- 1 -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
TRẦN THU THUỶ
ỨNG DỤNG HỆ QUẢN TRỊ THƢ VIỆN TÍCH HỢP LIBOL
6.0 TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƢ VIỆN TRƢỜNG
ĐẠI HỌC HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƢ VIỆN
HÀ NỘI – 2012
HÀ NỘI – 2012 - 3 -
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
NỘI DUNG 14
CHƢƠNG 1 : THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI VỚI QUÁ
TRÌNH TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG HỆ QUẢN TRỊ THƢ VIỆN
TÍCH HỢP LIBOL 14
1.1 Khái quát về Thư viện trường Đại học Hà Nội 14
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 14
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện 16
1.1.3 Cơ cấu tổ chức 17
1.1.4 Đặc điểm vốn tài liệu 18
1.1.5 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 20
1.2 Quá trình triển khai ứng dụng phần mềm Hệ quản trị thư viện tích
hợp Libol tại Thư viện Đại học Hà Nội 23
1.2.1 Khái niệm Hệ quản trị thư viện Tích hợp 23
1.2.2 Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 24
1.2.3 Quá trình triển khai ứng dụng Hệ quản trị thư viện tích hợp
Libol 5.5 tại Thư viện Đại học Hà Nội 29
1.2.4 Nâng cấp ứng dụng phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Đại học
Hà Nội 31
CHƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG HỆ QUẢN TRỊ THƢ
VIỆN TÍCH HỢP LIBOL 6.0 TẠI THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
HÀ NỘI 35
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ứng dụng phần mềm Libol
6.0 tại Thư viện Đại học Hà Nội 35
- 5 -
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
CNTT Công nghệ thông tin
CBTV Cán bộ thư viện
CSDL Cơ sở dữ liệu
ĐKCB Đăng ký cá biệt
HQTTVTH Hệ quản trị thư viện tích hợp
KHCN Khoa học công nghệ
NCT Nhu cầu tin
NDT Người dùng tin
TT – TV Thông tin – Thư viện
AACR2 Anglo – American Cataloging Rules, second edition
(Quy tắc biên mục Anh – Mỹ. Xuất bản lần thứ 2)
CDS/ISIS Computer Documentation System/Intergreter Set of
Information System
DDC Dewey Decimal Classification (Khung phân loại
thập phân Dewey)
ILL Inter – Library Loans (Mượn liên thư viện)
ISBD International Standard Bibliographic Description
(Mô tả thư tịch theo chuẩn quốc tế)
ISO 2709 Phân loại tiêu chuẩn khổ mẫu trao đổi thông tin
ISO 10161 Chuẩn các giao thức thông tin thư viện cho trao đổi
văn bản ảo
HTML Hyper Text Markup Language (Ngôn ngữ hiện thị
siêu văn bản)
OPAC Online Public Access Catalogue (Mục lục tra cứu
trực tuyến).
PDF Portable Document Format (Định dạng tài liệu di
CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Mô hình mối quan hệ giữa các phân hệ
Hình 1.2: Giao diện của phần mềm Libol 5.5
Hình 1.3: Giao diện của phần mềm Libol 6.0
Hình 2.1 : Giao diện của cơ sở dữ liệu Proquest
Hình 2.2 : Giao diện Website của Thư viện
Hình 2.3 : Màn hình Biên mục sơ lược
Hình 2.4 : Màn hình Báo cáo bổ sung
Hình 2.5 : Mã vạch (ĐKCB của sách)
Hình 2.6 : Màn hình Thống kê ấn phẩm
Hình 2.7 : Màn hình Đóng kho
Hình 2.8 : Màn hình chờ biên mục chi tiết
Hình 2.9 : Màn hình kết quả tìm kiếm qua Z39.50
Hình 2.10 : Màn hình Nhập thẻ bạn đọc
Hình 2.11 : Màn hình những ấn phẩm mượn quá hạn
Hình 2.12 : Thẻ bạn đọc
Hình 2.12 : Màn hình Phân hệ OPAC
Hình 2.14 : Màn hình tìm đơn giản tài liệu in
Hình 2.15 : Màn hình kết quả tìm kiếm đơn giản
Hình 2.16 : Màn hình Kết quả tìm kiếm
Hình 2.17 : Màn hình của phân hệ ấn phẩm định kỳ
Hình 2.18 : Màn hình Phân hệ sưu tập số
Hình 2.19 : Màn hình Quản lý tư liệu điện tử
Hình 2.20 : Màn hình Quản lý dữ liệu điện tử
Hình 2.21 : Giao diện tìm kiếm
Hình 2.22 : Màn hình kết quả tìm kiếm tài liệu điện tử
Hình 2.23: Màn hình tìm kiếm toàn văn
- 8 -
Bảng 1: Số lượng tài liệu dạng sách
- 9 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đã và đang chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của công
nghệ thông tin và truyền thông, cái đang tạo ra những sự thay đổi mạnh mẽ
trên thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Sự phát triển này là tiền đề cho
việc hình thành và phát triển một mô hình xã hội mới: xã hội thông tin với
kinh tế tri thức. Trong bối cảnh đó, công tác thông tin – thư viện cũng đã và
đang có những biến đổi sâu sắc trong mọi hoạt động của mình. Chính vì vậy,
ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa các cơ quan thông tin thư viện đã
và đang trở thành mục tiêu chiến lược phát triển của sự nghiệp Thông tin –
thư viện Việt Nam. Chỉ thị số 58-CT/TƯ về đẩy mạnh công nghệ thông tin
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó khẳng định: “Ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt, đón đầu, rút ngắn
khoảng cách phát triển so với các nước đi trước.”
Hoạt động thông tin – thư viện đại học là một lĩnh vực hoạt động quan
trọng, sử dụng một đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ đặc thù, một hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật đặc biệt, có những tác động to lớn và quyết định
đến toàn bộ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý của trường đại
học. Nhu cầu đổi mới toàn diện hoạt động giáo dục – đào tạo và nghiên cứu
khoa học đang đặt ra trước các thư viện đại học những cơ hội và thách thức
vô cùng to lớn, đòi hỏi công tác thư viện đại học phải thay đổi và cải tiến
không ngừng. Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới cơ bản và
từ đó nâng cao hiệu quả công tác thư viện. Với những lý do trên, tôi đã chọn
đề tài: “Ứng dụng Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 6.0 tại Trung tâm
- 11 -
Thông tin – Thư viện trường Đại học Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ
khoa học thư viện của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về vấn đề ứng dụng phần mềm Libol đã có nhiều luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Thư viện học thực hiện.
- Luận văn cao học Khảo sát việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích
hợp Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
(2006) của tác giả Chu Văn Khánh.
- Luận văn cao học Nghiên cứu nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm
Libol 5.0 tại Thư viện trường Đại học Xây dựng Hà Nội (2008) của tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Anh.
- Luận văn cao học Khảo sát ứng dụng phần mềm Libol 6.0 tại Trung
tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Kinh tế quốc dân (2011) của tác giả
Phạm Thị Thanh Mai.
- Luận văn cao học Nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin
tại thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (2011) của tác giả Tạ Thị Mỹ
Hạnh.
Ngoài ra, còn có một số các khoá luận, các bài báo được đăng trên các
tạp chí chuyên ngành, trên các Website,…Các công trình nghiên cứu này đi
sâu và khảo sát, phân tích thực trạng ứng dụng phần mềm. Trên cơ sở đó các
tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm
ở các đơn vị mà tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên, mỗi một người nghiên cứu
đều có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau. Căn cứ vào các đặc thù
của mỗi đơn vị người nghiên cứu có thể đưa ra các giải pháp hợp lý và phù
hợp.
Chọn đề tài: “Ứng dụng Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 6.0 tại
- 13 -
Thư viện là một thiết chế văn hoá xã hội, do vậy, luận văn sử dụng cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết
hợp với các quan điểm chỉ đạo, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
về phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và công tác văn thư.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu.
- Quan sát khoa học.
- Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp.
6. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Trên cơ sở khảo sát và phân tích thực trạng ứng dụng Hệ quản trị thư
viện tích hợp Libol 6.0 tại Thư viện trường Đại học Hà Nội tiến tới đánh giá
khả năng đáp ứng của phần mềm đối với các yêu cầu về nghiệp vụ, đưa ra các
giải pháp khắc phục tồn tại từ đó nâng cao hiệu quả công tác thư viện tại Thư
viện. Bên cạnh đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho giảng viên và
sinh viên khi nghiên cứu về vấn đề này.
7. Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Thư viện trường Đại học Hà Nội với quá trình triển khai
ứng dụng phần mềm Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng phần mềm Hệ quản trị trị thư viện tích
hợp Libol 6.0 tại Thư viện Đại học Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng Hệ quản trị thư viện
tích hợp Libol 6.0 tại Thư viện Đại học Hà Nội.
- 14 -
Tiệp Khắc, tiếng Bungari…). Nguồn tài liệu chủ yếu là sách tài trợ, tặng biếu
của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Năm 1967, trước yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo và nâng cao chất
lượng giảng dạy, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã mở thêm một số
chuyên ngành như: tiếng Anh, tiếng Pháp. Cùng với việc thành lập thêm một
số khoa và bộ môn, vốn tư liệu tăng lên đáng kể. Đến năm 1984, lãnh đạo nhà
trường quyết định tách tổ tư liệu ra khỏi phòng giáo vụ thành một đơn vị độc
lập với tên gọi là: “Thư viện trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội”. Sau khi tách
thành đơn vị độc lập, năm 1994 Thư viện đã xây dựng mới được toà nhà 2
tầng, vốn tài liệu ngày càng nhiều, phần nào đáp ứng được yêu cầu về tư liệu
cho công tác đào tạo của trường. Trong quá trình hoạt động, Thư viện đã
không ngừng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới hoàn thiện tổ chức và
hoạt động, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ.
Năm 2000 với việc đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng
cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, Ban Giám
hiệu trường quyết định sáp nhập Thư viện với phòng Thông tin và đổi tên
thành “Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội”.
Thư viện thực hiện dự án nâng cấp hiện đại theo hướng mở, bằng nguồn vốn
vay của Ngân hàng thế giới WB (World Bank) mức A vốn đầu tư 500.000
USD để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật trụ sở, trang thiết bị.
Ngày 5/12/2003 Thư viện đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và không
ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị. Đặc biệt, năm 2003 Thư viện
bắt đầu tiến hành ứng dụng phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để nâng
cao hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện. Tháng 1 năm 2011 Thư viện đã
nâng cấp phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol từ phiên bản 5.5 lên phiên
- 16 -
bản 6.0. Hiện nay, Thư viện đã đi vào hoạt động ổn định và từng bước hiện
đại, ngày càng đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của trường Đại học Hà Nội
nói riêng và của ngành giáo dục đào tạo của nước ta nói chung trong thời đại
ninh, môi trường, 2 cộng tác viên. Thư viện với một đội ngũ cán bộ thư viện
trẻ, dễ dàng tiếp thu những cái mới, có trình độ chuyên môn ngày càng được
nâng cao, có khả năng nắm bắt nhanh sự phát triển của khoa học kỹ thuật, biết
sử dụng thành thạo các trang thiết bị của Thư viện, có tinh thần thái độ phục
vụ nhiệt tình, biết tư vấn, hướng dẫn thông tin cho NDT.
Thư viện được xây dựng với mô hình tương đối hoàn chỉnh và khoa
học, dựa trên nguyên tắc hệ thống và linh hoạt, đảm bảo cho Thư viện thực
hiện việc cung cấp thông tin. Cơ cấu tổ chức của Thư viện hiện tại được bố trí
theo chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận, bao gồm:
Ban Giám đốc: Gồm 2 Phó giám đốc, có nhiệm vụ tổ chức và quản lý
điều hành toàn bộ các hoạt động của Thư viện.
Bộ phận phục vụ thông tin thư viện (Library Services Section): Trực
phục vụ đọc, mượn trả, hướng dẫn tìm kiếm, tra cứu sách, báo, tạp chí, băng
đĩa.
Bộ phận phục vụ thông tin điện tử và nghiệp vụ kỹ thuật (E-Information
Services Section): Mạng máy tính, phần mềm học ngoại ngữ qua mạng, cơ sở
dữ liệu mạng, in ấn, nhân bản, biên tập, sửa chữa bảo dưỡng, vận hành thiết bị
kỹ thuật.
Bộ phận nghiệp vụ thư viện (Library Resource Processing Section): Bổ
sung tư liệu, biên mục, biên tập, sưu tầm, tìm kiếm thông tin tư liệu theo yêu
cầu, thanh sát tư liệu, quản lý bạn đọc.
Bộ phận tiếp nhận và trả lời thông tin (Information Desk).
- 18 -
Bộ phận An ninh giám sát và Môi trường (Security & Cleaning
Section).
Sau đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện thông tin – thư viện Đại
học Hà Nội:
Bộ phận
phục vụ
TT - TV
Bộ phận
nghiệp
vụ kỹ
thuật
Bộ phận
phục vụ
TT điện
tử
- 19 -
thứ tiếng khác nhau như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Hàn Quốc,
tiếng Nhật, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha… Ngoài ra, Thư viện còn có nhiều tài
liệu giáo trình bằng tiếng Việt để phục vụ cho bạn đọc trong quá trình học tập
tiếng nước ngoài.
Hiện trạng vốn tài liệu của Thư viện được thể hiện ở bảng sau :
STT
Kho
Tổng số đầu
ấn phẩm
Tổng số
bản ấn phẩm
1
Tiếng Anh
5295
7926
2
Tiếng Pháp
10
Lưu trữ
1718
3324
11
Tài liệu nội sinh
821
956
12
Tra cứu
200
265
13
Tiếng Việt
4026
6672
14
Tài liệu nghiệp vụ TV
41
73
15
Sách chuyên ngành
1811
2892
TỔNG CỘNG
18242
28532
Bảng 1: Số lượng tài liệu dạng sách
trị kinh doanh, tài chính, thương mại, ngân hàng, kế toán…
1.1.5 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
Qua khảo sát thực tế có thể chia nhóm đối tượng NDT tại Trường Đại
học Hà Nội làm 3 nhóm chính sau:
Nhóm 1: Người dùng tin là cán bộ quản lý
Nhóm 2: Người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy
Nhóm 3: Người dùng tin là sinh viên, học viên cao học
Với những đặc điểm riêng của từng nhóm đối tượng như trên để làm tốt
công tác phục vụ thông tin thư viện, chúng ta phải xem xét, đánh giá nhu cầu
tin của họ, trên cơ sở đó có những giải pháp hữu hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu
tin của người dùng tin.
Nhóm NDT là cán bộ quản lý: Bao gồm ban giám đốc, các trưởng
phòng, trưởng ban. Họ vừa tham gia vào nghiên cứu, giảng dạy vừa làm công
- 21 -
tác quản lý, là người đề ra mục tiêu, định hướng phát triển của nhà trường.
Nhóm người dùng tin này thường có rất ít thời gian đến để khai thác tài liệu ở
Thư viện. Do đó, thông tin để phục vụ nhóm đối tượng này cần được cung
cấp đến tận nơi ở hoặc nơi làm việc của họ.
Đặc điểm nhu cầu tin:
+ Cần thông tin chung về các vấn đề như nguồn nhân lực, nguồn tài
chính, mối quan hợp tác với bên ngoài, các thành tựu đạt được trong nghiên
cứu khoa học, thông tin về cơ cấu tổ chức…
+ Thông tin cung cấp cần đảm bảo tính chính xác, logic.
+ Đảm bảo tính kịp thời của thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết
định của họ.
Nhóm NDT là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy: Đây là nhóm người dùng
tin có nhu cầu cao và bền vững vì thông tin là tiềm năng hoạt động khoa học
và giảng dạy của họ. Trường Đại học Hà Nội là trường đào tạo đa ngành,
nhưng phần lớn vẫn là đào tạo ngoại ngữ, vì vậy nhu cầu tin của nhóm này tập
nhưng chủ yếu dưới dạng tài liệu in ấn.
Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới phương pháp giảng dạy với
quan điểm lấy người học làm Thư viện, nâng cao tính tích cực, chủ động của
người học đã khiến nhóm người dùng tin này ngày càng có nhiều biến chuyển
về phương pháp học tập. Lúc này thư viện được xem là “giảng đường thứ
hai”, là kênh thông tin quan trọng giúp người học nắm bắt và làm chủ tri thức.
Nhu cầu tự học, tự nghiên cứu đã và đang thu hút được sự quan tâm của sinh
viên. Từ đây cũng đặt ra cho Thư viện nhiệm vụ và yêu cầu mới. - 23 -
1.2 Quá trình triển khai ứng dụng phần mềm Hệ quản trị thƣ viện tích
hợp Libol tại Thƣ viện Đại học Hà Nội
1.2.1 Khái niệm Hệ quản trị thư viện tích hợp
Hiện nay, khi triển khai các ứng dụng tin học trong hoạt động TT – TV
có hai loại phần mềm chuyên dụng thường được sử dụng là: Phần mềm tư liệu
và Phần mềm tích hợp quản trị thư viện.
Phần mềm tư liệu: là phần mềm dùng để quản lý, lưu trữ, và tìm kiếm
tài liệu, đồng thời tạo ra các sản phẩm thông tin thư mục. Đối tượng quản lý
của phần mềm tư liệu là các tài liệu như: sách, báo, tạp chí, các bài
trích,…CSDL được tạo ra bới phần mềm tư liệu là CSDL thư mục. Đó chính
là bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa. Ví dụ như phần mềm CDS/ISIS là
một trong những phần mềm tư liệu rất hữu hiệu trong khâu tùy biến xây dựng
CSDL và tìm kiếm thông tin.
Tuy nhiên, ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và viễn thông,
sự xuất hiện Internet, thì phần mềm tư liệu không còn phù hợp nữa. Thực tế
hoạt động thông tin – thư viện đòi hỏi cần có phần mềm quản trị thư viện
mạnh hơn có khả năng quản lý hàng triệu biểu ghi, quản trị các định dạng số
của tài liệu (âm thanh, toàn văn, hình ảnh), có khả năng khai thác trực tuyến
và chia sẻ thông tin, đặc biệt có khả năng tự động hóa quy trình dây chuyền
sung, biên mu
̣
c , quản lý kho , quản lý bạn đọc , quản lý việc mươ
̣
n tra
̉
, xư
̉
ly
́
thông tin, báo cáo thống kê, phân quyền ba
̉
o mâ
̣
t .
Nhm người sử dụng : thực hi ện các chức năng khai thác thông tin
giúp người sử dụng có thể tìm kiếm , đo
̣
c ta
̀
i liê
̣
u va
̀
yêu cầu sư
̉
du
̣
góp tích cực của Libol cho xã hội. Nhiều năm liền Libol nhận được Cúp vàng
tại các tuần lễ tin học Việt Nam. Libol tiếp tục nhận giải thưởng Sao Khuê
2005 cho phần mềm giáo dục xuất sắc nhất.
Libol có thể được triển khai trên nhiều mô hình thư viện khác nhau.
Các thư viện này có thể là thư viện đóng hoặc mở, là những thư viện truyền
thống, thư viện công cộng, thư viện của các trường đại học, các Thư viện
thông tin, các thư viện chuyên ngành cho đến những thư viện điện tử quy
mô lớn.
Libol gồm các phân hệ được tích hợp trong một cơ sở dữ liệu chung và
có cơ chế vận hành thống nhất. Từ mọi điểm trong chương trình, người dùng
luôn luôn có thể hoán chuyển vị trí làm việc giữa các phân hệ. Các phân hệ
mới sẽ được tiếp tục cập nhật thêm vào chương trình và các phân hệ hiện có
cũng sẽ luôn được cập nhật để đáp ứng được những nhu cầu thực tế của thư
viện cũng như tận dụng được những công nghệ mới của ngành công nghệ
thông tin.
Libol có khả năng quản lý được các loại ấn phẩm đa dạng với số lượng
lớn, có thể tới hàng triệu bản ghi.
Libol hỗ trợ đa ngữ, hỗ trợ tiếng Việt một cách đầy đủ (cho phép tìm
kiếm và sắp xếp theo bảng chữ cái và các dấu tiếng Việt). Libol hỗ trợ
Unicode.