Tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế tại Trung tâm Thông tin thư viện Trường Đại học Y tế công cộng - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========

PHẠM QUỲNH TRANG TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC
THÔNG TIN Y TẾ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƢ
VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƢ VIỆN

HÀ NỘI - 2013 HÀ NỘI - 2013

3
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 10
1. Tính cấp thiết của đề tài 10
2. Tình hình nghiên cứu 12
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4. Giả thuyết nghiên cứu 13
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
6. Phương pháp nghiên cứu 14
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14
8. Dự kiến kết quả nghiên cứu 15
9. Cấu trúc của luận văn 15
NỘI DUNG 16
CHƢƠNG 1: TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNGTIN Y TẾ
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƢ VIỆN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG 16
1.1. Các vấn đề chung về tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế . 16
1.1.1. Nguồn lực thông tin 16
1.1.2. Nguồn lực thông tin y tế 17
1.1.3. Tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin 19
1.2. Khái quát về Trƣờng Đại học Y tế công cộng 20
1.2.1. Lịch sử hình thành và tương lai phát triển 20
1.2.2. Chức năng nhiệm vụ 23
1.2.3. Cơ cấu tổ chức 27
1.3. Trung tâm Thông tin - Thƣ viện Trƣờng Đại học Y tế Công cộng 29
1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ 30

3.1.4. Nâng cao chất lượng hệ thống tra cứu hiện có 84
3.1.5. Triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu toàn văn 84
3.2. Nhóm giải pháp về khai thác nguồn lực thông tin y tế 85
3.2.1. Tạo lập trang Facebook/Fanpage 86

5
3.2.2. Tăng cường máy móc trang thiết bị 86
3.2.3. Tăng cường đường truyền Internet, hệ thống mạng không dây 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Danh mục từ viết tắt Tiếng Việt:

ĐHYTCC
Đại học Y tế công cộng
CSDL
Cơ sở dữ liệu
NDT
Người dùng tin
TT - TV
TT TT-TV
YTCC
Thông tin - Thư viện
Trung tâm Thông tin - thư viện
Y tế công cộng


40
Biểu đồ 1.5: Mục đích đến thư viện của NDT
41
Biểu đồ 1.6: Nội dung tài liệu NDT quan tâm
44
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của NDT về cách sắp xếp tài liệu tại kho mở
55
Biểu đồ 2.2: Thống kê số lượt mượn theo dạng tư liệu lưu thông
72
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ lượt mượn theo dạng tư liệu lưu thông
72
Biểu đồ 2.4: Thống kê số lượt mượn theo nhóm bạn đọc
73
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ lượt mượn theo nhóm bạn đọc
73
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ lượt mượn theo năm
74 8
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Thống kê loại hình tài liệu của Trung tâm
34
Bảng 1.2: Thông tin về bản thân NDT tại Trung tâm
39
Bảng 1.3: Thời gian đọc sách báo, tìm kiếm thông tin của NDT tại
Trung tâm
39
Bảng 1.4: Mục đích đến thư viện của NDT
41

Hình 2.2: Giao diện chính phân hệ biên mục
61
Hình 2.3: Minh họa một biểu ghi hoàn chỉnh
63
Hình 2.4: Minh họa một mẫu phiểu mục lục theo AACR2
66
Hình 2.5: Giao diện CSDL HINARI
67
Hình 2.6: Giao diện website của Trung tâm
69
Hình 2.7: Màn hình các website liên kết với Trung tâm
70 10
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị về Công
tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã chỉ ra
rằng sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn
nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách
ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển,
thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ.
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia
đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò
nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật. Cùng với các ban ngành đoàn thể trong ngành y
tế, công tác giáo dục đào tạo để tạo ra đội ngũ y bác sĩ, những cán bộ y tế có trình độ
cao, có đạo đức nghề nghiệp đã góp phần to lớn hoàn thành các nhiệm vụ chiến lược

ĐHYTCC, nguồn lực thông tin y tế là nguồn tin quý giá nhất. Các thông tin y tế rất
đa dạng và phong phú được trình bày cả ở dạng truyền thống và dạng điện tử. Tuy
nhiên, để đưa những thông tin này đến được với người dùng tin là vô cùng khó nhưng
các thư viện phải làm cho được để đáp ứng nhu cầu của người dùng tin. Trong những
năm qua, TT TT-TV trường ĐHYTCC đã xây dựng và bước đầu đưa vào phục vụ
những nguồn tin y tế đáp ứng nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu của nhà trường.
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Trung tâm và khai thác có hiệu quả
các nguồn thông tin y tế hiện có, tôi đã lựa chọn đề tài “Tổ chức và khai thác nguồn
lực thông tin y tế tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Y tế công
cộng” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Với đề tài này, tôi hy vọng sẽ nghiên cứu để
hoàn thiện công tác tổ chức và khai thác các nguồn lực thông tin y tế hiện có và đề
xuất một số giải pháp để tổ chức và khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn lực thông
tin y tế tại Trung tâm.

12
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin đã có một số đề tài
nghiên cứu của các tác giả thực hiện.
Trong luận văn “Tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin - thư viện Đại học
Thái Nguyên”, tác giả Hà Thị Thu Hiếu đã chỉ ra các kênh chuyển giao thông tin là
kênh văn bản và kênh điện tử để từ đó tổ chức khai thác nguồn lực thông tin của Đại
học Thái Nguyên về các lĩnh vực như nông lâm, kỹ thuật công nghiệp…
Nghiên cứu “Tổ chức và khai thác nguồn tư liệu chiến tranh hoá học tại Ban 10
- 80, trường Đại học Y Hà Nội”, tác giả Trần Thị Hảo đã khái quát về nguồn tư liệu
chiến tranh hoá học và phạm vi ứng dụng của nguồn tài liệu này để tổ chức và khai
thác sử dụng.
Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Nhung có luận văn nghiên cứu đề tài “Tổ chức và khai
thác nguồn lực thông tin ở Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Y Hà Nội” đã chỉ
ra các biện pháp để tăng cường tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin là phải đẩy
mạnh hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin.

tin thì nguồn lực thông tin cần phải quan tâm phát triển. Đối với TT TT-TV trường
ĐHYTCC, nguồn lực thông tin y tế phải được chú trọng.
Trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường ĐHYTCC, TT
TT-TV của trường là trung tâm học liệu nơi cung cấp những nguồn tài liệu phục vụ
giảng viên và sinh viên nhà trường. Nếu tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế
tốt và có hiệu quả thì công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học sẽ được nâng cao.
Nguồn lực thông tin y tế phong phú sẽ được khai thác có hiệu quả và tuyên truyền
rộng rãi trong các cán bộ trong ngành y tế. Với điều kiện con người và cơ sở vật chất
sẵn có, TT TT-TV trường ĐHYTCC sẽ tổ chức và khai thác được nguồn lực thông tin

14
y tế để phục vụ cho cán bộ giảng viên và sinh viên trường ĐHYTCC, đóng góp
chung vào sự phát triển của nhà trường.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu
Tại TT TT-TV trường ĐHYTCC, toàn bộ nguồn lực thông tin tập trung vào lĩnh
vực y tế, không có tài liệu thuộc các lĩnh vực khác.
Luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng công tổ chức và khai thác nguồn lực
thông tin y tế tại TT TT-TV trường ĐHYTCC
 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin
y tế tại TT TT-TV trường ĐHYTCC trong phạm vi thời gian từ năm 2003 đến nay
khi TT TT-TV đã được trang bị phần mềm và từng bước tin học hoá, hiện đại hoá
trong hoạt động của mình.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác
thông tin - thư viện, Luận văn được nghiên cứu, thực hiện dựa trên sự tổng hợp các
phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.

tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Y tế công cộng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y
tế tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Y tế công cộng.

16
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNGTIN Y TẾ
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƢ VIỆN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
1.1. Các vấn đề chung về tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế
1.1.1. Nguồn lực thông tin
 Nguồn tin
Ngày nay, trong hoạt động TT-TV, cùng với thuật ngữ “vốn tài liệu” là sự xuất
hiện thuật ngữ “nguồn tin”. Ở một khía cạnh nào đó nguồn tin có thể được hiểu là
vốn tài liệu. Nguồn tin tồn tại dưới nhiều vật mạng tin và con người có thể khai thác
và sử dụng chúng theo nhiều cách khác nhau và những mục đích khác nhau. Có nhiều
định nghĩa khác nhau về nguồn tin:
Theo nghĩa rộng: nguồn tin tương đương với tiềm lực thông tin. Theo nghĩa này,
nguồn tin bao gồm nguồn tin và các yếu tố khác nhau tạo nên hoạt động thông tin như
cơ sở vật chất, kinh phí và nhân lực.
Theo nghĩa hẹp: nguồn tin được hiểu là khi sử dụng tương đối phù hợp với nhu
cầu tin của nhóm người dùng tin nhất định, được tổ chức quản lý kiểm soát có thể
truy cập và chia sẻ dễ dàng. Nguồn tin bao gồm: các dữ liệu được thể hiện dưới dạng
văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước hoặc
không theo quy ước, các sưu tập kiến thức của con người, những kiến thức của tổ
chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng.
Nguồn tin là phần tích cực của tiềm lực thông tin, được kiểm soát giúp con
người có thể truy cập, tìm kiếm, khai thác sử dụng được và phục vụ cho các mục đích
khác nhau trong hoạt động của con người.


Thông tin y tế là những thông tin mô tả về các yếu tố liên quan đến sức khỏe con
người và cộng đồng. Thông tin y tế có thể mô tả các lĩnh vực khác nhau trong ngành y tế
và cả những lĩnh vực ngoài ngành y tế có liên quan với y tế.
Nguồn lực thông tin y tế là các thông tin y tế đã được quản lý, kiểm soát phục vụ
phát triển.
1.1.2.3. Vai trò của nguồn lực thông tin y tế
Nguồn lực thông tin y tế có vai trò quan trọng trong hệ thống y tế. Nó cung cấp
bằng chứng kịp thời, đầy đủ, chính xác, thích hợp cho các nhà lãnh đạo, quản lý các
chương trình, các hoạt động y tế để họ đưa ra những quyết định đúng đắn.
Nguồn lực thông tin y tế được sử dụng để phân tích xác định vấn đề, xác định
vấn đề ưu tiên, lựa chọn chiến lược lập kế hoạch chương trình, hoạt động; Thực hiện
và điều hành giám sát; Đánh giá kết quả, hiệu quả; Xây dựng các tiêu chuẩn, chuẩn
mực cho hoạt động
Nguồn lực thông tin y tế rất cần thiết và được sử dụng thường xuyên trong việc
xây dựng kế hoạch công tác cho các cơ sở y tế và cơ quan y tế.
Nguồn lực thông tin y tế là cơ sở cho việc quản lý, giám sát, kiểm tra, theo dõi
thực hiện kế hoạch y tế.
Dựa vào phân tích các thông tin đầu ra để thấy những thành tích đạt được, trên
cơ sở đó động viên, khuyến khích được các cán bộ đang công tác. Đồng thời cũng
phát hiện được những sai lầm, khuyết điểm cần phải sửa chữa làm cho công tác y tế
ngày càng tốt hơn.
Dựa vào nguồn lực thông tin y tế, các nhà quản lý có thể phân tích và đánh
giá các hoạt động y tế. Những đánh giá này sẽ giúp xây dựng các chiến lược, chính
sách và kế hoạch hoạt động thích hợp để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Nguồn lực thông tin y tế giúp cho việc đánh giá hiện trạng sức khỏe, mô hình
bệnh tật, tử vong, đồng thời dự đoán được quy mô, xu hướng phát triển sức khỏe

19
khoa học. Những thông tin về sức khỏe bệnh tật là tư liệu có giá trị, giúp cho các cán
bộ, bệnh tật xảy ra trong tương lai của nhân dân ta một cách tiến hành các chương

1.2. Khái quát về Trƣờng Đại học Y tế công cộng
1.2.1. Lịch sử hình thành và tương lai phát triển
YTCC Việt Nam so với các quốc gia phát triển còn khá non trẻ. Từ ngày thành
lập nước, Việt Nam đã khẳng định Y học dự phòng luôn là ưu tiên hàng đầu, phòng
bệnh hơn chữa bệnh. Trong suốt giai đoạn này y học dự phòng Việt Nam phát triển
chủ yếu theo mô hình của Liên Xô cũ, nhấn mạnh vào công tác phòng và chống các
bệnh truyền nhiễm.
Sự phát triển của ngành YTCC tại Việt Nam gắn liền với sự ra đời của trường
ĐHYTCC mà tiền thân là trường Cán bộ y tế trung ương, được thành lập năm 1956,
là sự kết hợp của hai trường Y sĩ Việt Nam (ra đời năm 1948) và Dược sĩ Việt Nam
(ra đời năm 1952).
Trong giai đoạn đầu từ 1956 đến 1975, trường Cán bộ Y tế Trung ương đã cung
cấp cho đất nước một lượng lớn cán bộ y tế qua đào tạo bổ túc. Cũng thời gian này,
với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF),
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), …, nhiều
chương trình sức khỏe cộng đồng đã được thiết lập như Chương trình tiêm chủng mở
rộng, phòng chống tiêu chảy, phòng chống suy dinh dưỡng, dân số và kế hoạch hóa
gia đình … Những hoạt động đa dạng như vậy dần dần đòi hỏi ngành y tế phải có đội
ngũ làm công tác quản lý được đào tạo chính quy.
Đồng thời, do yêu cầu đổi mới, cập nhật và nâng cao kiến thức cho phù hợp với
sự phát triển của thế giới, ngày 01/10/1976, Thủ tướng Chính phủ đã đổi tên trường
thành Trường Cán bộ quản lý y tế. Từ đó cho đến nay, những chương trình đào tạo

21
chuyên khoa I YTCC đã giúp một số lượng cán bộ ngành y tế có điều kiện tiếp cận
với các chương trình đào tạo về y xã hội học.
Năm 1990, Khoa YTCC đầu tiên được thành lập với sự tham gia của 3 đơn vị:
Trường Cán bộ quản lý y tế, Bộ môn Vệ sinh dịch tễ Trường Đại học Y Hà Nội và
Trung tâm Nhân lực y tế (tiền thân của Viện Chiến lược và chính sách y tế sau này).
Trụ sở Khoa đóng tại Trường cán bộ quản lý y tế.

địa (PHSWOW).
Đặc biệt gần đây, nhà trường còn đứng ra tổ chức những nghiên cứu quy mô lớn,
liên kết với hầu hết các cơ sở giảng dạy y tế trong cả nước và huy động những cựu
học viên cao học tham gia một cách tích cực.
Để giúp cho chuyên ngành YTCC ngày càng phát triển, tạo bước tiến mới cho y
tế Việt Nam, góp phần tích cực vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
trong thời kỳ mới; ngày 26 tháng 4 năm 2001 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định
số 65/2001/QĐ-TTg thành lập trường Đại học Y tế công cộng. Từ đây, một trang mới
của trường nói riêng và ngành YTCC Việt Nam nói chung đã được mở ra, hướng tới
việc đào tạo một đội ngũ những người thực hiện chức năng YTCC một cách chính
quy và chất lượng.
Tháng 5 - 2008, trường ĐH YTCC đã chính thức là thành viên của hệ thống đào
tạo sức khỏe quốc tế của Châu Âu (TropEd). Với cơ sở vật chất khang trang, nhà
trường sẵn sàng phục vụ đón tiếp sinh viên quốc tế từ hệ thống đào tạo TropEd tới
học tập và nghiên cứu.
Bên cạnh đó, nhà trường đã và đang trao đổi sinh viên với các trường YTCC nổi
tiếng trên thế giới như Tulane, Emory, Berkely, Johns Hopkins, và các trường khác.
Được sự cho phép của Chính phủ, với sự hỗ trợ của Tổ chức từ thiện Đại Tây
Dương (Atlantic Philanthropies), nhà trường sẽ xây dựng thêm cơ sở 2 tại Hà Nội với

23
tổng diện tích mặt bằng 9000m2. Đây sẽ là cơ sở đào tạo hiện đại và qui mô nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về chất lượng giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa
học và các dịch vụ của nhà trường.
Với những đóng góp của mình vào sự phát triển chung của ngành y tế nói chung
và YTCC nói riêng, ngày 26/4/2011, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập, Trường
ĐHYTCC đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất do Nhà nước trao
tặng.
1.2.2. Chức năng nhiệm vụ
1.2.2.1. Chức năng

- Xây dựng các dịch vụ tư vấn có chất lượng có thể cung ứng cho cả trong nước
và quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng chính sách dựa trên kết quả nghiên
cứu, ưu tiên cho việc giúp chính phủ chỉ đạo giải quyết các vấn đề HIV/AIDS
và gánh nặng bệnh tật ở tầm vĩ mô
1.2.2.2. Nhiệm vụ của nhà trường
 Nhiệm vụ chung
- Đào tạo cán bộ y tế trình độ đại học.
- Nghiên cứu khoa học phục vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng.
 Các nhiệm vụ cụ thể
Trường được quyền tự chủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo
phân cấp của Bộ Y tế và tự chịu trách nhiệm trước Bộ Y tế, Bộ Giáo dục - Đào tạo và
trước pháp luật về các hoạt động của mình.

25
Trường có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường trình Bộ Y tế
phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch sau khi đã được phê duyệt.
Về hoạt động đào tạo:
Được mở các chuyên ngành đào tạo đại học và đào tạo sau đại học đã được phê
duyệt trong Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trường; được kiến nghị với Bộ Giáo
dục và Đào tạo mở thêm các chuyên ngành đã có trong danh mục chuyên ngành đào
tạo của Nhà nước và mở thí điểm các ngành đào tạo mới, khi xã hội có nhu cầu, theo
quy định về điều kiện mở ngành đào tạo đại học, chuyên ngành đào tạo sau đại học.
Tổ chức tuyển sinh theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tổ chức xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy và học tập cho các
chuyên ngành đào tạo của trường trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành. Tổ chức biên soạn, duyệt và thẩm định các giáo trình theo chuyên
ngành và các tài liệu giảng dạy, học tập của trường.
Tiến hành các hoạt động đào tạo trong phạm vi ngành nghề, trình độ đào tạo,
chỉ tiêu tuyển sinh và phương thức đào tạo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status