BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN NGUYỄN MINH HẢI
PHÁT TRIỂN
QUỸ HƯU TRÍ TỰ NGUYỆN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 9 34 02 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ THANH HÀ
TS. TRẦN THỊ KỲ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2018
i
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. LÊ THỊ THANH HÀ
tr. 88 - 93.
Trần Nguyễn Minh Hải (2018). The impact of voluntary funded pension funds on stock
market: the case of APEC economies. Proceedings of the first international
conference on Vietnam’s Business & Economics Research 2018 (VBER 2018),
July
22
-
24,
2018,
Ho
/>
Chi
Minh
City.
Retrieved
from
1
thấy một sự đồng thuận về ý nghĩa và vai trò tích cực của quỹ hưu trí tự nguyện đến sự
phát triển của thị trường vốn. Qua đó, các nghiên cứu khẳng định vai trò nhà đầu tư tổ
chức của loại hình quỹ hưu trí tự nguyện và sự cần thiết phát triển loại hình này trên
TTCK. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm này đều gặp phải sự hạn chế về
số lượng các biến quan sát, cụ thể là khoảng thời gian quan sát sẵn có chưa đủ lâu dài.
Mặt khác, các nghiên cứu trên đều tập trung vào các quốc gia phát triển thuộc khối
OECD cũng như các thị trường mới nổi, trong khi đó theo Ngân hàng Phát triển Châu
Á (Asian Development Bank - ADB) thì các nghiên cứu về thị trường hưu trí thuộc
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương còn rất hiếm trong các tài liệu hiện có (Hu, 2012).
Nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới cho mối quan hệ giữa phát triển của quỹ
hưu trí tự nguyện với sự tăng trưởng của TTCK, theo nghiên cứu của tác giả thông qua
phân tích định lượng cho bộ dữ liệu bảng không cân bằng và sử dụng các yếu tố vĩ mô
làm các biến kiểm soát, tại các nền kinh tế thuộc khối Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á
- Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation - APEC), sự phát triển quỹ
hưu trí tự nguyện có mối tương quan dương với sự phát triển của TTCK với hệ số hồi
quy là dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015. Các kết quả từ phân tích định lượng
mô hình hồi quy của nghiên cứu của tác giả cũng đã cho thấy sự nhất quán với cơ sở lý
thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước về mối liên quan tích cực giữa sự tăng
trưởng của quỹ hưu trí tự nguyện với sự phát triển của TTCK. Chính vì vậy tác giả tin
rằng luận án sẽ góp phần vào cuộc tranh luận về ảnh hưởng của việc phát triển tài sản
quỹ hưu trí tự nguyện trên thị trường vốn và thị trường tài chính Châu Á.
Có vị trí địa lý thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, là một trong các nền
kinh tế thành viên thuộc APEC, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có thu nhập
bình quân đầu người còn ở mức trung bình thấp so với các nền kinh tế trong khu vực
và trên thế giới mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP ổn định qua các năm gần đây. Do đó,
3
trí trong bối cảnh dân số già hóa và (ii) vai trò của quỹ hưu trí tự nguyện trong hệ thống
hưu trí đa trụ cột (Điều Bá Dược, 2013; Khuất Thị Kiều Vân, 2013; TTBD, 2014; Chí
Tín, 2014; Lưu Hải Vân, 2014; Nguyễn Thị Lê Thu, 2014; Trần Phương Thảo &
Nguyễn Anh Tuấn, 2014; Lương Xuân Trường, 2014; Bùi Cẩm Hường, 2014; Thùy
Dương, 2017).
Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận án về phát triển quỹ hưu trí tự
nguyện trên TTCK, quỹ hưu trí tự nguyện được tập trung tìm hiểu và phân tích vì
những lý do chính yếu sau đây:
Thứ nhất, quỹ hưu trí tự nguyện là một nhà đầu tư tổ chức dài hạn trên TTCK.
Quỹ hưu trí tự nguyện đã góp phần cấu thành nên cơ sở nhà đầu tư tổ chức
(instistutional investor base) trong sự phát triển của TTCK khi (i) cung cấp cho
TTCK nguồn vốn quy mô lớn, mang tính chất ổn định, dài hạn; (ii) nắm giữ
phần lớn lượng tài sản tài chính và không ngừng phát triển với quy mô tài sản
ngày một tăng trên TTCK.
Thứ hai, quỹ hưu trí tự nguyện là một trụ cột trong hệ thống hưu trí của quốc
gia, góp phần cải thiện thu nhập hưu trí khi về già, góp phần bảo đảm an sinh xã
hội trong bối cảnh dân số đang già hóa theo thời gian và gánh nặng hệ thống
hưu trí công đang ngày càng lớn.
Từ những lý do trên, trong khuôn khổ luận án với đề tài “PHÁT TRIỂN QUỸ
HƯU TRÍ TỰ NGUYỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM”,
nghiên cứu tập trung hệ thống hóa lý luận chung về quỹ hưu trí tự nguyện, vị trí của
quỹ hưu trí tự nguyện trong hệ thống hưu trí đa trụ cột, tiêu chí đánh giá cũng như các
điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện tư nhân trên TTCK từ lý thuyết đến thực
nghiệm nhằm bổ sung, đóng góp vào hệ thống kiến thức về phát triển quỹ hưu trí tự
nguyện trên TTCK và góp phần phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam.
Trong đó, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức quốc tế tin
cậy để tiến hành xem xét tác động của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đến sự phát
6
Tìm hiểu, khảo sát, thống kê mô tả nhu cầu của các cá nhân là công dân Việt
Nam về những vấn đề liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện, phát triển quỹ hưu
trí trên TTCK Việt Nam.
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK
Việt Nam.
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu cụ thể, luận án giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
Các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK thông qua mô hình
PESTLIED là gì? Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam đã đạt
được đến mức độ nào?
Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK tác động đến sự phát triển của
TTCK tại các nền kinh tế trên thế giới, cụ thể là các nền kinh tế thuộc APEC ra
sao? Bài học kinh nghiệm nào từ nghiên cứu thực nghiệm về phát triển quỹ hưu
trí tự nguyện trên TTCK của các nền kinh tế APEC được rút ra cho phát triển
quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam?
Các cá nhân là công dân Việt Nam có hiểu biết như thế nào về những vấn đề
liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện, phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK
và có nhu cầu ra sao về quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam?
Từ kết quả nghiên cứu tác động của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đến sự tăng
trưởng TTCK tại các nền kinh tế thuộc APEC và kết quả khảo sát nhu cầu cá
nhân là các công dân Việt Nam, các khuyến nghị nào có thể được đề xuất đối
với việc phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam?
1.3 Đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên
TTCK.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Về phương pháp tiếp cận
Nghiên cứu tiếp thu và kế thừa tư tưởng của các lý thuyết sau: (i) lý thuyết phát
triển các trung gian tài chính trên TTCK (David, 2000; Claus & Grimes, 2003;
Andrieş, 2009; Enache, Miloş & Miloş, 2013); (ii) lý thuyết về các bên liên quan đến
hoạt động của tổ chức (Phillips & Reichart, 2000; Freeman, Wick & Parmar, 2004;
Buchholz, 2004); (iii) lý thuyết về thực hiện quyết định tài chính (Franzen, 2010); (iv)
lý thuyết về phân bổ tài sản dài hạn (Valdés-Prieto, 2008; Viceira, 2010; Falkenheim,
2015).
Các lý thuyết này cũng chính là nền tảng cho việc lựa chọn hướng nghiên cứu
về quỹ hưu trí tự nguyện và phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK của đề tài.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng tham khảo nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của phát
triển quỹ hưu trí tự nguyện đối với sự phát triển của TTCK nhằm tham khảo và làm cơ
sở so sánh, đối chiếu kết quả khảo sát, kết quả phân tích định lượng.
1.4.2 Về phương pháp thu thập dữ liệu
Đối với dữ liệu thứ cấp
Nghiên cứu dựa trên việc thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các nguồn tài liệu tham
khảo tin cậy của các tổ chức quốc tế như WB, ILO, OECD … và các công trình nghiên
cứu được công bố tại các tạp chí chuyên ngành liên quan đến kinh tế, tài chính và bảo
hiểm trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015.
Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng nhằm củng cố cơ sở lý luận từ lúc khái niệm
về quỹ hưu trí tự nguyện được xây dựng và giới thiệu trong mô hình thu nhập hưu trí
đa trụ cột trên thế giới cũng như kiểm định sự phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện đối
với sự tăng trưởng TTCK, các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK
trên thế giới, cụ thể là tại các nền kinh tế thuộc APEC.
Đối với dữ liệu sơ cấp
9
1.4.3 Về phương pháp xử lý dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính các các điều kiện phát
triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK theo mô hình PESTLIED (Political, Economic,
Sociological, Technological, Legal, International, Environmental, Demographic
factors). Mô hình PESTLIED là một dạng mở rộng từ mô hình PESTLE (Political,
Economic, Sociological, Technological, Legal, Environmental), một kỹ thuật quản trị
chiến lược được sử dụng hiệu quả trong quy trình xác định các yếu tố tác động đến từ
bên ngoài của kế hoạch quản lý rủi ro (Rastog & Trivedi, 2016).
Nếu như các yếu tố tác động đến từ bên trong nội bộ tổ chức có thể dễ dàng xác
định hơn vì có nhiều dữ liệu lịch sử đối với các dạng tổ chức tương tự (các yếu tố phi
hệ thống) thì các yếu tố tác động đến từ bên ngoài lại vượt tầm kiểm soát của tổ chức
và có ít dữ liệu có sẵn hơn (các yếu tố hệ thống) nên có thể khiến các tổ chức dễ bị tổn
thương và tổn thất nặng nề về tài chính trong khi các bên liên quan đến hoạt động của
tổ chức đều mong đợi một tỷ suất sinh lời cao. Do vậy, bên cạnh việc xác định các yếu
tố tác động từ bên trong tổ chức, thì việc xác định các yếu tố tác động liên quan đến từ
bên ngoài là điều cần thiết cũng như thực hiện các giải pháp thích hợp để đối mặt với
những thách thức hoặc tận dụng các cơ hội từ chúng. Từ đó, hoạt động của tổ chức có
thể đáp ứng mục tiêu phát triển và mang lại lợi ích tốt hơn cho các bên liên quan.
Phân tích PESTLIED hoạt động tốt khi kết hợp cùng với phân tích SWOT
(Strengths - Weakenesses - Opportunities - Threats) vì phân tích SWOT cũng giúp chỉ
ra các yếu tố tác động từ bên trong tổ chức.
Đồng thời, nghiên cứu cũng kết hợp sử dụng phương pháp phân tích định lượng
cho dữ liệu bảng không cân bằng đối với các nền kinh tế thuộc APEC trong khoảng
thời gian từ năm 2000 đến năm 2015 để xem xét mối quan hệ giữa phát triển quỹ hưu
trí tự nguyện với sự tăng trưởng của TTCK tại các nền kinh tế thuộc APEC và phương
pháp thống kê mô tả kết quả khảo sát trực tuyến về sự lựa chọn của các cá nhân.
11
Hình 1.1 Khung quy trình nghiên cứu của luận án.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp.
12
1.6 Đóng góp của luận án
Luận án trình bày các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt
Nam theo mô hình PESTLIED, trong đó tổng hợp xu hướng cải cách hệ thống
hưu trí tại Việt Nam, phân tích thực trạng về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện
trên TTCK Việt Nam.
Luận án đánh giá mức độ ảnh hưởng của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đến
phát triển TTCK của các nền kinh tế thuộc APEC, kết quả nghiên cứu thực
nghiệm khẳng định ảnh hưởng của quỹ hưu trí tự nguyện đến phát triển TTCK
của các nền kinh tế thuộc APEC.
Luận án thực hiện khảo sát các cá nhân là công dân Việt Nam để phân tích thái
độ của cá nhân về chấp nhận rủi ro, mức độ am hiểu về quỹ hưu trí tự nguyện,
điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam.
Luận án phân tích triển vọng phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt
Nam và đề xuất một số khuyến nghị về điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự
nguyện trên TTCK Việt Nam.
1.7 Bố cục của luận án
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án được trình bày theo kết cấu 5 chương
cùng với danh mục tài liệu tham khảo và 7 phụ lục được sử dụng nhằm củng cố
thêm nội dung trình bày và phân tích của luận án.
Chương 1. Phần mở đầu
Chương 2. Cơ sở lý luận về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK
Chương 3. Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK: Bài học kinh
nghiệm từ các nền kinh tế APEC
hạn như ngân hàng, công ty bảo hiểm nhân thọ) áp dụng cho tất cả các cá nhân,
hoạt động trong khuôn khổ hệ thống quy định của pháp luật và cơ quan quản lý
14
giống như các quỹ đầu tư trên thị trường và được khuyến khích bởi chính sách
ưu đãi về thuế của Nhà nước (WB, 1994; WB, 2008).
Quỹ hưu trí tự nguyện là quỹ hưu trí chủ yếu do khu vực tư nhân quản lý, là các
quỹ được tài trợ do có sự tham gia đóng góp tự nguyện của người tham gia theo các
thỏa thuận quy định trong hợp đồng của các chương trình hưu trí theo mô hình DB hay
DC. Sự phát triển của các quỹ hưu trí tự nguyện đi cùng với xu hướng chuyển dần từ
mô hình DB sang mô hình DC (WB, 1994; Blommestein, 1997; OECD, 2004; WB,
2008; Hinz, Rudolph, Antolín & Yermo, 2010; OECD, 2011; Holzmann, 2012;
Mishkin, 2012).
2.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện trên thị
trường chứng khoán
Trong hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm, quy mô tài sản của quỹ hưu trí tự
nguyện là biến số được lựa chọn và sử dụng phổ biến nhất để đánh giá sự phát triển của
quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK. Còn mức độ phát triển của TTCK thường được thể
hiện thông qua hai chỉ tiêu đo lường là (i) độ sâu của TTCK được đại diện bởi quy mô
vốn hóa của TTCK so với GDP; và (ii) tính thanh khoản của TTCK được đại diện bởi
giá trị giao dịch của TTCK so với GDP (Catalan, Impavido & Musalem, 2000; Walker
& Lefort, 2002; Impavido, Musalem & Tresselt, 2003; Davis & Hu, 2008; Raddatz &
Schmukler, 2008); Hryckiewicz, 2009; Kim, 2010; Meng & Pfau, 2010; Liang & Bing,
2010; Rocholl & Niggemann, 2010; Raisa, 2012; Hu, 2012; Zandberg & Spierdijk,
2013; Sun & Hu, 2014).
2.3 Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên thị trường chứng khoán
Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK trở thành xu thế khách quan trọng
và được khuyến khích phát triển trong quá trình phát triển hoạt động tài chính của các
CHƯƠNG 3. PHÁT TRIỂN QUỸ HƯU TRÍ TỰ NGUYỆN TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TỪ CÁC NỀN KINH TẾ APEC
3.1 Giới thiệu tổng quan
Tại các nền kinh tế APEC được mô tả, trong giai đoạn 2000 - 2015, tốc độ tăng
trưởng bình quân của quy mô tài sản quỹ hưu trí tự nguyện hàng năm đều cao hơn tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm của quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu nội địa,
ngoại trừ tại Thái Lan, Singapore, Philippines, Indonesia. Như vậy, qua số liệu mô tả
giai đoạn 2000 - 2015 đã cho thấy sự tăng trưởng ngoạn mục của các quỹ hưu trí tự
nguyện trên thế giới nói chung và tại các nền kinh tế APEC nói riêng. Các quỹ hưu trí
tự nguyện đã tăng trung bình 5,5%/năm trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015 về
quy mô tài sản, trong khi vốn hóa TTCK tại các nền kinh tế APEC được mô tả tăng
trung bình khoảng 3%/năm.
Vậy, liệu tăng trưởng về quy mô tài sản của quỹ hưu trí tự nguyện đã góp phần
dẫn đến sự phát triển của TTCK tại các nền kinh tế APEC trong giai đoạn 2000 - 2015?
Và từ đó có thể đề xuất giải pháp khuyến nghị nào cho sự phát triển quỹ hưu trí tự
nguyện tại Việt Nam? Vấn đề này đưa tới nhiệm vụ tìm kiếm lời giải đáp thông qua
quá trình tiến hành nghiên cứu thực nghiệm của đề tài.
3.2 Mô tả dữ liệu
Từ việc tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu của nước ngoài, đề tài
cũng đã lựa chọn những biến số có số lần được sử dụng phổ biến, có số lần được đề
cập nhiều nhất, trong đó có bao gồm các biến số được lượng hóa, cụ thể hóa là các điều
kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK cũng như sự phát triển của TTCK để
xây dựng mô hình hồi quy nhằm phân tích đánh giá tác động của phát triển quỹ hưu trí
tự nguyện đến sự tăng trưởng của TTCK, bao gồm 7 biến số là (i) tỷ lệ lạm phát; (ii) lãi
17
suất dài hạn trên thị trường trái phiếu chính phủ; (iii) GDP bình quân đầu người; (iv)
18
i,t là biến giải thích tỷ lệ lạm phát (%) của nền kinh tế i tại thời điểm t ;
LTR i ,t là biến giải thích tỷ suất yêu cầu của thị trường liên quan đến trái phiếu
chính phủ có thời gian đáo hạn trong 10 năm (%) của nền kinh tế i tại thời điểm t ;
GDPPi ,t là biến giải thích thu nhập bình quân đầu người (USD) của nền kinh tế i
tại thời điểm t ;
EF i ,t là biến giải thích chỉ số tự do kinh tế (điểm) của nền kinh tế i tại thời
điểm t ;
OADR i ,t là biến tỷ lệ số người già phụ thuộc từ 65 tuổi trở lên trên 100 người
trong độ tuổi lao động (%) của nền kinh tế i tại thời điểm t ;
i là các tác động cố định đặc thù không được quan sát của nền kinh tế i ;
i,t là sai số ngẫu nhiên với i và t đại diện cho nền kinh tế và chiều thời gian
tương ứng.
3.4 Ý nghĩa của các biến số trong mô hình
(i) MK : Vốn hóa thị trường của các công ty nội địa niêm yết (% so với GDP)
Giá trị vốn hóa thị trường (còn gọi là giá trị thị trường) là giá hiện tại của cổ
phiếu thường nhân với số cổ phiếu thường đang lưu hành. Dữ liệu có giá trị được ghi
nhận vào cuối năm và được thu thập từ các công ty nội địa niêm yết. Số liệu của các
quỹ đầu tư, quỹ ủy thác và các công ty chỉ có mục tiêu kinh doanh là nắm giữ cổ phiếu
của các công ty niêm yết khác thì bị loại trừ. Tiêu chí này đại diện cho độ sâu của
TTCK (Catalan, Impavido & Musalem, 2000; Impavido, Musalem & Tresselt, 2003;
Hryckiewicz, 2009; Kim, 2010; Rocholl & Niggemann, 2010; Raisa, 2012).
(ii) : Tỷ lệ lạm phát (%/năm)
Tỷ lệ lạm phát được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng phản ánh tỷ lệ phần trăm
Chỉ số tự do kinh tế EF đánh giá 10 yếu tố cơ bản của mỗi nền kinh tế, bao gồm
tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự do tài chính, chi tiêu của chính phủ, tự do tiền
tệ, tự do đầu tư, tự do tài chính, quyền sở hữu, tự do không bị ảnh hưởng từ tham
nhũng, tự do lao động. Với điểm số 100 là sự tự do tối đa cho mỗi yếu tố được đánh
20
giá, điểm số 100 mang hàm ý về một môi trường kinh tế hay chính sách kinh tế có lợi
nhất dẫn đến tự do kinh tế. Trong nghiên cứu này, mức độ tự do kinh tế chung được
tính đơn giản từ điểm trung bình của 10 yếu tố cơ bản và được lựa chọn để trở thành
giá trị của biến giải thích EF .
(vi) OADR : Tỷ lệ người già phụ thuộc trên 100 người thuộc độ tuổi lao động
Chỉ số OADR được hiểu là tỷ lệ dân số già hóa (the ratio of population aging)
này được tính dựa trên tỷ số giữa số người từ 65 tuổi trở lên (độ tuổi chung mà ở đó
người lao động không hoạt động về mặt kinh tế) so với số người trong độ tuổi từ 15
tuổi đến 64 tuổi. Giá trị số liệu thu thập được thể hiện qua đơn vị tính trên 100 người
trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 64 tuổi).
(vii) PFA : Tài sản của quỹ hưu trí tự nguyện so với GDP
Tài sản của quỹ hưu trí tự nguyện PFA được định nghĩa là tài sản được mua kèm
với các khoản đóng góp vào kế hoạch hưu trí với mục đích duy nhất là để tài trợ cho
các khoản trợ cấp của chương trình hưu trí. Trong đó, quỹ hưu trí tự nguyện là một tập
hợp các tài sản PFA tạo thành một thực thể pháp lý độc lập. Chỉ số PFA này được tính
bằng đơn vị tiền tệ là triệu USD hoặc theo tỷ lệ phần trăm so với GDP.
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Việc ước lượng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng tuyến tính đơn giản có thể
được tiến hành thông qua việc sử dụng ba phương pháp: (i) với hằng số chung trong
phương trình hồi quy; (ii) cho phép có các tác động cố định; (iii) cho phép có các tác
động ngẫu nhiên.
3.6 Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
2,426735
-1,346719
15,52533
LTR
151
5,246457
2,77952
0,3466667
15,68075
21
GDPP
151
19.9947,82
17.387,59
151
23,93331
27,71412
0,305036
118,7
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ Stata 11.
Bảng 3.3 Ma trận tương quan giữa của các biến số.
MK
LTR
EF
GDPP
OADR
MK
PFA
1,000
-0,3751
1,000
0,0000
0,4231
-0,4602
-0,3826
0,7164
0,0000
0,0000
0,0000
0,0000
0,3434
-0,4615
-0,6610
0,7611
0,4631
0,0000
0,0000
1,000
1,0000
1,0000
1,0000
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ Stata 11.
Hơn nữa, để xác định liệu rằng hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến có tồn
tại hay không, việc kiểm định hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor VIF) được tiến hành để kiểm tra cho dữ liệu bảng thông qua lệnh Collin trong Stata 11.
Kết quả của kiểm định VIF (kiểm định sự tương quan giữa các biến độc lập trong mô
hình) cho thấy tất cả các hệ số đều nhỏ hơn 10 (Mean VIF = 3,22), điều này nghĩa là
hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra trong bộ số nghiên cứu (Kennedy, 1992).