Ứng dụng Hệ quản trị thư viện tích hợp
Libol 6.0 tại Trung tâm Thông tin - Thư viện
trường Đại học Hà Nội
Trần Thu Thủy
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Thông tin - Thư viện
Chuyên ngành: Khoa học Thư viện; Mã số: 60 32 20
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đoàn Phan Tân
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Tìm hiểu về thư viện trường Đại học Hà Nội với quá trình triển
khai ứng dụng phần mềm Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol. Khảo sát,
phân tích thực trạng và kết quả triển khai ứng dụng Libol 6.0 tại Thư viện
trường Đại học Hà Nội. Đưa ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất
những giải pháp khắc phục nhược điểm nhằm nâng cao hiệu quả s ử dụng
phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện trường Đại học Hà Nội.
Keywords. Khoa học thư viện; Hệ quản trị thư viện; Quản trị; Phần mềm
thư viện
Content.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Quá trình tin học hoá thư viện ngày càng phát triển mạnh
- Quản lý thư viện theo phương thức truyền thống có rất nhiều hạn chế: tốn kém, mất thời gian,
hiệu quả đạt được lại không cao.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, mặt tồn tại, đưa ra những
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 6.0 tại Thư viện trường
Đại học Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu
Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Hà Nội.
CHƢƠNG 1 :
THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI VỚI QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG
HỆ QUẢN TRỊ THƢ VIỆN TÍCH HỢP LIBOL
1.1 Khái quát về Thƣ viện trƣờng Đại học Hà Nội
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Hà Nội, tiền thân là trường Đại học Ngoại ngữ, được thành lập năm 1959.
Thư viện Đại học Hà Nội ra đời ngay sau khi trường Đại học Hà Nội được thành lập.
Năm 2003 Thư viện bắt đầu tiến hành ứng dụng phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để
nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện. Tháng 1 năm 2011 Thư viện đã nâng cấp phần mềm
quản trị thư viện điện tử Libol từ phiên bản 5.5 lên phiên bản 6.0.
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện
Thư viện trường Đại học Hà Nội có nhiệm vụ thu thập, bổ sung, trao đổi thông tin tư liệu cần
thiết, tiến hành xử lý, cập nhật dữ liệu đưa vào hệ thống quản lý và tìm tin tự động. Tổ chức cơ sở hạ tầng
thông tin. Phục vụ thông tin tư liệu cho bạn đọc là cán bộ, giảng viên, sinh viên trong công tác giảng dạy,
nghiên cứu và học tập. Hướng dẫn giúp người dùng tin tiếp cận cơ sở dữ liệu và khai thác các nguồn tin
trên mạng.
1.1.3 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Thư viện hiện tại được bố trí theo chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận,
bao gồm:
- Ban Giám đốc
- Bộ phận phục vụ thông tin thư viện
- Bộ phận phục vụ thông tin điện tử và nghiệp vụ kỹ thuật
- Bộ phận tiếp nhận và trả lời thông tin (Information Desk).
- Bộ phận An ninh giám sát và Môi trường (Security & Cleaning Section).
1.1.4 Đặc điểm vốn tài liệu
Bao gồm tài liệu dạng sách và tài liệu điện tử.
Tài liệu dạng sách: Tổng số bản ấn phẩm là 28532, Tổng số đầu ấn phẩm là 18242.
Tài liệu điện tử: Tổng số biểu ghi là 67857
từ xa, quản lý bạn đọc, quản lý lưu thông tài liệu, quản lý kho, trao đổi thông tin thư mục với các đơn vị
khác.
1.2.2 Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol
Libol ( Library OnLine) là bộ phần mềm giải pháp thư viện điện tử - thư viện số được Công ty
Công nghệ tin học Tinh Vân phát triển từ năm 1997.
Các tính năng nổi bật của phần mềm Libol 6.0:
- Hỗ trợ chuẩn biên mục MARC 21, AACR-2, ISBD.
- Hỗ trợ các khung phân loại thông dụng như DDC, BBK, NLM, LOC, UDC, hỗ trợ đề mục
chủ đề (subject headings).
- Nhập/xuất dữ liệu theo chuẩn ISO 2709.
- Liên kết với các thư viện và tài nguyên thông tin trực tuyến trên Internet qua giao thức
Z39.50 và OAI-PMH.
- Mượn liên thư viện theo giao thức ISO 10161.
- Tích hợp với các thiết bị mã vạch, thẻ từ và RFID .
- Tích hợp với các thiết bị mượn trả tự động theo chuẩn SIP 2.
- Hỗ trợ đa ngữ Unicode với dữ liệu và giao diện làm việc.
- Hỗ trợ các bảng mã tiếng Việt như TCVN, VNI, TCVN 6909.
- Công cụ xây dựng, quản lý và khai thác kho tài nguyên số.
- Xuất bản các CSDL hoặc thư mục trên đĩa CD.
- Tìm kiếm toàn văn.
1.2.3 Quá trình triển khai ứng dụng Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 tại Thư viện
Đại học Hà Nội
Năm 2003, Thư viện đã ứng dụng và triển khai phần mềm Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5
để nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện.
Việc ứng dụng phần mềm Libol 5.5 tại Thư viện Đại học Hà Nội đã có những thuận lợi đáng kể
nhưng cũng không thể không có những khó khăn phức tạp. Phần mềm được phát triển do công ty Tinh
Vân cung cấp hỗ trợ, nó ra đời năm 1997 nhưng đến tận năm 2001 mới được đưa vào ứng dụng rộng rãi.
Trong quá trình triển khai ứng dụng tại các đơn vị, phần mềm Libol bộc lộ một số hạn chế (bên cạnh
những tính năng rất thông dụng còn có những tính năng không cần thiết) nên phần mềm này đã được
chỉnh sửa trên từng phân hệ. Đó cũng chính là lý do, từ tháng 1 năm 2011 Thư viện trường Đại học Hà
2.1.3 Nguồn tin điện tử
Nguồn tin miễn phí: đó là các nguồn tin trên mạng do các cơ quan thuộc chính phủ hay các cơ
quan lợi nhuận xuất bản cung cấp.
Nguồn tin ngoại sinh: Đây là nguồn có giá trị thông tin cao, độ chính xác tin cậy. Năm 2009, Thư
viện trường Đại học Hà Nội đã mua CSDL toàn văn Proquest Central.
Nguồn tin nội sinh: Bên cạnh việc tổ chức và phát triển nguồn tin nội sinh thông qua việc củng
cố, tăng cường công tác thu thập, lưu giữ, xử lý và phổ biến thông tin, Thư viện cũng đã tiến hành số hoá
tài liệu đưa vào nguồn tài nguyên.
Để tạo điều kiện cho người dùng tin có thể truy cập các nguồn tin từ mọi lúc, mọi nơi. Thư viện
đã đưa toàn bộ nguồn tin điện tử trên website của Thư viện. Người dùng có thể tìm kiếm và khai thác
nhiều nguồn thông tin qua địa chỉ: http://lic.hanu.vn.
2.2 Thực trạng ứng dụng các phân hệ của Libol 6.0
2.2.1 Thực trạng ứng dụng phân hệ Bổ sung
Hiện nay Thư viện chỉ sử dụng 3 nhóm chức năng là bổ sung, kho và thống kê.
Nhận xét:
Ưu điểm: Tiết kiệm thời gian và công sức cho cán bộ thư viện
Nhược điểm:
- Tiêu chí thống kê chưa phù hợp.
- In mã vạch theo khoảng ĐKCB nhiều hơn 10 chữ số thì chương trình bị lỗi.
- Cán bộ thư viện không chủ động được công việc phải phụ thuộc vào nhà cung cấp phần
mềm.
2.2.2 Thực trạng ứng dụng phân hệ Biên mục
Nhận xét:
Ưu điểm : Công tác biên mục đã được chuẩn hoá về nội dung và hình thức.
Nhược điểm:
- Không cho phép nhập mã ISBD 13 chữ số.
- Báo cáo biểu ghi không chính xác.
2.2.3 Thực trạng ứng dụng phân hệ Lưu thông tài liệu
Để hỗ trợ cho công tác ghi mượn, Thư viện sử dụng công nghệ mã vạch tích hợp với Libol. Toàn
bộ thông tin về mượn trả tài liệu của bạn đọc được định danh thông qua mã vạch, kết hợp với phần mềm
- Chức năng Tìm tin theo từ khoá và nhan đề đôi khi cho kết quả không chính xác.
2.2.6 Thực trạng ứng dụng phân hệ Quản lý ấn phẩm định kỳ
Nhận xét:
Ưu điểm: Phân hệ ấn phẩm định kỳ giúp Thư viện theo dõi, quản lý các số xuất bản của của ấn
phẩm được cập nhật vào Thư viện một cách chặt chẽ và thuận tiện.
Nhược điểm: - Phần mềm không cho phép kết nối mục lục của tạp chí (tạp chí online) thông qua
trang web của các nhà xuất bản mà phải nhập lại dữ liệu mục lục rất mất thời gian.
- Khi thống kê theo tiêu chí “những ÂPĐK thiếu trong khoảng thời gian” không chính xác.
2.2.7 Thực trạng ứng dụng phân hệ Sưu tập số
Việc số hoá tài liệu bắt đầu được tiến hành từ năm 2009. Tính đến nay Thư viện đã tạo lập được
5 bộ sưu tập số bao gồm:
- Bộ sưu tập số các bài trích điện tử.
- Bộ sưu tập số luận văn - luận án.
- Bộ sưu tập số sách điện tử.
- Bộ sưu tập số tài liệu âm thanh.
- Bộ sưu tập số tạp chí điện tử.
Trong đó có 2705 file văn bản, 2284 file âm thanh, 392 file là loại khác.
Nhận xét:
Ưu điểm:
- Khả năng lưu giữ các file điện tử với số lượng lớn.
- Phục vụ tra tìm và sử dụng tài liệu điện tử một cách hiệu quả.
Nhược điểm :
- Bộ sưu tập những file có dung lượng hơn 60MB thì không chạy được.
- Một số chức năng của phân hệ chưa được khai thác sử dụng như: kế toán, đặt mua tài liệu điện
tử…
2.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng hệ quản trị thƣ viện tích hợp Libol 6.0 tại Thƣ viện trƣờng Đại
học Hà Nội.
2.3.1 Những kết quả đạt được
Trong công tác bổ sung tài liệu: Năm 2010 đã tiến hành nhập tài liệu vào chức năng bổ sung đơn
nhận được 1331 đầu ấn phẩm. Đến năm 2011 số tài liệu được nhập vào là 5054 đầu ấn phẩm. Từ đầu năm
3.2 Cùng với nhà cung cấp tiếp tục hoàn thiện phần mềm Libol 6.0
- Thiết kế hệ thống báo cáo, thống kê phù hợp với tình hình hoạt động thực tế tại Thư viện.
- Phần mềm cần được bổ sung thêm chức năng trợ giúp xây dựng bảng tra để có thể in ra một sản
phẩm thư mục đúng với yêu cầu, tiết kiệm được thời gian, công sức cho cán bộ thư viện.
- Thêm chức năng mô tả bài trích báo tạp chí trong phân hệ Ấn phẩm định kỳ.
3.3 Phát triển nguồn thông tin số hoá
- Lập kế hoạch sát sao và ưu tiên đầu tư cho việc thu thập, xử lý và số hoá nguồn tin cơ bản,
nguồn tin tiềm năng của riêng mình.
- Trong việc lựa chọn tài liệu để số hoá, Thư viện phải ưu tiên các tài liệu đặc thù của thư viện,
các tài liệu duy nhất và có giá trị lâu dài để trao đổi.
- Xây dựng các Siêu dữ liệu đối với từng tài liệu và cập nhật tài liệu đã được số hoá này vào
CSDL tương ứng để phục vụ kịp thời.
- Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến chất lượng của việc số hoá tài liệu cũng như cần sao lưu đầy
đủ, kịp thời các tài liệu số hoá đó để tránh rủi ro cũng như tránh phải làm đi làm lại.
3.4 Tăng cƣờng phát triển đội ngũ cán bộ thông tin - thƣ viện có tính chuyên nghiệp cao
Các cán bộ thư viện cần có những kỹ năng:
- Kỹ năng sử dụng các công nghệ đa phương tiện.
- Kỹ năng thu thập và xử lý tài liệu trực tuyến.
- Kỹ năng khai thác dữ liệu và tri thức.
- Kỹ năng tìm tin.
3.5 Đào tạo, hƣớng dẫn ngƣời dùng tin
- Tổ chức các cuộc nói chuyện chuyên đề.
- Tuyên truyền giới thiệu sách mới.
- Đào tạo từ xa, đào tạo qua mạng
- Đưa chương trình kỹ năng thông tin vào chương trình học của sinh viên.
3.6 Trang bị hạ tầng công nghệ thông tin bền vững
- Thư viện cần thiết lập một cơ sở hạ tầng CNTT luôn đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc.
- Bảo trì tốt thiết bị CNTT.
- Tiếp cận công nghệ mới
- Nguồn tài chính vững chắc
[1] Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị về việc
"Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH".
[2] Các tiêu chí kỹ thuật lựa chọn phần mềm thư viện số tích hợp, truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2012, địa
chỉ:
http://saigontmc.edu.vn/multidata/download/76_1253158849_8807182_chuong8CACTIEUCHITH
UVIENTICHHOP.pdf
[3] Cao Minh Kiểm, (2008), “Một số suy nghĩ về tổ chức và hoạt động thông tin thư viện ở Việt Nam
trong giai đoạn sắp tới”, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (1), tr.7-18.
[4] Công ty Tinh Vân (2011), Hướng dẫn sử dụng phần mềm Libol 6.0.
[5] Chu Văn Khánh, (2006), Khảo sát việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 tại Trung tâm
Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội , Luận văn Thạc sĩ Khoa học thư viện, Đại học
Văn hoá, Hà Nội.
[6] Bùi Loan Thuỳ, (2007), “Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
trên lộ trình xây dựng thư viện số”, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (3), tr.25-28.
[7] Đoàn Phan Tân, (2006), Thông tin học, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
[8] Đoàn Phan Tân, (2009), Tin học tư liệu, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
[9] Nguyễn Thị Hạnh, (2007), “Tìm tin trong mục lục trực tuyến : Từ góc độ các đặc điểm tìm tin”, Tạp
chí Thông tin và Tư liệu, (3), tr.14-18.
[10] Hoàng Đức Liên, Nguyễn Hoàng Ty (2009), “Giải pháp xây dựng nguồn học liệu điện tử hướng tới
xây dựng thư viện số tại các trường đại học”, Kỷ yếu hội nghị thư viện các trường đại học, cao
đẳng lần thứ nhất tại Đà Nẵng. tr. 172 – 181
[11] Phạm Thị Thanh Mai, (2011), Khảo sát ứng dụng phần mềm Libol 6.0 tại Trung tâm Thông tin –
Thư viện trường Đại học Kinh tế quốc dân , Luận văn Thạc sĩ Khoa học thư viện, Đại học Văn
hoá, Hà Nội.
[12] Nguyễn Thị Đào, Phan Thị Lý (2006), “Nguồn tin điện tử”, Tạp chí Thư viện Việt Nam, (1), tr.25 -
29.
[13] Ngô Ngọc Chi, (2016), “Hoạt động Thư viện – Thông tin Việt Nam trên đường hội nhập”, Tạp chí
Thư viện Việt Nam, (1), tr.30-34.
[14] Nguyễn Hữu Hùng, (2005), Thông tin từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
[15] Nguyễn Minh Hiệp, “Vấn đề tin học hóa và phần mềm quản lý thư viện”, Truy cập ngày 03/02/2012,
́
a trong hoa
̣
t đô
̣
ng Thông tin - Thư viê
̣
n, Nxb Đa
̣
i
học Quốc gia, Hà Nội.