1
c 1
c
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ HÀ VÂN
LÃNH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN
NHÀ NƯỚC
2
c 2
c
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ HÀ VÂN
Trần Thị Hà Vân
4
c 4
c
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG
6
1.1. Các công trình nghiên cứu về môi trường và bảo vệ môi trường
6
1.2. Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
đối với các lĩnh vực đời sống xã hội
20
NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
68
3.1. Thực trạng công tác bảo vệ môi trường ở nước ta
68
3.2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường - thực
trạng,
nguyên nhân và kinh nghiệm
76
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG
CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2030
112
4.1. Những thuận lợi, khó khăn và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường nước ta đến năm 2030
112
4.2. Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác
bảo vệ môi trường ở nước ta đến năm 2030
120
Chủ nghĩa xã hội
6
c 6
c
CTBVMT
HTCT :
MTST
:
Công tác bảo vệ môi trường
Hệ thống chính trị
:
Môi trường sinh thái
MTTQ :
Mặt trận Tổ quốc
PTLĐ :
Phương thức lãnh đạo
chính trị. Từ thực trạng đó, Đảng ta đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị về
BVMT và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một cách quyết liệt. Cụ thể, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết số 41NQ/TW ngày 15/11/2004 “Về bảo vệ môi trường
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nghị quyết chỉ
rõ: “Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hòa giữa
tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường;
mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên” [50,
tr.3]. Nghị quyết Đại hội Đại XII của Đảng tiếp tục khẳng định:
Ngăn chặn từng bước và khắc phục sự xuống cấp của môi trường do
con người, nhất là các dự án phát triển kinh tế gây ra. Hạn chế, tiến tới
8
8
khắc phục tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi
trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị. Ban
hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo
pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường... [60,
tr.31-32].
Thực hiện các nghị quyết, quan điểm, chủ trương nêu trên của Đảng; trong
thời gian qua, CTBVMT ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực: Nhà nước
đã cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết của Đảng
về BVMT thành chính sách, pháp luật, chương trình, đề án và tổ chức thực hiện
trong toàn xã hội. Nhận thức về BVMT của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc (MTTQ), các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
và nhân dân được nâng lên một bước; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự
cố về môi trường từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và đa
dạng sinh học có tiến bộ rõ rệt… Những chuyển biến tích cực và kết quả đó, đã
tạo tiền đề để Đảng lãnh đạo CTBVMT đạt kết quả lớn hơn trong thời gian tới.
Tuy nhiên, công tác BVMT còn nhiều hạn chế, yếu kém; ý thức BVMT
bảo vệ môi trường giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo CTBVMT, luận án đề xuất giải pháp chủ yếu tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ
-
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra kết quả đạt
được và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ.
-
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
CTBVMT trong giai đoạn hiện nay;
-
Khảo sát, đánh giá thực trạng CTBVMT và thực trạng Đảng lãnh đạo CTBVMT
ở nước ta trong những năm qua; chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và
kinh nhiệm.
-
Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với CTBVMT đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
-
Khái niệm: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT là toàn bộ hoạt động
của Đảng, như: xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị về BVMT; quán triệt,
11
11
tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức đảng và đảng
viên, các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT), tổ chức xã hội, tổ chức kinh
tế và nhân dân theo quy định làm cho môi trường trong lành, cân bằng, bền
vững.
-
Hai kinh nghiệm về Đảng lãnh đạo CTBVMT từ năm 2004 đến nay. Một là, tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc huy động và phát huy sức mạnh tổng
hợp của HTCT, các tổ chức, và toàn dân, mọi nguồn lực trong và ngoài nước để
BVMT. Hai là, Đảng đặc biệt coi trọng lãnh đạo việc xử lý kịp thời, nghiêm
minh những tổ chức và cá nhân vi phạm Luật BVMT.
-
Hai giải pháp đột phá tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT đến
năm 2030: thứ nhất, xây dựng Nhà nước và chính quyền các cấp vững mạnh, bảo
đảm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về BVMT. Thứ hai, xây dựng và
phát huy vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là các đảng
bộ xã, phường, thị trấn thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân
dân BVMT.
[92].
Các tác giả nhận định, sự phát triển của loài người song hành cùng sự phát
triển của khoa học công nghệ, của máy móc hiện đại đã để lại nhiều tác động đến
môi trường. Tác giả đã giành chương 4 tập trung cho vấn đề đạo đức môi trường,
bàn về khía cạnh đạo đức trong BVMT. Từ thực trạng của sự suy thoái môi
trường hiện nay, tác giả luận giải, con người là nạn nhân của ô nhiễm, nhưng
chính bản thân họ cũng là những thủ phạm gây nên những thảm họa về môi
trường. Trong quá trình sinh sống do khai thác tài nguyên, thiên nhiên không hợp
lý làm cho môi trường tự nhiên bị suy kiệt; do thiếu ý thức mà con người xả rác
bừa bãi, nhận thức và ý thức BVMT kém đã làm cho môi trường bị suy thoái
ngày càng nghiêm trọng
-
Đỗ Thị Ngọc Lan, “Môi trường tự nhiên trong hoạt động cuộc
sống của con người” [99]. Tác giả nhận định: con người và xã hội loài người là
bộ phận đặc biệt của tự nhiên, cho nên trước khi biến đổi được tự nhiên con
người cần phải thích nghi được với nó; nhưng trong thực tế, con người hầu như
không quan tâm tới mối liên hệ biến đổi và thích nghi, bất chấp quy luật tự
nhiên, bất chấp sự giới hạn của giới tự nhiên và môi trường. Theo tác giả, chính
13
13
sự khai thác tài nguyên quá mức của con người đã làm suy thoái môi trường; phá
vỡ tính đa dạng sinh học; hủy hoại các hệ sinh thái.
Tác giả khẳng định, để phát triển bền vững mối quan hệ thích nghi và biến
đổi môi trường tự nhiên, cần có những giải pháp đồng bộ; như, giữ tỷ lệ tăng dân
số một cách hợp lý; trong sự tăng trưởng kinh tế cần có sự cân nhắc giữa chi phí
của con người đối với môi trường hạn chế. Để BVMT cần phải thay đổi quan
niệm về tự nhiên; coi vấn đề giáo dục trở thành một nột dung quan trọng trong
chương trình giáo dục và đào tạo.
Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn, “Vấn đề môi trường trong phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội theo hướng bền vững ở Việt Nam” [149].
Các tác giả đã phân tích và nhận định: tài nguyên, môi trường, một mặt, là
cơ sở nền tảng của sự phát triển xã hội, bao gồm phát triển kinh tế và các lĩnh
vực xã hội ngoài kinh tế; mặt khác, tài nguyên, môi trường là một bộ phận cấu
thành của một hệ thống kinh tế xã hội; BVMT là bảo vệ nguồn lợi và nguồn vốn
của con người thu được từ thiên nhiên.
Các tác giả đã dành một chương để trình bày kết quả nghiên cứu thực
trạng những vấn đề môi trường và nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường; cụ
thể là, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chủ yếu dựa vào khai thác, sử dụng nhiều
TNTN mà không quan tâm đến việc sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT. Điều
đó đã dẫn đến tình trạng tàn phá, hủy diệt, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên; môi
trường nước, không khí, rác thải ở cả đô thị và nông thôn bị ô nhiễm nghiêm
trọng gây nhiều hệ lụy cho sự phát triển kinh tế, xã hội và ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khỏe con người; trong khi đó, việc quản lý nhà nước về môi trường còn
nhiều bất cập.
-
Nguyễn Thị Khương, “Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp
giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay”
[97].
Dưới góc độ triết học, tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ biện chứng
giữa tăng trưởng kinh tế với BVMT sinh thái và khẳng định: tăng trưởng kinh tế
tác động tới bảo vệ MTST thông qua yếu tố người lao động, tài nguyên thiên
nhiên, khoa học và công nghệ - là những yếu tố cơ bản quyết định tới sự tăng
trưởng của nền kinh tế và ảnh hưởng tới quá trình bảo vệ MTST. Ngược lại,
Tác giả chỉ rõ, mức độ nguy hiểm của biến đổi khí hậu toàn cầu và suy
giảm môi trường; trong đó, Việt Nam là nước ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo tác
giả, nguyên nhân dẫn tới môi trường bị suy giảm, ngoài yếu tố khách quan có
nguyên nhân chủ quan thuộc về nhận thức và ý thức của người dân và chủ doanh
nghiệp. Việc BVMT để phát triển bền vững là trách nhiệm của cả HTCT, của
toàn dân, mà trước hết là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng.
Lê Thị Thanh Hà,“Vai trò của nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt
Nam” [69].
16
16
Tác giả khái quát đặc điểm của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn ở Việt Nam, chỉ rõ những tác động tiêu cực của CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn đến môi trường nước ta hiện nay, như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp tác động trực tiếp đến môi trường; quá trình đô thị hóa đã thu hẹp
tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp; dân số tăng cộng với các dịch vụ khác đã
gây sức ép lớn cho môi trường; sự phát triển của làng nghề làm gia tăng chất thải
nguy hại; tác động của việc khai thác khoáng sản làm nảy sinh vấn đề môi trường
bức xúc. Tác giả khẳng định vai trò của nhà nước trong CTBVMT thời gian qua
và chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật BVMT; hạn chế của tổ chức bộ
máy; hạn chế trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia BVMT...
Trương Mạnh Tiến, “Sự phát triển của thương mại tự do trong điều
kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay với vấn đề bảo vệ môi trường sinh
thái” [159].
Tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về tự do
thương mại và bảo vệ MTST ở nước ta. Khi nghiên cứu về nền kinh tế thị trường
và quá trình tự do hóa thương mại, tác giả phân tích mối quan hệ biện chứng giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Trên cơ sở đó, tác giả đi đến
phần gây ô nhiễm… là vấn đề cấp bách hiện nay cần có những giải pháp căn cơ
để khắc phục.
Nguyễn Thị Nga, “Vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam hiện nay” [121].
Tác giả phân tích những đặc điểm của môi trường tự nhiên ở nước ta; chỉ
rõ nội dung cơ bản của công tác BVMT trong tiến trình CNH, HĐH ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay; tác giả đánh giá hiện trạng và hoạt động của môi trường
tự nhiên liên quan đến các lĩnh vực như: tài nguyên đất, tài nguyên nước; tài
nguyên khoáng sản; tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; chỉ rõ những ưu điểm
và hạn chế của nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân đối với việc bảo vệ
môi trường tự nhiên.
Trên cơ sở đó, tác giả đề ra các nhóm giải pháp để BVMT trong tiến trình
CNH, HĐH; trong đó, coi trọng giải pháp tăng cường vai trò của nhà nước đối
với hoạt động này; như, hoàn thiện hệ thống pháp luật; tăng cường, nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT tự nhiên; vận dụng kinh nghiệm của các
nước đi trước trong BVMT và tăng cường đầu tư nguồn tài chính cho CTBVMT.
-
Nguyễn Hữu Cát, Vương Cường, “Khảo sát thực trạng quản lý
Nhà nước về môi trường tại một số tỉnh phía Nam ở nước ta hiện nay” [23].
18
18
Các tác giả đã đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi
trường qua khảo sát ở một số tỉnh phía Nam, chỉ rõ những yếu kém, bất cập trong
lĩnh vực quản lý, bảo vệ và tái tạo môi trường của hệ thống pháp luật ở nước ta,
yếu kém của đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực môi trường. Trên cơ sở
đó, các tác giả đề xuất hệ thống giải pháp để thực hiện tốt công tác quản lý môi
phát triển kinh tế gắn với môi trường chưa chú trọng đúng mức, dẫn đến ô nhiễm
19
19
môi trường ở Việt Nam ngày càng nghiêm trọng, nóng bỏng và là vấn đề gây bức
xúc trong dư luận xã hội. Theo tác giả, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng
nghiêm trọng là do bất cập của cơ chế, chính sách; quyền hạn pháp lý của các cơ
quan BVMT chưa đủ mạnh; chính quyền chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng
của CTBVMT. Giải quyết được tình trạng này, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật về BVMT, trong đó các chế tài xử phạt phải đủ sức răn đe; tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường; chú trọng công tác quy hoạch
khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động,
giáo dục nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm BVMT.
-
Trần Thị Thu Hường, “Tăng cường hiệu quả xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” [90].
Trên cơ sở nghiên cứu Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, tác giả chỉ rõ tám
nhóm hành vi vi phạm chính về quy định BVMT gồm: hành vi vi phạm về kế
hoạch BVMT, đánh giá tác động môi trường; hành vi gây ô nhiễm môi trường;
hành vi vi phạm về xử lý chất thải; hành vi vi phạm về quy định BVMT của các
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ và khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh doanh dịch vụ tập trung; hành vi vi phạm
quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị; hành vi vi
phạm trong hoạt động lễ hội, du lịch và khai thác khoáng sản... Tác giả cho rằng,
việc xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra
và xử phạt của Nghị định 155, đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức thiết, góp phần
thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm quy định về môi trường
từng bước cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
trên nhiều lĩnh vực, tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng nông thôn mới, trong đó có BVMT. Tuy nhiên, theo tác giả, ở nhiều nơi
người dân chưa biết được việc xử lý, BVMT trên địa bàn của mình như thế nào
nên cũng không thể bàn và kiểm tra, do các khu công nghiệp, khu chế xuất và
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bao bọc, khép kín và người dân
bất khả xâm phạm. Tác giả nhận định, trách nhiệm trước hết là do người đứng
đầu cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan tham mưu, thẩm định dự án
về môi trường; các tổ chức đoàn thể chưa đủ chuyên môn về môi trường để giám
sát và phản biện. Tác giả cho rằng, để thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong công tác BVMT cần phải có các quy chế, quy
định mang tính pháp quy; phát huy hơn nữa thế mạnh của các phương tiện thông
tin đại chúng; việc công khai phê bình các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp về vi phạm BVMT trên báo chí cần phải được tái lập, đây là những giải
pháp thiết thực để nhân dân tham gia công tác BVMT.
Bùi Cách Tuyến, “Giám sát xã hội và bảo vệ môi trường ở Việt
Nam” [164].
21
21
Tác giả đã nhận định: để nâng cao hiệu quả của CTBVMT thì một trong
những biện pháp cần được thực hiện thường xuyên đó là làm tốt chức năng giám
sát xã hội đối với hoạt động này. Tác giả xác định rõ, chủ thể của giám sát xã hội
là MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cá nhân, công
dân hoặc cộng đồng dân cư, các cơ quan truyền thông đại chúng. Đối tượng chịu
sự giám sát xã hội là cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất
kinh doanh, họ có nghĩa vụ chấp hành Luật BVMT.
Theo tác giả, thời gian qua, hoạt động giám sát xã hội về BVMT ở Việt
Nam đã được tiến hành khá tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn
nước; cụ thể như, so sánh về mô hình tổ chức và hoạt động của chính phủ trong
quản lý nhà nước về môi trường, thông qua nghiên cứu điển hình và phân tích
chuyên sâu về các mô hình tổ chức này tại Hàn Quốc và Việt Nam trong mỗi giai
đoạn phát triển kinh tế, xã hội khác nhau. Từ đó, tác giả khẳng định những kinh
nghiệm của Hàn Quốc trong BVMT mà Việt Nam cần ưu tiên vận dụng đó là:
cần quyết liệt và nhanh chóng triển khai các chính sách phòng ngừa ô nhiễm môi
trường trong tất cả các ngành kinh tế; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đặc
biệt là công tác kiểm tra, giám sát, kiềm chế ô nhiễm môi trường thông qua một
đầu mối để tránh sự chồng chéo, trùng lắp và tiết kiệm ngân sách; cải cách mạnh
mẽ chính sách phí và thuế môi trường.
Trần Thị Duyên, “Các giải pháp, chính sách của Đài Loan đối với các
vấn đề môi trường” [41].
Tác giả phân tích và chỉ rõ, kế hoạch BVMT mang tính tổng thể đã được
chính quyền Đài Loan đặc biệt lưu tâm từ năm 1990. Luật BVMT ở Đài Loan
không chỉ tiến bộ về mặt tinh thần mà còn phối hợp với cơ chế kiểm soát môi
trường hiện đại để hạn chế những tác động xấu của các vấn đề môi trường đặt ra.
Bài viết đã phân tích cụ thể các chính sách của chính phủ Đài Loan đối với việc
BVMT không khí và tầng ozone; chính sách BVMT nước, kiểm soát tiếng ồn;
chính sách, biện pháp để giảm thiểu và tái chế rác thải... Tác giả nhấn mạnh, vấn
đề môi trường là vấn đề manh tính toàn cầu; vì vậy, để giải quyết triệt để vấn đề
này, không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của riêng Đài Loan, mà cần có sự hợp tác của tất
cả các nước trên thế giới để vừa phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giữ vững môi
trường sinh thái.
23
23
Phạm Thị Xuân Mai, “Đối sách của Trung Quốc trước các vấn đề
môi trường” [114].
Tác giả nhận định, Trung Quốc hiện đang trong giai đoạn phát triển nhanh
những công cụ để thể hiện được sự giao thoa giữa hoạt động kinh tế và điều kiện
24
24
môi trường; thứ ba, chú trọng tính kết nối và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố,
đặc biệt là tính kết nối sinh thái, sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế
- xã hội; thứ tư, quy hoạch BVMT cần phải dự báo và kiểm soát ảnh hưởng tiềm
tàng của phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã
hội đang diễn ra nhanh và tất yếu hiện nay.
1.1.2. Công trình khoa học ở nước ngoài
-
Hilary French, “After the Earth Summit: the Future of
Environmental Governance”, “Tương lai của công tác quản lý nhà nước về môi
trường sau Hội nghị thượng đỉnh trái đất” [175].
Cuốn sách đã tổng hợp tiến trình phát triển quản lý nhà nước về BVMT
trên thế giới. Từ việc khẳng định vai trò quản lý nhà nước đối với CTBVMT, tác
giả nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và
công tác quản lý nhà nước về môi trường để giải quyết các vấn đề về môi trường
do đặc tính “xuyên biên giới” và quy mô toàn cầu của vấn đề này. Đặc biệt, tác
giả chỉ rõ những thành tựu và khó khăn, thách thức đặt ra đối với CTBVMT
trong bối cảnh toàn cầu hóa và vấn đề biến đổi môi trường theo chiều hướng xấu
diễn ra mạnh mẽ khắp toàn cầu. Trên cơ sở đó, cuốn sách đã đưa ra một số kết
luận quan trọng, cần tham khảo cho CTBVMT của các quốc gia; cụ thể, thể chế
hóa hoạt động BVMT, đưa quy định trách nhiệm BVMT vào Hiến pháp để nâng
cao hiệu quả của công tác này; nỗ lực của toàn cầu và khu vực nhằm giải quyết
hiệu quả những khó khăn, thách thức về nguồn lực tài chính cho hoạt động
BVMT; không lạm dụng các nguồn tài nguyên và đòi hỏi quá mức về môi trường
strategies for sustainable development” (môi trường và sinh kế - các chiến lược
phát triển bền vững [171].
Với kết cấu 5 chương, cuốn sách phản ánh mối quan hệ giữa đói nghèo và
những thay đổi về môi trường; phân tích và khái quát lý thuyết về môi trường và
phát triển, nhất là phát triển bền vững. Theo tác giả, phát triển bền vững dựa vào
ba yếu tố cốt lõi: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, BVMT và TNTN. Tác giả
cho rằng, hệ sinh thái và nơi sinh sống của các loài động thực vật hoang dã sẽ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng nếu môi trường bị ô nhiễm, TNTN bị hủy diệt; ngoài ra,
còn ảnh hưởng đến đất canh tác và hiện tượng thiếu nước ngọt. Điều này, đã dẫn
đến những biến động xã hội chưa từng thấy mà những người nghèo và cộng đồng
trực tiếp sống dựa vào TNTN phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất; tình trạng này
đang xảy ra ở phần lớn các nước đang phát triển. Từ đó, tác giả khẳng định: môi
trường cần thiết cho sự sống của con người, nếu không bảo vệ được môi trường