VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM TUẤN ANH
TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
HÀ NỘI 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM TUẤN ANH
TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
Ngành: Tôn giáo học
Mã số: 9.22 90 09
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. Nguyễn Hồng Dƣơng
Chƣơng 4: DỰ BÁO TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ MỘT SỐ
KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC
TÔN GIÁO Ở HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI ............................................... 124
4.1. Dự báo tình hình tôn giáo và CTTG ở Hà Nội thời gian tới .................. 124
4.2. Một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTG ở Hà
Nội trong thời gian tới ................................................................................... 132
KẾT LUẬN .................................................................................................. 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 149
PHỤ LỤC
CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW:
Ban Chấp hành Trung ương
BBTTW:
Ban Bí thư Trung ương
BTG:
Ban Tôn giáo
CBCC:
Cán bộ, công chức
CNH:
KHXH:
Khoa học xã hội
LLCT:
Lý luận chính trị
MTTQ:
Mặt trận Tổ quốc
MTTQVN:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nxb:
Nhà xuất bản
PGVN:
Phật giáo Việt Nam
QLNN:
Quản lý nhà nước
TTCP:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Thành phố Hà Nội là đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm
lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế, là nơi đặt trụ sở của
các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã
hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các
hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của nhà nước.
Cũng như các địa phương khác trên cả nước, các tôn giáo từng bước du
nhập, hình thành và phát triển ở Hà Nội. Các tôn giáo ở Hà Nội, tuy số lượng
không nhiều, chiếm tỷ lệ không cao trong dân số, nhưng lại có vị trí đặc biệt
quan trọng. Hầu hết các tôn giáo lớn đều có trụ sở tại Hà Nội, như trụ sở Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đặt tại số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn
Kiếm; Học viện Phật giáo Việt Nam tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn; Trường
Trung cấp Phật học tại chùa Mỗ Lao, quận Hà Đông; Toà Giám mục Hà Nội
tại số 40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, đồng thời là trụ sở Văn phòng I
của Hội đồng Giám mục Việt Nam; Toà Giám mục Hưng Hoá tại số 5, phường
Lê Lợi, thị xã Sơn Tây; Đại Chủng viện Thánh Giuse với 2 cơ sở: cơ sở 1 tại số
40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm và cơ sở 2 tại phường Cổ Nhuế, quận
Bắc Từ Liêm; Văn phòng Uỷ ban Bác ái và Văn phòng của tổ chức Caritas tại
số 31 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm; Trụ sở Tổng hội Hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Hà Nội, đặt tại số 2 Ngõ Trạm,
quận Hoàn Kiếm; Thánh thất Cao Đài Thủ đô tại số 48 phố Hòa Mã, quận Hai
Bà Trưng; Thánh đường Hồi giáo Al-Noor Hà Nội tại số 12 phố Hàng Lược,
quận Hoàn Kiếm. Ngoài ra, người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại
các tập đoàn kinh tế, các tổ chức văn hóa, các tổ chức quốc tế và các cơ quan
đại diện ngoại giao.
Trên địa bàn Hà Nội, ngoài các tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp
nhân đang hoạt động, gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo (Islam
giáo), đạo Cao đài, Minh sư đạo, Baha’i và Giáo hội các Thánh hữu ngày sau
Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, các
cấp ủy đảng, chính quyền Hà Nội luôn quan tâm, coi trọng đến CTTG, coi đó
là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, có tầm quan trọng đặc
2
biệt đối với sự ổn định chính trị, xã hội, sự phát triển bền vững của Hà Nội và
đất nước. Thời gian qua, CTTG ở Hà Nội đã đạt được những kết quả bước
đầu rất quan trọng, góp phần giữ vững ổn định, an ninh, chính trị trên địa bàn.
Song, bên cạnh đó CTTG vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ từ cấp thành
phố đến cấp cơ sở. Nhận thức về vị trí, vai trò của CTTG trong một bộ phận
đảng viên, cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế, công tác quản lý nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo còn lúng túng, hiệu quả chưa cao, còn để xảy ra
những vụ việc đáng tiếc, ví như vụ nhóm trẻ tình thương tại chùa Bồ Đề
(quận Long Biên) vừa qua; việc giải quyết các vấn đề tôn giáo nảy sinh ở một
số địa phương trên địa bàn thành phố thiếu kiên trì, gây nên tâm lý nghi ngờ,
hoang mang trong quần chúng tín đồ và chức sắc, ảnh hưởng đến khối đại
đoàn kết toàn dân. Bởi vậy, rất cần thiết có những nghiên cứu chuyên sâu, cơ
bản nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề tôn giáo và
CTTG ở Hà Nội dưới góc độ tôn giáo học hiện nay.
Với lý do đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Tôn giáo và công tác tôn
giáo ở Hà Nội hiện nay” cho đề tài luận án Tiến sỹ Tôn giáo học của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục tiêu:
Trên cơ sở lý luận phân tích, làm rõ thực trạng tình hình tôn giáo và
CTTG ở Hà Nội, luận án dự báo tình hình tôn giáo, một số xu hướng tôn giáo
và CTTG ở Hà Nội trong thời gian tới và đề xuất một số khuyến nghị giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả CTTG trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ:
Làm rõ tình hình, đặc điểm của các tôn giáo và thực trạng CTTG ở Hà
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ bổ sung vào kinh nghiệm thực tiễn
trong CTTG tại một địa phương nhất định, có thể trở thành tài liệu tham khảo
trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo và CTTG tại các viện nghiên
cứu tôn giáo, trường chính trị các tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị và các cơ
quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến lĩnh vực tôn giáo....
6. Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách tổng thể về tình hình, đặc
điểm và hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn Hà Nội, cùng với sự đánh
giá thực trạng CTTG ở Hà Nội, một Thành phố có khá nhiều đặc trưng cả về
4
hoạt động của các tôn giáo cũng như CTTG so với các địa phương khác trên
cả nước.
Luận án đưa ra dự báo tình hình tôn giáo, một số khuyến nghị giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả CTTG ở Hà Nội trong thời gian tới, góp phần bổ
sung làm phong phú thêm CTTG cho các cơ quan của Đảng, chính quyền Nhà
nước và các tổ chức chính trị - xã hội có liên quan đến lĩnh vực tôn giáo cả về
lý luận và thực tiễn.
7. Nội dung của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm 04 chương và 10 tiết.
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về tôn giáo nói chung và ở Hà Nội
vận mệnh của các hoạt động truyền giáo thời kỳ Triều Nguyễn (1802-1883).
Trọng tâm của cuốn sách là những phản ứng khác nhau của nhà nước phong
kiến Việt Nam đối với việc truyền bá Kitô giáo và những vấn đề hệ lụy của
nó. Với một lối phân tích và nhìn nhận vấn đề khá thuyết phục, cuốn sách có
đóng góp trong phân tích sự phản ứng của người Việt đối với Công giáo trong
khung cảnh cuộc đấu tranh của họ chống lại những kẻ xâm lược.
Tác phẩm: “Kitô giáo ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hồng Dương, Nxb
Tôn giáo, Hà Nội, 2008, đã hệ thống một cách khá toàn diện về quá trình hình
thành, phát triển các cộng đoàn cũng như đời sống tôn giáo của Kitô giáo
(Công giáo và Tin lành) từ khi du nhập cho tới trước khi Hà Nội được mở rộng
năm 2008. Tác phẩm đã làm rõ về hoạt động truyền giáo, phát triển đạo Công
giáo ở Hà Nội từ đầu cho đến nay cùng với một số đóng góp trên lĩnh vực văn
hóa của Công giáo ở Hà Nội và quá trình hình thành, phát triển cũng như đời
sống tôn giáo của đạo Tin lành ở Hà Nội.
Tác phẩm: Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội của tác giả
Đỗ Quang Hưng, Nxb Hà Nội, 2010, là công trình đầu tiên đề cập khá đầy đủ
và hệ thống về tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Hà Nội trong lịch sử và hiện tại.
Tác phẩm đã nêu lên được đặc điểm “không gian thiêng” của Thăng Long –
Hà Nội với “kết cấu ba vòng” được kết hợp hài hòa với một “không gian
quyền lực” xã hội của Kinh thành và làm rõ đặc điểm của 7 tôn giáo ở Hà Nội,
gồm: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài và Islam
giáo từ khi du nhập đến năm 2007, làm sâu sắc “đời sống tôn giáo, tín
ngưỡng” của Thăng Long - Hà Nội qua ba giai đoạn: không gian tôn giáo của
xã hội cổ truyền, thời cận đại và thời kỳ hiện nay (thời điểm nghiên cứu 2010).
Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống
đạo đức ở nước ta hiện nay của tác giả Ngô Thị Lan Anh, Học viện CT- HC
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2011, đã phân tích khái quát nội dung phạm
7
8
Phật giáo và Phụ nữ, làm rõ thực trạng và vấn đề đặt ra của sự ảnh hưởng qua
lại giữa Phật giáo Việt Nam và Phụ nữ Việt Nam qua khảo sát thực tế ở một
số tỉnh phía Bắc hiện nay. Từ đó, luận án dự báo xu hướng của mối quan hệ
này, rút ra những vấn đề cần quan tâm và đề xuất một số khuyến nghị nhằm
phát huy mặt tích cực và giảm thiểu mặt hạn chế của mối quan hệ giữa Phật
giáo và Phụ nữ hiện nay.
Tác phẩm: Bách khoa thư Hà Nội - phần Hà Nội mở rộng của Thành ủy
- HĐND - UBND Thành phố Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 2017, là công trình gồm 14 tập, ở tập 10 công trình đề cập đến tín
ngưỡng, tôn giáo ở vùng Hà Nội mở rộng (tỉnh Hà Tây cũ) đã cung cấp một
bức tranh toàn cảnh về tín ngưỡng, tôn giáo vùng Hà Nội mở rộng từ quá
trình du nhập, hình thành, phát triển đến thực trạng hiện nay. Trên cơ sở đó, ở
một mức độ nhất định, công trình đã nêu lên đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng,
tôn giáo ở vùng này trong sự thống nhất và đa dạng của tín ngưỡng, tôn giáo
ở Việt Nam. Tuy nhiên, về các tôn giáo thì công trình này cũng chỉ đề cập,
giới thiệu khái quát về sự ra đời và phát triển, hệ thống tổ chức, giáo lý, giáo
luật của các tôn giáo, gồm: Phật giáo, Công giáo và Đạo giáo.
Cho đến nay, dù đã có nhiều tư liệu gián tiếp hay trực tiếp liên quan đến
tôn giáo ở Hà Nội, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ và toàn diện về diện mạo của tôn giáo ở địa bàn Hà Nội trong những
năm gần đây. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về các tôn giáo ở Việt
Nam nói chung và một số tôn giáo cụ thể ở Hà Nội nêu trên, cũng sẽ cung cấp
giúp cho luận án một nền tảng lý luận và cơ sở khoa học quan trọng để xem
xét, đánh giá diện mạo của các tôn giáo ở Thủ đô Hà Nội.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về CTTG nói chung và ở Hà Nội
Luận văn thạc sĩ: Kinh nghiệm giải quyết một số hiện tượng phức tạp trong
hoạt động của đạo Công giáo ở Thủ đô Hà Nội từ năm 1993 đến nay của tác giả
liên quan đến tôn giáo và vấn đề đối ngoại tôn giáo. Trong đó, trước mắt cần
giải các vấn đề, như: Thể chế hóa hơn nữa quyền tự do tôn giáo; Xác định rõ
mô hình nhà nước thế tục; Cần có luật về pháp nhân tôn giáo để giải quyết
vấn đề đa dạng hóa tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; Chính sách để các tôn giáo
tham gia xã hội hóa giáo dục, y tế, hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và sớm
hoàn thiện, ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
10
Tập bài giảng tôn giáo và công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở
Việt Nam do Ban Tôn giáo Chính phủ biên soạn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,
2005, đã giới thiệu đặc điểm chung về tôn giáo ở Việt Nam, những tôn giáo
lớn và nội dung QLNN về tôn giáo. Theo tác giả của Tập bài giảng này, nội
dung QLNN về tôn giáo bao gồm: xây dựng chính sách về tôn giáo và thể chế
chính sách đó bằng các văn bản quy phạm pháp luật; Giám sát các hoạt động
tôn giáo đúng quy định của pháp luật; tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo, bồi
dưỡng nhân lực để thực thi bộ máy quản lý đó.
Đề tài cấp Bộ: Quản lý Nhà nước về tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên của
tác giả Ngô Văn Minh, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Đà Nẵng,
2009, đã làm rõ một số vấn đề về lý luận QLNN đối với hoạt động tôn giáo
trong thời kỳ đổi mới ở nước ta. Khảo sát hoạt động tôn giáo và công tác
QLNN về tôn giáo tại các tỉnh Tây Nguyên từ tháng 6/2004 đến tháng 6/2009,
qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường công tác QLNN về tôn
giáo tại Tây Nguyên. Đề tài đã góp phần vào việc tổng kết thực tiễn 5 năm thực
hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo tại một khu vực có tính đặc thù về vấn đề
tôn giáo - dân tộc là Tây Nguyên.
Tác phẩm: Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin đến thực tiễn Việt
Nam của tác giả Ngô Hữu Thảo, Nxb CT - HC, Hà Nội, 2012, đã phân tích làm
sâu sắc những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
với tính cách là cơ sở lý luận của chính sách và CTTG của Đảng, Nhà nước và
phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
vận động hàng ngũ chức việc trong công tác vận động quần chúng tín đồ
Công giáo ở Hà Nội.
Tác phẩm: Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Những vấn đề lý luận cơ bản của tác giả Nguyễn Hồng Dương (Chủ biên), Nxb
Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2014. các tác giả đã phân tích,
đánh giá, tiến trình nhận thức, hình thành quan điểm của Đảng về tôn giáo từ
năm 1930 đến nay, đưa ra những vấn đề còn bất cập về CTTG và chính sách tôn
giáo hiện nay. Hơn nữa, các tác giả cũng đưa ra cụ thể được những thành tựu và
những vấn đề mới đặt ra trong thực hiện chính sách tôn giáo, đòi hỏi Đảng và
Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách đối với tôn giáo trong tình hình mới.
12
Tác phẩm: Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền của tác giả Đỗ
Quang Hưng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, là một công trình tổng kết
thực tiễn đời sống tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta trong
thời kỳ đổi mới. Ngoài những vấn đề thuộc khung lý thuyết cơ bản, tác giả đã
trình bày toàn cảnh đời sống tôn giáo Việt Nam hiện nay, làm rõ những vấn
đề đặt ra trong mối quan hệ Nhà nước với các giáo hội, khảo sát, đánh giá
những chuyển biến trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo, nêu lên
những vấn đề đặt ra cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tôn giáo. Tác
giả cũng gợi mở một vấn đề quan trọng khác là nỗ lực mô hình hóa một nhà
nước pháp quyền về tôn giáo trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Luận án tiến sĩ: Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975
đến nay của tác giả Bùi Hữu Dược, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014,
đã góp phần làm rõ tính tất yếu và yêu cầu đổi mới QLNN về tôn giáo trong
quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời
làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong QLNN về tôn
giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2013, từ đó đưa ra dự báo tình hình
tôn giáo Việt Nam và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về tôn
hoạt động tôn giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Tác phẩm: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
tôn giáo của tác giả Nguyễn Hồng Dương, Nxb KHXH, Hà Nội, 2015, đã làm
sâu sắc quan điểm, chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam
qua các giai đoạn cách mạng: 1930-1954; 1954-1975; 1975-1990, đặc biệt là
giai đoạn từ thời kỳ đổi mới chính sách tôn giáo năm 1990 đến nay. CTTG
của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới được tác giả phân tích làm sâu
sắc hơn thể hiện trong bốn văn bản quan trọng của Đảng, đó là Nghị quyết số
24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường CTTG trong
tình hình mới; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 02/7/1998 của Bộ Chính trị về
CTTG trong tình hình mới; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về CTTG và Cương
lĩnh (1991, 2011), các Văn kiện Đại hội Đảng qua các thời kỳ.
Tác phẩm: Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước
về tôn giáo và Công giáo Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện
nay của đồng tác giả Hoàng Minh Đô và Đỗ Lan Hiền, Nxb LLCT, Hà Nội,
2015, các tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu những thành tựu trong chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là về Công giáo.
14
Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách pháp luật về tôn giáo
và Công giáo, nổi bật là vấn đề các chính sách, pháp luật không ngừng được
xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, việc giải quyết và công nhận tư
cách pháp nhân cho nhiều tôn giáo và các tổ chức tôn giáo, vấn đề đối ngoại
và các lĩnh vực khác trong việc thực hiện chính sách tôn giáo.
Tác phẩm: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam của tác giả Nguyễn
Thanh Xuân, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2015, tác giả đã hệ thống chính sách tôn
giáo Việt Nam qua các thời kỳ và việc thực hiện chính sách tôn giáo, nhất là từ
khi đổi mới đến nay. Tác giả khẳng định, việc thực hiện chính sách đổi mới của
3. Những vấn đề đặt ra đối với CTTG ở Hà Nội cần phải khắc phục, giải
quyết trong thời gian tới là gì?
4. Cần phải có những giải pháp gì để khắc phục những vấn đề hiện nay
nhằm nâng cao hiệu quả CTTG của Hà Nội trong thời gian tới?
1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu
CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA HÀ NỘI
Lý thuyết thực thể
tôn giáo
Thực trạng và đặc
điểm tôn giáo
Lý thuyết cấu trúc chức năng
Công tác tôn giáo
Lý thuyết về
xung đột
Khuyến nghị
giải pháp
Biểu đồ 1.1: Mô hình hóa lý thuyết nghiên cứu
Lý thuyết thực thể tôn giáo: Lý thuyết này cho phép luận án xem tôn giáo
là một thực thể xã hội đặc biệt, bao gồm ba bộ phận cấu thành: niềm tin vào cái
thiêng, việc thực hành gắn với niềm tin đó và cộng đồng người có cùng niềm
tin vào cái thiêng. Vận dụng lý thuyết này, luận án sẽ triển khai nghiên cứu về
diện mạo tôn giáo ở Hà Nội trên ba phương diện là: Quá trình hình thành, phát
triển; cộng đồng tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Nói cách khác, lý thuyết này
cho phép luận án nghiên cứu về tôn giáo ở Hà Nội với tư cách là những thực
thấy được quá trình truyền bá đức tin (truyền giáo), tiếp nhận đức tin (gia
nhập đạo) và thực hành đức tin (sinh hoạt tôn giáo) tạo thành các cộng đồng
17
tôn giáo. Mỗi bộ phận tôn giáo trong hệ thống tôn giáo ở Hà Nội có chức
năng riêng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng thời kỳ
lịch sử nhất định. Lý thuyết cấu trúc - chức năng được áp dụng trong luận án
để nghiên cứu ở chương 2, nhằm chỉ ra quá trình hình thành phát triển của các
tôn giáo ở Hà Nội cũng như các mối quan hệ của chúng và xã hội, thấy được
vai trò, tác động, ảnh hưởng của chúng đối với đời sống sinh hoạt tôn giáo,
văn hóa, xã hội của tín đồ.
Tiếp cận lý thuyết chức năng khi nghiên cứu CTTG ở Hà Nội giúp ta
thấy được quá trình hình thành, hoàn thiện, kiện toàn bộ máy làm CTTG cũng
như các hoạt động trong CTTG của Hà Nội. Mỗi tổ chức trong hệ thống chính
trị của Hà Nội làm CTTG đều có chức năng nhất định của mình trong phạm
vi, trách nhiệm cũng như sự phối hợp lẫn nhau giữa các tổ chức đó đối với
CTTG trên địa bàn Hà Nội. Lý thuyết cấu trúc - chức năng được áp dụng
trong luận án để nghiên cứu ở chương 3, nhằm chỉ ra, đánh giá quá trình hình
thành, hoàn thiện, kiện toàn bộ máy làm CTTG của Hà Nội cũng như chức
năng của các nhiệm vụ trong CTTG của Hà Nội.
Lý thuyết về xung đột: Người được coi tạo nền tảng kinh điển cho lý
thuyết xung đột chính trị là C.Mác (1818-1883), Max Weber (1864-1920) và
Georg Simmel (1858-1889). Dựa trên nền tảng kinh điển đó, với sự đóng góp
lớn của ba nhà xã hội học đương đại là Rolf Gustav Dahrendorf (Đức), Lew
Coser (Mỹ) và Anatol Rapoport (Nga), lý thuyết xung đột được hoàn thiện trở
thành một trong những hình mẫu của xã hội học hiện đại. Không giống với
cách tiếp cận cấu trúc - chức năng chủ yếu nhấn mạnh đến tính đồng thuận,
cân bằng, liên kết xã hội, lý thuyết xung đột nhìn nhận xã hội - tôn giáo về cơ
bản luôn có sự chia rẽ, mâu thuẫn và xung đột giữa các cá nhân hoặc nhóm xã
đến tôn giáo và CTTG ở Việt Nam.
1.3. Một số khái niệm sử dụng trong luận án
(1) Hoạt động tôn giáo: Là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn
giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo.
(2) Tổ chức tôn giáo: Là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành
của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước
công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo.
(3) Pháp nhân tôn giáo: Là sự chấp thuận hoặc công nhận của cơ quan
có thẩm quyền của Nhà nước đối với tổ chức tôn giáo.
19