THỰC TRẠNG VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 54

THỰC TRẠNG VAI TRÒ
CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
BẢO VỆ QUYỀN CON
NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY


- Thực trạng tổ chức hệ thống tòa án ở Việt Nam hiện
nay
Theo thống kê hiện nay cả nước có 700 TAND cấp
huyện, 63 TAND cấp tỉnh và TANDTC; tổng biên chế của
TAND cấp tỉnh là 4.088 người, trong đó có 1.170 Thẩm phán
trung cấp; tổng biên chế TAND cấp huyện là 10.427 người,
trong đó có 4.865 Thẩm phán trung cấp và sơ cấp [31]. Hệ
thống TAND được tổ chức theo tiêu chí địa giới hành chính
và có ba cấp, theo đó hệ thống Tòa án gồm: TAND cấp huyện,
TAND cấp tỉnh, TANDTC. Hệ thống Tòa án quân sự về cơ
bản, được tổ chức theo địa bàn quân khu, hiện nay hệ thống
Tòa án quân sự gồm có: Tòa án quân sự trung ương; 9 Tòa án
quân sự cấp quân khu và 17 Tòa án cấp khu vực. Tòa án quân
sự được tổ chức theo 3 cấp, và thẩm quyền xét xử chủ yếu là
xét xử các vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ [61].
Việc tổ chức hệ thống Tòa án theo địa hạt hành chính
như hiện nay có ưu điểm là công tác xét xử bám sát với nhiệm
vụ chính trị của các địa phương, bám sát cơ sở, đồng bộ với
các cơ quan tiến hành tố tụng và bổ trợ tư pháp của địa
phương, đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn xét xử các


loại vụ án, đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp với Tòa án. Tuy nhiên, việc

đồng đều giữa các đơn vị hành chính cấp huyện, nên số lượng
vụ án mà các Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết xét
xử cũng không đồng đều. Có huyện hàng năm phải giải quyết
quá nhiều án, nhưng có huyện lại rất ít án. Điều này đã và
đang diễn ra làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, nhất là đối
với các Tòa án cấp huyện rơi vào tình trạng quá tải.
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Theo quy định của pháp luật thì TAND cấp tỉnh có 5
Tòa chuyên trách là Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế,
Tòa lao động và Tòa hành chính; nhưng số lượng vụ án của 5
lĩnh vực này không đồng đều ngay trong TAND cấp tỉnh, và


không đồng đều giữa các TAND cấp tỉnh. Thẩm quyền xét xử
của TAND cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm các vụ án mà
bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp
dưới bị kháng cáo, kháng nghị. Thực tế, thời gian vừa qua
TAND cấp huyện tăng thẩm quyền, số lượng các vụ án mà
TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm có xu hướng giảm, trong khi
đó số lượng các vụ án xét xử theo trình tự phúc thẩm của
TAND cấp tỉnh có xu hướng tăng.
- Tòa án nhân dân tối cao
Bất cập lớn nhất của TANDTC hiện nay là tình trạng quá
tải về xem xét giải quyết đơn đề nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm. Một trong những nguyên nhân của tình trạng
nêu trên là do pháp luật hiện hành quy định về thẩm quyền, và
cơ cấu tổ chức của TANDTC chưa hợp lý. Thể hiện ở chỗ
TANDTC vừa có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
lại vừa có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, nên phải dàn trải
nguồn lực để thực hiện 2 nhiệm vụ này, trong khi không thể

được phân công cho các đơn vị giúp việc của TANDTC, nên
rất phân tán, khó khăn trong việc điều hành của Chánh án
TANDTC.
Như vậy, với tổ chức bộ máy, nhiệm vụ và thẩm quyền
của hệ thống TAND hiện nay đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa
tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò là cơ quan
cao nhất của hệ thống cơ quan được giao thực hiện quyền tư
pháp - một trong ba nhánh quyền lực cơ bản của Nhà nước,
chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc CCTP mà Nghị
quyết 49 của Bộ Chính trị đã đề ra. Vì vậy, nghiên cứu đánh
giá về thực trạng hệ thống tổ chức TAND hiện nay là vô cùng
cần thiết, thông qua đó có những đề xuất kiến nghị những nội
dung cần sửa đổi bổ sung về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ và
thẩm quyền của TAND để phát huy được tối đa vai trò bảo vệ
quyền con người của Tòa án trong giai đoạn hiện nay.
- Thực trạng vị trí, vai trò của tòa án trong việc bảo
vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Vấn đề bảo vệ quyền con người ở nước ta hiện nay


không chỉ do một cơ quan duy nhất là Tòa án thực hiện mà là
một cơ chế phối hợp, kiểm soát, phân công giữa các cơ quan
nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, các cá
nhân… Chính vì vậy, trước khi đánh giá về thực trạng vai trò
của Tòa án trong bảo vệ quyền con người chúng ta cần làm
rõ vị trí của Tòa án trong hệ thống các cơ quan nhà nước và
mối quan hệ của Tòa án với các cơ quan này.
- Thực trạng vị trí của Tòa án trong hệ thống các cơ
quan nhà nước
Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, bộ máy nhà nước

- Quan hệ giữa Tòa án với Quốc hội


Trên cơ sở nguyên tắc hiến định “quyền lực Nhà nước
thống nhất và thuộc về nhân dân” và nguyên tắc “Quốc hội
là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất” thì Toà án ở nước
ta có sự phụ thuộc khá nhiều vào Quốc hội. Bản chất của mối
quan hệ này là cấp trên và cấp dưới - trong đó Quốc hội là cấp
trên và Tòa án là cấp dưới. Quốc hội có quyền ban hành tất cả
các loại văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức hoạt động
của Toà án; các quy tắc tố tụng của Toà án. Quốc hội có quyền
bãi bỏ các văn bản pháp luật của toà án trái với Hiến Pháp,
luật pháp hay Nghị quyết của mình. Quốc hội bầu và bãi
nhiệm chức Chánh án TANDTC. Quốc hội có quyền bỏ phiếu
bất tín nhiệm đối với vị trí này. Chánh án TANDTC phải báo
cáo hàng năm trước Quốc hội; phải trả lời chất vấn của đại
biểu Quốc hội nếu có yêu cầu của đại biểu Quốc hội. Quốc
hội quyết định ngân sách hoạt động hằng năm của Toà án.
Như vậy, Quốc hội quyết định khá nhiều các vấn đề liên quan
đến tổ chức, hoạt động của hệ thống Tòa án ở nước ta hiện
nay.
- Quan hệ giữa Tòa án với Chủ tịch nước
Hiến pháp xác định rõ Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc
gia của Việt Nam. Trong mối quan hệ với Toà án, Chủ tịch


nước có quyền giám sát, kiểm tra chất lượng hoạt động của
Toà án thông qua báo cáo của chánh án TANDTC. Ngoài ra
trong hoạt động xét xử hình sự thì Chủ tịch nước còn tham gia
vào quá trình ra phán quyết của toà án thông qua cơ chế xét

Trong mối quan hệ bên trong này, xét xử là hoạt động trung
tâm, là hoạt động thể hiện tập trung nhất bản chất của quyền tư
pháp. Mặt khác, pháp luật trao cho Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện quyền giám sát hoạt động tuân thủ pháp luật của toà
án trong quá trình diễn ra phiên toà. Chính quy định này đã có
ảnh hưởng đến tính chất trung tâm, tính độc lập của toà án
trong hệ thống cơ quan tư pháp.
Như vậy, trong pháp luật nước ta, Toà án có vị trí độc lập


tương đối trong bộ máy Nhà nước. Sự phụ thuộc của Toà án
vào hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội và Hội
đồng nhân dân) hiện nay là tương đối lớn. Tính chất trung tâm
của Toà án trong hệ thống các cơ quan tư pháp chưa được bảo
đảm do sự tác động từ phía Viện kiểm sát nhân dân thông qua
quyền giám sát hoạt động xét xử tại phiên toà. Chính những
đặc điểm này đã ảnh hưởng đến hoạt động của Toà án, đặc
biệt là yêu cầu có tính nguyên tắc hiến định của hoạt động tài
phán- Toà án phải độc lập chỉ tuân theo pháp luật trong quá
trình xét xử.
- Thực trạng vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ
quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Như phần trên đã trình bày, Tòa án có vị trí rất quan trọng
trong bộ máy cơ quan nhà nước hiện nay. Hiến pháp năm 2013
quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, “TAND có nhiệm vụ bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi
ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
[41, Điều 102]. Theo quy định này thì Toà án là cơ quan xét xử
duy nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, chức năng xét

pháp cũng như pháp luật hình sự Việt Nam có những quy định
chặt chẽ về thủ tục xét xử vụ án hình sự tại tòa án trong đó ghi
nhận vai trò của tòa án trong việc xét xử, đồng thời quy định
các quyền của bị cáo tại giai đoạn xét xử. Cụ thể, là việc quy
định về thời hạn xét xử cho từng loại tội; quy định quyền của
bị cáo trước tòa như bào chữa, nhờ người bào chữa, tranh tụng
bình đẳng với bên buộc tội; quy định quyền kháng cáo và
nguyên tắc hai cấp xét xử. Những quy định này nhằm đảm bảo
quyền được xét xử công bằng và có một bản án công bằng của
người bị buộc tội.
Trong giai đoạn gần đây, thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW
ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình
hình mới, các Toà án tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm
túc các mục tiêu, yêu cầu và giải pháp mà Chỉ thị số 48CT/TW đề ra, đã chú trọng việc tăng cường phối hợp với các


cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo giải quyết tốt vụ án,
đặc biệt là đối với những vụ án lớn, trọng điểm được dư luận
xã hội quan tâm. Một số Tòa án địa phương đã phối hợp với
các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp xây dựng quy chế phối
hợp trong công tác, định kỳ họp trao đổi, thống nhất những
vấn đề còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ và áp
dụng pháp luật, nhằm đảm bảo giải quyết tốt vụ án. Nhiều vụ
án lớn, đặc biệt nghiêm trọng hoặc các vụ án được dư luận xã
hội quan tâm, đặc biệt là các vụ án về tham nhũng đã được
các Tòa án khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa ra xét xử kịp
thời, nghiêm minh, đáp ứng yêu cầu chính trị của địa phương
cũng như cả nước. Điển hình là vụ án Dương Chí Dũng phạm
tội “Tham ô tài sản và Cố ý làm trái các quy định của nhà

con người. Tòa án kết tội sai, kết tội oan sẽ làm cho pháp luật


không bảo vệ được quyền con người, niềm tin của xã hội đến
công bằng, công lý bị giảm sút.
Mặc dù, đã có nhiều cố gắng nhất định nhưng trong thời
gian qua tình trạng oan sai vẫn chưa chấm dứt, đặc biệt, vẫn
còn những vụ án oan gây chấn động dư luận xã hội, điển hình
như vụ xét xử oan sai của TAND tỉnh Bắc Giang về tội “giết
người, hiếp dâm” đối với ông Nguyễn Thanh Chấn đã làm
cho ông Chấn phải nhận bản án oan “tù chung thân” và đã
phải ở tù oan đến 10 năm trời mới được minh oan; vụ án xét
xử gây oan sai của TAND tỉnh Tiền Giang về tội “giết người”
đối với ông Trần Văn Chiến đã khiến ông Chiến phải ngồi tù
oan hơn 16 năm; vụ án xét xử gây oan sai của TAND tỉnh
Đồng Nai về tội “giết người cướp của” đối với ông Bùi Minh
Hải đã khiến ông Hải phải nhận bản án tù chung thân…
Bên cạnh đó tình trạng vi phạm quyền được bào chữa
của bị cáo trong quá trình xét xử cũng chưa bảo đảm. Theo
quy định của Luật Tố tụng hình sự hoạt động xét xử được tiến
hành sau khi tòa án nhận được cáo trạng quyết định truy tố bị
can, tất cả những thông tin, tài liệu, đồ vật thu thập được trong
giai đoạn điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xét công khai
tại phiên tòa thông qua việc xét hỏi và tranh luận. Trong khi


đó chất lượng của hoạt động tranh luận tại Tòa vẫn còn nhiều
hạn chế, nhiều phiên tòa chưa đảm bảo chất lượng thực chất
mà vẫn còn mang tính hình thức, quyền bào chữa của bị can
tại phiên tòa chưa được đảm bảo.

80.104 vụ án với 138.823 bị cáo; đã giải quyết, xét xử được
78.343 vụ án với 134.717 bị cáo, đạt 97.8% số vụ và 97% số
bị cáo. Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm
65.462 vụ với 114.344 bị cáo; theo thủ tục phúc thẩm 12.687
vụ với 20.079 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
194 vụ với 294 bị cáo. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ là
0,71% (do nguyên nhân chủ quan là 0,38% và do nguyên
nhân khách quan là 0,33%), bị sửa là 4,21% (do nguyên nhân
chủ quan là 0,54% và do nguyên nhân khách quan là 3,67%).


So với năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ do
nguyên nhân chủ quan tăng 0,21%, tỷ lệ bị sửa giảm 0,16%
[46].
Năm 2010, TAND và Toà án quân sự các cấp đã thụ lý
71.680 vụ án với 121.793 bị cáo; đã giải quyết, xét xử được
68.381 vụ án với 114.988 bị cáo (đạt 95% số vụ và số bị cáo).
Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 55.221 vụ
với 95.241 bị cáo (có 2.178 vụ án với 5.342 bị cáo Toà án trả
hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung); theo thủ tục phúc thẩm
12.971 vụ với 19.417 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm 189 vụ với 330 bị cáo. Tỷ lệ các bản án quyết định bị
huỷ là 0,75% (do nguyên nhân chủ quan là 0,44% và do
nguyên nhân khách quan là 0,31%); bị sửa là 5,1% (do
nguyên nhân chủ quan là 0,45% và do nguyên nhân khách
quan là 4,65%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án,
quyết định bị huỷ do nguyên nhân chủ quan tăng 0,06%, bị
sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 0,09% [47].
Năm 2011, Các TAND và Tòa án quân sự các cấp đã giải
quyết, xét xử được 75.014 vụ án với 127.247 bị cáo, đạt 97%,

bị cáo, bằng 22% (trong đó có 155 bị cáo phạm các tội về
tham nhũng), còn lại là các hình phạt khác.
Giải quyết, xét xử theo thủ tục phúc thẩm 14.119 vụ với
21.239 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 155 vụ
với 249 bị cáo. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,5%
(do nguyên nhân chủ quan 0,3% và do nguyên nhân khách
quan 0,2%); bị sửa là 4,9% (do nguyên nhân chủ quan 0,3%
và do nguyên nhân khách quan 4,6%). So với cùng kỳ năm
trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân
chủ quan giảm 0,2% [49].
Năm 2013, TAND và Tòa án quân sự các cấp đã thụ lý
85.765 vụ với 151.254 bị cáo, tăng 2.649 vụ với 4.286 bị cáo;
đã giải quyết, xét xử được 84.086 vụ án với 147.068 bị cáo
(bằng 98%, vượt 3% so với chỉ tiêu đề ra), tăng 2.443 vụ so
với cùng kỳ năm trước, cụ thể là:
+ Thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 69.894 vụ với 126.770 bị
cáo; đã giải quyết, xét xử 68.751 vụ với 123.652 bị cáo, trong


đó: đình chỉ xét xử 308 vụ với 448 bị cáo (0,5%), trả hồ sơ
cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung 2.285 vụ với 5.601
bị cáo (3,3%), xét xử 66.107 vụ với 117.502 bị cáo (96,2%).
Trong số bị cáo đã xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt
tử hình hoặc tù chung thân 582 bị cáo, xử phạt tù có thời hạn
84.308 bị cáo, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo 23.007 bị
cáo, chiếm 20% (trong đó có 151 bị cáo phạm các tội về tham
nhũng, chiếm 27% trong tổng số các bị cáo bị xét xử về các
tội phạm tham nhũng), miễn trách nhiệm hình sự cho 28 bị
cáo, tuyên 15 bị cáo không phạm tội, còn lại là các hình phạt
khác.

Tòa án thông qua hoạt động xét xử sẽ khôi phục những
quyền đó hoặc khôi phục những lợi ích do quyền đó mang lại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status