MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AACR2
:
Quy tắc biên mục Anh – Mỹ ấn bản 2
CNTT
:
Công nghệ thông tin
CSDL
:
Cơ sở dữ liệu
CSDL/ISIS
:
Cơ sở dữ liệu
DDC
:
Khung phân loại thập phân Deway
HQTTVTH
:
Hệ quản trị thư viện tích hợp
ILL
:
Inter – Library loans
ISO 2709
:
Phân loại tiêu chuẩn khổ mẫu trao đổi thông tin
ISO 10161
:
Chuẩn các giao thức thông thư viện cho trao đổi văn bản
ảo
LIBOL
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thế giới đã bước sang thiên niên kỷ mới với nhiều cơ hội, tiềm năng và
những thách thức mới. Biết bao thay đổi đang diễn ra trong đời sống xã hội và kinh
tế thế giới. Đó là thời đại của công nghệ thông tin, Internet và giao lưu trực tuyến,
thương mại điện tử, toàn cầu hoá Sự ảnh hưởng của những xu hướng toàn cầu này
hiển nhiên đang tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, lĩnh vực thông tin-
thư viện không phải là trường hợp ngoại lệ. Thông tin và tri thức đã thực sự trở
thành sức mạnh của nhân loại, là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng của mỗi
quốc gia. Trước tình hình đó, làm thế nào để quản lý nguồn thông tin và đáp ứng
được nhu cầu tin của người dùng tin thực sự trở thành nhiệm vụ cấp thiết, hàng đầu
đối với mỗi cơ quan thông tin – thư viện.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một trường đầu ngành, trọng điểm quốc
gia về lĩnh vực đào tạo các chuyên ngành kinh tế, với số lượng sinh viên, học viên,
nghiên cứu sinh lên tới hơn 45.000 người. Trung tâm Thông tin Thư viện Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân là một đơn vị trực thuộc trường, Trung tâm có nhiệm vụ
tổ chức và quản lý vốn tài liệu phù hợp với diện nghiên cứu , đào tạo của Trường; tổ
chức các hình thức tuyên truyền, giới thiệu các loại hình tài liệu, nâng cao việc sử
dụng có hiệu quả vốn tài liệu thông tin mà Trung tâm quản lý; nghiên cứu ứng dụng
công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý và phục vụ bạn đọc; có kế hoạch từng
bước nâng cấp, hiện đại hoá hoạt động thư viện nhằm tăng cường khả năng lưu trữ,
tìm kiếm, xử lý tư liệu thông tin trong nước và quốc tế. Có thể nói Trung tâm Thông
tin – Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân giữ một vai trò đặc biệt quan
trong trong sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu khoa học và học tập của cán bộ, giáo viên
và sinh viên. Trong thời gian qua, Trung tâm đã được Nhà nước, Bộ Giáo dục và
Đào tạo và Nhà trường dành cho dự án giáo dục mức A và C để nâng cấp, điều này
đã đem lại cho Trung tâm sự thay đối cả về hình thức lẫn nội dung, cả về số lượng
và chất lượng nguồn thông tin, nhằm vươn tới xây dựng thư viện điện tử, phục vụ
ngày càng tốt sự nghiệp đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học của Trường.
1
- Đánh giá hiệu quả ứng dụng phần mềm Libol6.0 tại Trung tâm Thông tin
Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
- Đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc ứng dụng phần
mềm Libol6.0 tại Trung tâm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích
hợp Libol6.0.
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng ứng dụng hệ quản trị thư viện tích
hợp Libol6.0 vào công tác hoạt động thư viện tại Trung tâm thông tin – Thư viện
đại học Kinh tế Quốc dân từ năm 2007 đến nay
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự lớn mạnh, rộng
khắp của mạng máy tính toàn cầu. Việc ứng dụng tin học vào các lĩnh vực của cuộc
sống ngày càng được quan tâm và sử dụng hiệu quả, đem lại lợi ích to lớn về mọi
mặt. Nhạy bén với xu hướng phát triển và nhu cầu áp dụng công nghệ thông tin vào
việc chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ thông tin-thư viện, một số công ty tin học đã
nghiên cứu và phát triển các phần mềm ứng dụng phục vụ cho tổ chức, quản lý và
khai thác thông tin, quản lý thư viện. Trong số đó có thể kể đến các công ty tên tuổi
như Lạc việt với phần mềm Vebrary, VNNesoft với Elib, Tinh vân với phần mềm
Libol và CMC với phần mềm ILib. Với những tính năng nổi bật, phần mềm Libol
được triển khai thành công tại hơn 150 trung tâm thông tin, thư viện lớn nhỏ trên
toàn quốc, trong đó có Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân. Áp dụng phần mềm quản trị thư viện là một trong những nhân tố quan trọng
trong quản lý hoạt động thư viện, thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia
trong lĩnh vực thông tin thư viện. Đã có khá nhiều hội thảo, các bài nghiên cứu và
luận văn chuyên ngành khoa học thư viện quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này. Tác
giả Vũ Văn Sơn có công trình “Lựa chọn phần mềm quản trị thư viện” đã đề cập tới
một số nguyên tắc lựa chọn phần mềm quản trị thư viện. Tác giả Nguyễn Ngọc Anh
3
trong luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp thông qua phiếu hỏi
+ Phương pháp thống kê, so sánh
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
6. Ý nghĩa luận văn
Luận văn khẳng định rõ hiệu quả ứng dụng phần mềm Libol trong hoạt động
thư viện, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và nghiên cứu của cán bộ,
giảng viên và sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Trên cơ sở khảo sát và phân tích thực trạng ứng dụng hệ quản trị thư viện
tích hợp Libol6.0 tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân tiến tới đánh giá khả năng đáp ứng của phần mềm đối với các yêu cầu nghiệp
vụ và đưa ra những giải pháp khắc phục tồn tại từ đó nâng cao hiệu quả ứng dụng
phần mềm Libol6.0 tại Trung tâm.
7. Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương 1: Phần mềm Libol6.0 đối với hoạt động thông tin – thư viện tại
trường Đại học Kinh tế Quốc Dân.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng phần mềm LibolL6.0 tại Trung tâm thông
tin – Thư viện Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chương 3: Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc ứng dụng
phần mềm LibolL6.0 tại Trung tâm thông tin - Thư viện đại học
Kinh tế Quốc dân.
CHƯƠNG 1
5
PHẦN MỀM LIBOL 6.0 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN –
THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1. Phần mềm LibolL6.0
1.1.1. Sự ra đời của phần mềm Libol
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão ngày nay thực chất
là cuộc cách mạng công nghệ. Khoa học phát triển đã thu hút một bộ phận lớn nhân
tiếp mà không cần sự hỗ trợ trung gian của các cán bộ thư viện.
Trong lĩnh vực thông tin - thư viện, các nhà thư viện thế giới đã thực sự đặt
chân vào thế giới của thư viện điện tử từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20
với các ngân hàng dữ liệu khổng lồ của Dialog, Pascal Còn ở Việt Nam, sau năm
1997, với việc đưa Internet vào ứng dụng rộng rãi đã tạo đà khởi đầu cho sự phát
triển mới, các thư viện Việt Nam bắt đầu áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào
các hoạt động nghiệp vụ. Đối với các hệ thống thông tin, sự phát triển chỉ được gọi
là đồng bộ khi và chỉ khi hệ thống thông tin đó có đủ 2 thành phần: nội dung thông
tin đầy đủ được tổ chức trong các CSDL và phần hạ tầng CNTT (bao gồm máy tính
và hệ thống mạng) đảm bảo về mặt công cụ kỹ thuật để truyền tải thông tin tới
người sử dụng. Và tin học hóa hoạt động thông tin – thư viện thực sự là xu thế phát
triển tất yếu của các cơ quan thông tin – thư viện hiện nay. Tại Việt Nam, trong
những năm qua việc áp dụng CDS/ISIS – một sản phẩm miễn phí do UNESCO phát
triển, đã bước đầu đem lại hiệu quả xử lý, tìm kiếm thông tin trong ngành thư viện.
Hầu hết các thư viện đã tin học hóa đều sử dụng CDS/ISIS là hệ quản trị CSDL cho
các CSDL thư mục của mình. Đây là một thuận lợi khi triển khai một hệ quản trị
thư viện tích hợp (HQTTVTH) do các thư viện đã có sẵn CSDL thư mục. Tuy nhiên
có một một số trở ngại liên quan đến vấn đề trao đổi các bản ghi thư mục, do không
thống nhất bảng mã tiếng Việt và không thống nhất khổ mẫu miêu tả tài liệu.
Với bối cảnh trên, việc ứng dụng một HQTTVTH là cần thiết và hệ đó phải
7
giải quyết các vấn đề đối với các thư viện tại Việt Nam cũng như hòa nhập với xu
hướng của thế giới. Một hệ HQTTVTH phải đáp ứng được các yêu cầu:
- Là một hệ thống tích hợp để tự động hóa mọi nghiệp vụ của thư viện
truyển thống, cộng thêm các yếu tố của thư viện số.
- Đáp ứng những yêu cầu đặc thù đối với công tác biên mục, tuân theo các
chuẩn quốc tế: khổ mẫu trao đổi ISO 2709, khổ mẫu biên mục đọc máy MACR 21,
chuẩn tìm kiếm Z39.50, phân loại DDC, UDC, BBK…
- Cung cấp khả năng tra cứu cho các bạn đọc đến thư viện hay từ xa qua Internet.
- Có khả năng trao đổi thông tin thư mục với các hệ thống khác trên thế giới
các khâu trong hoạt động của thư viện, theo hướng tin học hóa, tạo tiền đề xây dựng
thư viện điện tử. [ 7]
1.1.2. Sự phát triển của phần mềm Libol
Ngay từ khi ra đời phần mềm Libol đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ
các thư viện và được các trung tâm thông tin tư liệu đánh giá rất cao do những tính
năng ưu việt của nó.
Vào năm 1997, phiên bản đầu tiên của phần mềm quản lý nghiệp vụ thư viện
Libol được xây dựng, ban đầu Libol phiên bản 1.0 chỉ có 3 phân hệ bao gồm phân
hệ “phân hệ biên mục”, “phân hệ tra cứu” và “phân hệ quản trị”. Với 3 phân hệ này
Libol được ứng dụng tại thư viện nhỏ của các cơ quan và mang tính chất quản lý
đơn thuần. Sau một thời gian Libol được sử dụng tại Thư viện của Ban Chỉ đạo
chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin, sản phẩm Libol phiên bản 1.0 cho
thấy chưa thể đáp ứng với yêu cầu thực tế tại những thư viện có nhiều bạn đọc và
quản lý thư viện chuyên nghiệp.
Trên cơ sở đánh giá kết quả thử nghiệm và những yêu cầu từ Thư viện Ban
9
Chỉ đạo chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin kết hợp với những nghiên
cứu tại một số thư viện chuyên ngành, năm 1999 Libol phiên bản 1.0 đã được nâng
cấp lên thành phiên bản 2.0 với đầy đủ các tính năng khai thác và quản lý cho
những thư viện chuyên ngành và thư viện công cộng. Libol 2.0 có 6 phân hệ, “phân
hệ tra cứu”, “phân hệ biên mục”, “phân hệ bổ sung”, “phân hệ bạn đọc”, “phân hệ
mượn trả”, “phân hệ quản lý” người dùng. Những phân hệ này đã đáp ứng được tất
cả những yêu cầu của nghiệp vụ quản lý thư viện chuyên ngành, thư viện của các
trung tâm thông tin và thư viện công cộng. Giai đoạn này Libol đã được sử dụng ở
một số thư viện như Thư viện của Học viện kỹ thuật quân sự, Thư viện của Bảo
tàng lịch sử…đặc biệt là việc chạy thử Libol tại Thư viện Quốc gia để quản lý
nghiệp vụ thư viện của một thư viện lớn hàng đầu tại Việt Nam đã giúp cho công ty
Tinh Vân nhận biết được những yếu điểm của Libol phiên bản 2.0.
Cùng với sự hợp tác của Thư viện Quốc gia và Trung tâm Thông tin tư liệu
Khoa học công nghệ Quốc gia, Công ty Tinh Vân đã đầu tư nâng cấp phần mềm
phân hệ và tối ưu hóa các thao tác nghiệp vụ trong hệ thống. Điểm nổi bật của
Libol6.0 chính là phân hệ Quản lý tư liệu điện tử. Nếu như ở các phiên bản trước,
đây là một nhóm tính năng nằm rải rác trong một số phân hệ thì tới Libol6.0, nghiệp
vụ này đã được hoàn thiện thành một phân hệ riêng. Phân hệ này cho phép thư viện
có thể quản lý các dạng tài liệu số phổ biến. Với khả năng tách ra hoạt động độc lập,
nó cho phép thư viện đóng vai trò như một nhà cung cấp tài liệu số tới mọi đối
tượng người dùng. Như vậy, thư viện hoàn toàn có thể quản lý một lượng tài
nguyên số đa dạng (âm thanh, hình ảnh, video, text). Libol6.0 với phân hệ sưu tập
số, tích hợp với phân hệ Phát hành nhằm quản lý, biên tập, phân quyền… và đưa ra
khai thác tài nguyên số hoá. Đây là khác biệt và cũng là ưu điểm rất lớn của
Libol6.0 so với các phiên bản trước đó. Với phân hệ này, các thư viện hoàn toàn có
thể thực hiện mua bán, trao đổi và cung cấp tài liệu điện tử một cách dễ dàng
Ngoài ra, Libol6.0 còn hỗ trợ đa ngữ, giúp người quản trị hệ thống tự thêm mới,
soạn thảo ngôn ngữ và sửa giao diện chương trình, lựa chọn ngôn ngữ hiển thị. Khả
năng đăng nhập một lần (single sign on), cho phép người dùng sử dụng một tài
11
khoản chung duy nhất để đăng nhập và thao tác trên nhiều ứng dụng khác nhau.
1.1.3. Các tính năng nổi bật của phần mềm Libol 6.0
Libol 6.0 là phần mềm mới nhất của công ty Tinh Vân cho đến thời điểm này
với các tính năng quan trọng như:
- Hỗ trợ chuẩn biên mục MARC 21, AACR-2, ISBD, các khung phân loại
thông dụng như DDC, BBK, NLM, LOC, UDC, subject headings; chuẩn ISO 2709
cho nhập/xuất dữ liệu;
- Liên kết với các thư viện và tài nguyên thông tin trực tuyến trên Internet
qua giao thức Z39.50 và OAI-PMH;
- Mượn liên thư viện theo giao thức ISO 10161, sử dụng định dạng mã hoá
dữ liệu BER/MIME;
- Tích hợp với các thiết bị mã vạch, thẻ từ và RFID; các thiết bị mượn trả tự
động theo chuẩn SIP 2;
- Hỗ trợ đa ngữ Unicode với dữ liệu và giao diện làm việc; các bảng mã tiếng
NT Server và có thể chuyển sang Linux một cách dễ dàng.
- Máy trạm có thể sử dụng bất cứ hệ điều hành nào để hỗ trợ Web.
- Quản trị và giám sát: Cho phép theo dõi và giám sát được mọi hoạt động
trên hệ thống (Ai làm gì? Vào lúc nào?)
- An ninh hệ thống: Phần mềm hỗ trợ nhiều mức và cơ chế đảm bảo an ninh
hệ thống khác nhau.
- Ngôn ngữ giao diện: Ngôn ngữ sử dụng trên giao diện các phân hệ của
chương trình là tiếng Anh và Việt.
- Bảng mã lưu trữ dữ liệu trong hệ thống: là Unicode tiêu chuẩn Việt Nam
TCVN 6909 với bảng mã dựng sẵn (pre-compound), có bộ chuyển đổi (convertor)
13
để chuyển đổi sang bảng mã tổ hợp (compound) khi cần thiết.
- Bảng mã hiển thị dữ liệu trên giao diện phải hỗ trợ đồng thời các bảng mã
TCVN 6909 (dựa trên Unicode); VNI; TCVN 5712.
- Sắp xếp tiếng Việt: Phần mềm có khả năng sắp xếp dữ liệu tiếng Việt theo
đúng trật tự từ điển (chữ cái, dấu thanh), không hoặc có phân biệt chữ hoa/thường.
- Vận hành hiệu quả trên CSDL lớn, đảm bảo làm việc ổn định và tốc độ truy
cập cao với CSDL lớn (hàng triệu biểu ghi).
- Khả năng sao lưu/khôi phục dữ liệu: Đảm bảo toàn vẹn dữ liệu cho hệ thống.
- Khả năng mở rộng: Khả năng bổ sung thêm các phân hệ, tính năng, máy
trạm và máy chủ với số lượng người dùng không hạn chế.
- Khả năng tự quản cao: Cài đặt dễ dàng, người dùng có khả năng tự đặt cấu
hình cho hệ thống với trợ giúp tối thiểu của nhà cung cấp.
- Hỗ trợ mã vạch: Cho phép in mã vạch trực tiếp theo số liệu trong CSDL
theo các khuôn dạng mã vạch khác nhau. Sử dụng mã vạch trong các nghiệp vụ liên
quan (bổ sung, lưu thông).
- Khả năng tùy biến cao trong việc tạo khuôn dạng báo cáo dữ liệu: Cán bộ
thư viện có thể tự định dạng cho các loại báo cáo dữ liệu khác nhau: các sản phẩm
thư mục, thư từ, hợp đồng, nhãn, phích phiếu, thẻ đọc mà không cần sự can thiệp
của đơn vị cung cấp phần mềm.
- Tìm kiếm toàn văn;
- Khả năng tuỳ biến cao;
- Thích hợp với các kiến trúc kho khác nhau.
- Thích hợp với các thư viện có nhiều kho, điểm cho mượn.
Phần về các phân hệ chức năng:
Chương trình Libol hoạt động trên một cơ sở dữ liệu và cơ chế quản lý thống
15
nhất. Tuy vậy, để đảm bảo rằng các quy tắc nghiệp vụ được phân tách rõ ràng,
chương trình Libol hiện thời được chia thành 9 phân hệ.
- Phân hệ Bổ sung và Quản lý kho: Quy trình quản lý ấn phẩm chặt chẽ và
xuyên suốt kể từ lúc phát sinh nhu cầu bổ sung, đặt mua, kiểm nhận, gán số đăng ký
cá biệt, xếp giá tới lưu kho và đưa ra khai thác.
- Phân hệ Biên mục: Công cụ mạnh, thuận tiện và mềm dẻo giúp biên mục
mọi dạng tài nguyên thư viện theo các tiêu chuẩn thư mục quốc tế; giúp trao đổi dữ
liệu biên mục với các thư viện trên mạng Internet và giúp xuất bản các ấn phẩm thư
mục phong phú và đa dạng.
- Phân hệ tra cứu trực tuyến OPAC: Là cổng thông tin chung cho mọi
đối tượng để khai thác tài nguyên và dịch vụ thư viện theo cách riêng phù hợp
với nhu cầu của từng cá nhân; Là môi trường giao tiếp và trao đổi thông tin
giữa bạn đọc với nhau, giữa bạn đọc và thư viện và giữa bạn đọc với các thư
viện khác.
- Phân hệ Quản lý Ấn phẩm nhiều kỳ: Tự động hóa và tối ưu hóa
các nghiệp vụ quản lý đặc thù cho mọi dạng ấn phẩm định kỳ (báo, tạp chí, tập
san ) như bổ sung, đăng ký, kiểm nhận, đóng tập, khiếu nại thiếu số và tổng
hợp số có số thiếu
- Phân hệ Quản lý Bạn đọc: Quản lý thông tin cá nhân và phân loại bạn đọc
giúp thư viện áp dụng được những chính sách phù hợp với mỗi nhóm bạn đọc và
tiến hành các xử lý nghiệp vụ theo lô hoặc theo từng cá nhân.
- Phân hệ Lưu thông mượn trả: Tự động hoá những thao tác thủ công lặp đi
lặp lại trong quá trình mượn trả và tự động tính toán, áp dụng mọi chính sách lưu
phần mềm được thiết kế và xây dựng khá chuyên nghiệp, phù hợp với các hệ thống
thư viện, có khả năng tích hợp và là một phần mềm mở, thực sự đáp ứng các yêu
cầu của phần mềm thư viện.
1.2. Đặc điểm hoạt động thông tin – thư viện tại trường Đại học Kinh tế
17
quốc Dân
1.2.1. Khái quát về trường Trường Đại học Kinh tế Quốc dân .
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-
TTg ngày 25 tháng 1 năm 1956 với tên gọi ban đầu là Trường Kinh tế Tài chính.
Lúc đó, Trường được đặt trong hệ thống đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc
Thủ tướng Chính phủ.[16]
Ngày 22 tháng 5 năm 1958, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 252-TTg
đổi tên trường thành Trường Đại học Kinh tế Tài chính trực thuộc Bộ Giáo dục.
Tháng 1 năm 1965 Trường lại một lần nữa được đổi tên thành trường Đại
học Kinh tế Kế hoạch.
Ngày 22 tháng 10 năm 1985, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên
nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) ra Quyết định số 1443/QĐ-KH đó đổi tên
Trường thành trường Đại học Kinh tế Quốc dân [8].
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc
dân luôn luôn giữ vững vị trí là:
- Một trong những trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và
quản trị kinh doanh lớn nhất ở Việt Nam. Trường hiện có hơn 45.000 sinh viên;
1228 cán bộ, giảng viên, công nhân viên, trong đó có 469 là cán bộ, công nhân viên
và 759 giảng viên (18 giáo sư, 95 phó giáo sư, 255 tiến sĩ và 391 thạc sĩ); Bậc đại
học đào tạo 45 chuyên ngành thuộc 8 khối chuyên ngành khác nhau: Kinh tế, Quản
trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng , Kế toán, Hệ thống thông tin kinh tế, Luật
học, Khoa học máy tính và Tiếng Anh ; ở bậc cao học đào tạo 2 nhóm ngành Kinh
tế, kinh doanh và quản lý với 33 chuyên ngành hẹp; bậc nghiên cứu sinh đào tạo 14
mã số chuyên ngành với 22 chuyên ngành hẹp. Bên cạnh các chương trình đào tạo
cấp bằng cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, Trường cũng thường xuyên tổ chức các khoá
bổng cho sinh viên.
19
Đại học Kinh tế Quốc dân đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn và đã được
trao tặng nhiều danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước như: Huân chương Lao
động Hạng Ba trong giai đoạn 1961 - 1972, Hạng Hai năm 1978, Hạng Nhất năm
1983, Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1986, Hạng hai năm 1991 và Hạng nhất
năm 1996, danh hiệu Anh hùng Lao động năm 2000, Huân chương Hồ Chí Minh
năm 2001, Huân chương Hữu nghị của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm
2008.
Mục tiêu phấn đấu của Trường đến năm 2020 là trở thành một trường đại
học hiện đại với đầy đủ các trang thiết bị tiên tiến. Để đảm bảo chất lượng giảng
dạy và học tập đạt tiêu chuẩn quốc tế, Trường đang nâng cấp hệ thống phòng học,
mua các thiết bị hiện đại, soạn và xuất bản giáo trình và các tài liệu tham khảo, hệ
thống thông tin phục vụ đào tạo và nghiên cứu, đổi mới và nâng cấp cơ sở vật chất
hiện có với những trang thiết bị hiện đại.
1.2.2. Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc Dân
1.2.2.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của Trung tâm
Thư viện Trường Đại học Kinh tế tài chính nay là Trung tâm Thông tin –
Thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (TTTT-TV ĐHKTQD) được thành
lập từ năm 1956, cùng với sự ra đời của Trường Kinh tế Tài chính Trung ương
nay là Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Hơn nửa thế kỷ qua, là cả khoảng thời
gian lịch sử đáng ghi nhớ, Trung tâm Thông tin Thư viện đã trải qua bao khó
khăn, thử thách để có được như ngày hôm nay. Khi mới thành lập, Thư viện gặp
vô vàn khó khăn như cơ sở vật chất chật hẹp, kinh phí thiếu thốn Khi đó, Thư
viện chỉ có một phòng đọc nhỏ, trang thiết bị lạc hậu với những tủ sách nghèo
nàn. Tới nay Trung tâm Thông tin Thư viện đã trường Đại học Kinh tế Quốc Dân
có nhiều đổi mới: Được Dự án Giáo dục Đại học đầu tư về cơ sở vật chất trang
thiết bị hiện đại, vốn tài liệu thông tin khá phong phú, đa dạng; hệ thống tra cứu
điện tử trên phần mềm Libol60, quản lý tài liệu trên đầu đọc mã vạch. Đội ngũ
cán bộ thông tin Thư viện đã phát triển nhanh về số lượng, chất lượng được nâng
củng cố và hoàn thiện. Đội ngũ cán bộ nhân viên Thư viện đã được nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức khoa học kinh tế, đủ khả năng xử lý thông
tin phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học (NCKH), giảng dạy, học tập của giáo
viên và sinh viên.
Đến năm 1985 Thư viện đã trở thành một thư viện chuyên ngành kinh tế xã
hội với một kho sách báo khá lớn và phong phú. Cùng từ năm 1985 Thư viện được
đổi tên là “Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc dân”.
Song thời kỳ này Thư viện vẫn là thư viện truyền thống, mọi hoạt động quản lý và
phục vụ đều bằng thủ công.
Giai đoạn thứ hai từ năm 1985 đến nay
Từ năm 1986, theo sự đề xướng và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
cả nước thực hiện công cuộc Đổi mới. Các cơ quan, trường học nói chung, Trường
ĐHKTQD nói riêng, cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. TTTT-TV là một
trong những bộ phận quan trọng của Nhà trường cũng đã và đang đổi mới. Có thể
nói trong giai đoạn này, Trung tâm đã đổi mới một cách toàn diện.
Trước hết nói về đổi mới nguồn tài liệu: Khi đất nước chuyển từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, đòi hỏi Nhà trường phải đổi mới nội dung và chương trình đào tạo phù hợp
với yêu cầu mới. Điều đó tác động tới hoạt động của TTTT-TV, đòi hỏi Trung tâm
phải đổi mới nội dung, cơ cấu kho sách, báo của mình để phục vụ yêu cầu mới của
Nhà trường (toàn bộ nguồn tài liệu, sách báo của 30 năm trước đều theo hệ thống lý
luận của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nay không còn phù hợp hoặc còn rất ít
giá trị, sách về nền kinh tế thị trường rất hạn hẹp, hầu như không có, Trung tâm
phải thu gom từ đầu). Trước tình hình đó, Trung tâm tìm mọi cách vừa mua mới,
vừa mở rộng quan hệ hợp tác với thư viện các trường đại học khác, các tổ chức
trong và ngoài nước để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và tranh thủ những nguồn
tài liệu bạn tặng biếu, làm giàu thêm vốn tài liệu của mình. Tới nay Trung tâm đã
xây dựng được nguồn tài liệu mới có nội dung lý luận về nền kinh tế thị trường,
22