phần nào đề cập đến các góc
độ khác nhau của loại hình SP&DVTT-TV phổ biến hiện nay, từ đó giúp cho việc
liệt kê, nhận dạng các nhóm SP&DVTT-TV, sơ bộ xác định các mối quan hệ giữa
chúng trên cơ sở phân nhóm theo những mục đích, khía cạnh khác nhau. Đồng thời
đề cập đến những phương pháp đánh giá cũng như phân tích các quan điểm tiếp cận
về tính hiệu quả của các SP&DVTT-TV.
Về TTTT-TV trường ĐHVHTT&DLTH đã được nghiên cứu ở khía cạnh
nguồn lực thông tin luận văn thạc sĩ “Xây dựng và phát triển nguồn học liệu phục
vụ đào tạo theo phương thức tín chỉ tại Trung tâm thư viện – học liệu trường Cao
đẳng Văn hóa- Nghệ thuật Thanh Hóa” của tác giả Trịnh Tất Đạt. Đề tài này, mới
chỉ giải quyết được khía cạnh nguồn lực thông tin trong hoạt động thông tin thư
viện của TTTT-TV trường ĐHVHTT&DLTH.

Giả thuyết đưa ra là: Sản phẩm và dịch vụ tại TTTTTV trường
ĐHVHTT&DLTH chưa đa dạng và phong phú, chất lượng sản phẩm và dịch vụ
chưa đáp ứng được nhu cầu NDT. Nếu xây dựng và tổ chức đa dạng, phong phú các
loại hình sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt thì sẽ nâng cao được hiệu quả hoạt
động thông tin, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà
trường.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm thông
tin- thư viện trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa.
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Trung tâm thông tin- thư viện trường Đại học Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 đến nay

17
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu lý luận chung về SP&DVTT-TV, thực trạng,
giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm thông tin- thư viện trường
Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phƣơng pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử kết hợp với các quan điểm của Đảng và Nhà nước khi xem xét, nghiên
cứu các vấn đề trong lĩnh vực Thông tin – Thư viện.
6.2. Phƣơng pháp cụ thể
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp thống kê
7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện với sự nghiệp phát triển
của trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Chương 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm thông tin – thư
viện trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm thông tin
– thư viện trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa 19
CHƢƠNG 1
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƢ VIỆN VỚI SỰ NGHIỆP
PHÁT TRIỂN CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ
DU LỊCH THANH HÓA

1.1. Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện
1.1.1. Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện
Sản phẩm và dịch vụ thông tin –thư viện được hình thành do nhu cầu trao đổi
thông tin trong xã hội, có quá trình phát triển lâu dài. Theo sự phân công lao động
xã hội và để thảo mãn nhu cầu tin của người dùng tin, cơ quan thông tin thực hiện
nhiệm vụ xây dựng, tổ chức các SP&DVTT-TV trên cơ sở kết quả của việc xử lý
phân tích và tổng hợp, tổ chức thông tin. Trước đây, khi khoa học và công nghệ
chưa phát triển, các SP&DVTT-TV chỉ là những loại hình đơn giản hàm lượng
thông tin thấp, hình thức không đẹp, phương pháp xây dựng và tổ chức SP&DVTT-

phẩm là cái được tạo ra như kết quả tự nhiên” [ 17, tr. 1357].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Sản phẩm là kết quả của các hoạt động
hoặc các quá trình. Sản phẩm bao gồm dịch vụ, phần cứng, vật liệu đã chế biến,
phần mềm hoặc tổ hợp của chúng. Sẩn phẩm có thể là vật chất (vd. Các bộ phận lắp
ghép hoặc vật liệu đã chế biến), hoặc phi vật chất (vd. Thông tin, khái niệm hoặc tổ
hợp của chúng). Sản phẩm được tạo ra có chủ định (vd. để dành cho khách hàng),
hoặc không chủ định (vd. chất ô nhiễm hoặc kết quả không mong muốn)” [9, tr.
723].
Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, “Sản phẩm là vật làm ra do sức lao động
của con người hoặc bằng máy móc, cần phát triển sản xuất các loại sản phẩm xuất
khẩu [18, tr. 1560].
Sản phẩm là kết quả của quá trình xử lý bao gồm rất nhiều công đoạn khác
nhau. SPTT-TV là quá trình xử lý thông tin bao gồm nhiều công đoạn khác nhau
như: biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng quan…như
quá trình phân tích – tổng hợp thông tin. SPTT-TV có nhiều hình thức khác nhau,
bao gồm sản phẩm truyền thống và sản phẩm hiện đại.

21
Sản phẩm thông tin – thư viện được hình thành nhằm thỏa mãn những nhu
cầu thông tin bao gồm: nhu cầu tra cứu thông tin, tài liệu và nhu cầu về chính bản
thân thông tin. Như vậy, sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu cũng như
sự biến đổi của nhu cầu. Tương tự như mọi loại sản phẩm khác, SPTT-TV trong
quá trình tồn tại và phát triển của mình, cần không ngừng được hoàn thiện để thích
ứng với nhu cầu mà nó hướng tới về nội dung và hình thức.
Như vậy, ta có thể hiểu sản phẩm thông tin – thư viện là kết quả của quá
trình xử lý thông tin do một cá nhân hay tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn
nhu cầu NDT.
Dịch vụ thông tin – thƣ viện
Dịch vụ là một thuật ngữ được sử dụng trước tiên và chủ yếu trong lĩnh vực
kinh tế học và thực tiễn hoạt động của nhiều lĩnh vực trong xã hội. Thuật ngữ dịch

Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam, “Dịch vụ là việc làm để phục vụ một công
trình gì” [18, tr.515].
Dịch vụ là một loại hình hoạt động kinh tế, không đem lại một sản phẩm cụ
thể như hàng hóa. Vì là một loại hình hoạt động kinh tế nên cũng có người bán
(người cung cấp dịch vụ) và người mua (khách hàng sử dụng dịch vụ).
Dịch vụ trong hoạt động thông tin – thư viện được hiểu như sau, Dịch vụ
thông tin thư viện là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi
thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin thư viện nói chung.
Dịch vụ thông tin – thư viện tương tự như các loại hình dịch vụ khác, trong
các DVTT-TV bao gồm những công việc có tính chuyên môn hóa và khi thực hiện
cần thiết phải sử dụng một số tài sản lâu bền nào đó, hoặc sử dụng một số sản phẩm
nào đó.
Dich vụ nói chung là loại hình hoạt động gắn chặt với người cung cấp dịch
vụ và người hưởng thụ nó. Điểm khác biệt giữa dịch vụ khác và DVTT-TV là các
dịch vụ mang ý nghĩa xã hội và kinh tế sâu sắc, toàn diện. Bởi cơ bản các DVTT-
TV thuộc nhóm dịch vụ phi lợi nhuận, ngoài ra một số nhóm dịch vụ còn phải đạt
được những giá trị kinh tế to lớn.

23
Có thể nói, một trong những yếu tố làm nên sức mạnh của cơ quan TTTV là
ở khả năng tạo dựng, tổ chức các SP&DVTT-TV có giá trị cao. Xây dựng, tổ chức
SP&DVTT-TV là một công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức của cán bộ thư
viện song việc quản lý, giữ gìn và phát triển càng khó khăn hơn, bởi lẽ nếu không
quản lý và sử dụng hiệu quả sẽ gây lãng phí, đồng thời không phát huy hết chức
năng hữu ích mà các SP&DVTT-TV đem đến cho NDT.
1.1.2. Yếu tố tác động đến sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ thông
tin – thƣ viện
1.1.2.1. Yếu tố bên ngoài
- Nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển đã ảnh hưởng đến mọi

chức năng dịch vụ thuần túy, đồng thời với cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, hành
chính sự nghiệp.
Đối với các nước, dù phát triển hay đang phát triển, dù là các nước có nền
kinh tế thị trường hay quản lý tập trung, thì hoạt động của các cơ quan TTTV vẫn
còn được đảm bảo bởi hệ thống chính sách phù hợp.
Để có thể tạo ra được SP&DVTT-TV phù hợp, các cơ quan TTTV cần có
được hạ tầng thông tin quốc gia cho phép nó hòa hợp với cộng động thông tin trong
khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, có được điều kiện này hoàn toàn phụ thuộc vào
chính sách quốc gia, nhờ đó, chính phủ có cơ sở, kế hoạch định hướng đầu tư thỏa
đáng, hợp lý. Ở Việt Nam, do sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường nên càng
thấy rõ sự quan trọng và sự cần thiết của một chính sách thông tin quốc gia đồng bộ
và thích hợp với những điều kiện kinh tế đặc thù đối với sự phát triển của các cơ
quan thông tin nói chung, trong đó sự phát triển của SP&DVTT-TV mà chúng tạo
ra.
1.1.2.2. Yếu tố bên trong
- Nguồn lực thông tin
Đây là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới các
SP&DVTT-TV. Việc xử lý thông tin tập trung chủ yếu vào nguồn lực thông tin, với
mỗi loại hình tài liệu chứa đựng các thông tin hết sức khác nhau, có khả năng thỏa
mãn những dạng nhu cầu thông tin khác nhau và ở những mức độ rất khác nhau.

25
Chính vì thế, các dạng tài liệu khác nhau cần có những phương pháp thích hợp để
tạo ra các sản phẩm và dịch vụ khả dĩ thỏa mãn được nhu cầu thông tin đặt ra. Mặt
khác, tương ứng với mỗi nhóm NDT có thể tạo ra được hệ thống SP&DVTT-TV
đặc thù, nhằm cung cấp ở mức cao nhất nội dung thông tin cho NDT.
- Ngƣời dùng tin
Người dùng tin là yếu tố tác động trực tiếp tới sự sống còn của các cơ quan
thông tin – thư viện. NDT và nhu cầu tin (NCT) đã trở thành cơ sở thiết yếu định
hướng cho hoạt động của cơ quan TTTV và đặc biệt là trong quá trình tạo lập và tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status