CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG
LỐI QUÂN SỰ CHO SINH VIÊN HIỆN NAY
- Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động tự học
trong dạy học môn Đường lối quân sự
- Cơ sở lý luận về việc tổ chức hoạt động tự học
- Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Trên thế giới
Làm thế nào để nâng cao chất lượng tự học không phải
là vấn đề mới. Đây là nội dung đã được các nhà giáo dục dục
nổi tiếng trên thế giới (Xôcơrat, Khổng Tử, Cômenxki,
Đixtecvec….) quan tâm đến từ ngàn xưa trên nhiều góc độ và
với những mức độ khác nhau: Phát huy tính tích cực, tính độc
lập tính tự giác, tính sáng tạo của người học.
Trong tác phẩm Tự học như thế nào, nhà giáo
N.A.RuBaKin (1862 – 1946) đã phân tích rõ mối quan hệ
giữa “Tự học và đặc tính riêng của từng người”, đồng thời
ông cũng đã vạch ra các yếu tố giúp người học vượt qua khó
khăn trong quá trình học tập; đó là phải có ý chí, có lòng đam
mê học tập và đặc biệt là phải có phương pháp tự học tốt.
Trong cuốn Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại
học của A.A.Goroxepxki và Lubixuna – Trường đại học tổng
hợp Lêningrat, các tác giả cũng tổng kết kinh nghiệm từ thực
tế công tác cá nhân của mình tại các trường đại học và đưa ra
một số đề nghị về cách của SV Đại học, qua việc nhấn mạnh
một số cặp kỹ năng (đọc và ghi tài liệu; nghe và ghi bài giảng;
chuẩn bị xêmina; làm bài tập nghiên cứu và luận văn tốt
pháp dạy học tích cực đã được thực nghiệm. Từ đó, vai trò
của người thầy có bước thay đổi căn bản. Họ trở thành người
trọng tài điều khiển, tổ chức hướng dẫn học sinh biết cách
học, đặc biệt là tự học.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, T.Makiguchi (1871 –
1944) cho rằng: “Giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn
tự học mà động lực của nó là: Kích thích người học sáng tạo
ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và cộng đồng”.
Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ S.D.Sharma và
Shakti R.Almed đã khẳng định: HĐTH của SV là nội dung
chính là quá trình điều khiển HĐTH của SV một cách gián
tiếp thông qua các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế để hoàn
thành mục đích, nhiệm vụ dạy học được xác định.
Năm 1991 R.Roysinngh đã nghiên cứu vai trò của năng
lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt
đời, vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy cũng được đề
cao trong hoạt động này.
* Ở Việt Nam, không ít công trình nghiên cứu khoa học
đã quan tâm, nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng tự
học trên nhiều góc độ.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: Học phải suốt đời
ngay cả khi đã đi làm việc với phương châm “Về cách học
phải lấy tự học làm gốc”, “Về cách dạy phải tránh lối dạy
nhồi sọ…Về học tập tránh lối học vẹt”. Bác động viên toàn
dân “Phải tự nguyện, tự giác, coi việc học tập là nhiệm vụ
của người cách mạng phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, do
được chú ý đề cập từ rất lâu và được nghiên cứu trên nhiều
góc độ, cấp độ khác nhau cả trong nước và trên thế giới. Bản
chất, ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng của việc tự học đối
với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người đều
được khẳng định, nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu.
Đây là yếu tố cơ bản giúp người học có được tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới, để có thể hoàn thành
nhiệm vụ học tập; nhờ đó chất lượng dạy học được nâng cao.
Từ đó, làm thế nào để nâng cao chất lượng tự học, kỹ năng tự
học và việc hình thành kỹ năng tự học cho học sinh, SV cũng
là điều được các tác giả quan tâm.
Song thực tế cho thấy việc tự học của học sinh, SV chưa
đáp ứng được yêu cầu và hiệu quả mong muốn.
Hơn nữa chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc tổ chức
HĐTH trong dạy học môn ĐLQSCĐ cho SV ĐHQGHN hiện
nay. Vì vậy, nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp tổ chức
HĐTH cho SV trong các trường đại học là cần thiết.
-Tự học
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm tự học, trong
đó phải kể đến:
R.Retke đã coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ
khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” [36, 97]
Theo Nguyễn Văn Hộ thì “Tự học là hoạt động diễn ra
dười sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, học sinh tự mình
sắp xếp kế hoạch, sử dụng điều kiện sẵn có trong gia đình, tài
liệu, củng cố, đào sâu, mở rộng và hoàn chỉnh tri thức hoàn
thành cá nhiệm vụ học tập đã được giáo viên giao và hướng
dẫn sơ bộ cách thức thực hiện” [19, 126]
chức và điều khiển gián tiếp của giáo viên nhằm củng cố, mở
rộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội qua các hình thức lên
lớp có giáo viên điều khiển trực tiếp…” [ 45, 23].
Theo Nguyễn Thị Tính: “Tự học là một quá trình, trong
đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, người học tự mình
chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt động
trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, phán đoán…)
và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị
đồ dùng học tập). Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý
chí …của người học để vượt qua chướng ngại vật hay vật cản
trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân người học
từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến kinh nghiệm này thành
kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học” [39, 17].
Từ đó, tác giả luận văn đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học (Seft – learning) là hoạt động dưới sự hướng dẫn,
tổ chức, điều khiển của người dạy; người học tự giác, tự lực,
tích cực nghiên cứu, nhận thức thế giới quan, lĩnh hội nội
dung bài học; để đạt mục đích nhất định. Hoạt động này giúp
người học nắm vững, thông hiểu, mở rộng, đào sâu tri thức,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng; đồng thời hình thành
và rèn luyện phẩm chất, nhân cách.
- Hoạt động tự học và hoạt động tự học của sinh viên
* Hoạt động tự học
HĐTH là một hoạt động tự tìm tòi, khám phá để chiếm
lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Hoạt động tự học
bao gồm rất nhiều các hành động liên tục, kế tiếp nhau như;
quan sát, ghi chép, đọc tài liệu, giải bài tập… Nó là một nhân
tố, một khâu của quá trình giáo dục, là một quá trình gia công,
người.
Trong hoạt động này, người thầy có vai trò động viên,
khuyến khích, hướng dẫn người học tự học một cách đúng
hướng và hiệu quả.
Chủ thể có vai trò quyết định HĐTH chính là bản thân
người học, do đó kết quả phụ thuộc chủ yếu và phần lớn vào
mức độ tích cực, độc lập sáng tạo trong hoạt động nhận thức
của chính họ. Bởi nếu người học không đầu tư thời gian, công
sức; không hứng thú, say mê; không có kế hoạch và cách tự
học, không tự giác thì hiệu quả của nó không cao.
* Hoạt động tự học của sinh viên
- Đặc điểm:
+ “HĐTH, tự nghiên cứu của SV bao hàm cả hai công
việc: chuẩn bị cho các giờ lên lớp (lý thuyết, xemina, làm việc
nhóm, thực hành…) và tự học có hướng dẫn (nghiên cứu, đọc
tài liệu, hoàn thành các nhiệm vụ học tập, làm bài tập tuần,
nhóm tháng, bài tập cuối kì” [13, 112].
+ HĐTH của SV là quá trình nhận thức độc đáo, mang
tính chất nghiên cứu. Đó là quá trình SV tiếp thu, gia công,
lưu giữ thông tin từ GV và nhiều nguồn tư liệu khác nhau để
tự mình chế biến, chuyển hóa thành sản phẩm trí tuệ của bản
thân. Đó là sự phản ánh khách quan thông qua chủ quan của
SV, trong đó mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học đã trở
thành mục đích, nhiệm vụ của quá trình tự học đối với người
học.
Động lực thúc đẩy HĐTH của SV là kết quả của việc
trình nắm tri thức, có khả năng định hướng đối với nhiệm vụ
nhận thức.
Bên ngoài: đó là sự huy động cao nhất các chức năng
tâm lý để chiếm lĩnh kiến thức, biểu hiện ra bên ngoài của
nó là những trạng thái hoạt động tích cực như: sự tập trung
chú ý, sự căng thẳng trí tuệ, sự tận dụng thời gian để thực
hiện kế hoạch học tập, kả năng giải quyết tình huống một
cách sáng tạo. Tùy theo mức độ huy động các chức năng
tâm lý trong quá trình nhận thức mà có những mức độ khác
nhau của tính tích cực, thể hiện từ thấp đến cao.
Mức độ thấp: thể hiện sự tái hiện, bắt chước.
Mức độ thể hiện sự tìm tòi trong nhận thức.
Mức độ thể hiện sự sáng tạo trong nhận thức.
Tính độc lập trong nhận thức: Được thể hiện ở khả năng
giải quyết vấn đề một cách tự chủ, độc lập, luôn tìm phương
pháp mới để nắm tri thức. Đó là khả năng vận dụng tri thức đã
biết vào những hoàn cảnh mới để nắm tri thức mới, củng cố
và mở rộng kiến thức đã học. Tính độc lập trong quá trình
nhận thức được biểu hiện ở trong suy nghĩ đó là khả năng tự
nhận xét, phán đoán, suy luận trước những ý kiến của người
khác tự mình tiến hành các thao tác tư duy để lĩnh hội tri thức
không phụ thuộc vào ý kiến của người khác, diễn đạt những
vấn đề lĩnh hội theo quan điểm của mình và được thể hiện cả
trong hành động.
Như vậy, tính tích cực, độc lập trong nhận thức của SV
là hoạt động có hệ thống trên lớp và ngoài lớp để tự mình tìm
cần có thể sử dụng nó như một công cụ lao động.
Nếu trong quá trình dạy học, người thầy căn cứ vào mục
đích dạy học để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học để truyền đạt tri thức đến người học; người học
tiếp thu tri thức và đạt được kết quả học tập tương ứng. Còn
trong quá trình tự học việc điều khiển nhân cách người học
được chuyển hóa thành việc tự điều khiển sự phát triển của
chính bản thân họ. Như vậy, tự học là quá trình tự điều khiển,
là quá trình tự tác động nhằm hướng mọi hoạt động của chủ
thể vào một trình tự nhất định để đạt được kết quả tối ưu.
Theo quan điểm Xibecnetic (điều khiển học): Quá trình
tự học là một quá trình tự điều khiển quá trình tổ chức chiếm
lĩnh tri thức, quá trình thu nhận, chế biến, xử lý, bảo quản và
truyền đạt thông tin nhằm làm tăng sự hiểu biết của cá nhân,
giúp cho người học nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong
quá trình học tập, đồng thời đó là quá trình chống lại những
hoạt động chủ định lệch tâm hoặc vô thức ngăn cản tiến trình
cải tiến hoạt động học tập.
HĐTH đòi hỏi SV ngoài việc sử dụng một hệ thống các
thao tác tư duy, còn phát huy ở mức độ cao quá trình tâm lý,
các thuộc tính tâm lý của cá nhân từ cảm giác, tri giác…đến
xu hướng, tính cách, tình cảm và các yếu tố tâm lý khác. Nó
bắt đầu từ vệc lập kế hoạch học tập đến việc tổ chức thực hiện
kế hoạch (Sử dụng thời gian, phương pháp, các hình thức tự
học cho phù hợp giữa nghe giảng, ghi chép, đọc sách…tự
kiểm tra, đánh giá quá trình đó). SV nếu thực hiện tốt những
điều kiện trên sẽ tận dụng triệt để thời gian, không ngừng
nâng cao tri thức của bản thân, rèn luyện tác phong làm việc
nắm vững, nó biểu hiện ở mặt kỹ thuật của hành động tự học
và mặt năng lực tự học của mỗi cá nhân. Có kỹ năng tự học là
có năng lực tự học ở mức độ nào đó.
Kỹ năng tự học có quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập,
nó là yếu tố mang tính mục đích của hành động tự học và có ý
nghĩa quyết định đến kết quả tự học.
Hệ thống các kỹ năng tự học:
Hoạt động tự học được thực hiện bởi một chuỗi các hành
động tự học. Để tự học có kết quả, sinh viên cần phải có
những kỹ năng tự học tương ứng với các hành động tự học
như: kỹ năng ghi chép, kỹ năng đọc sách, kỹ năng nghiên cứu
và hệ thống hóa bài học…
Các kỹ năng tự học có liên quan hữu cơ với nhau, bổ
sung cho nhau. Để HĐTH đạt hiệu quả cao, SV trong quá
trình tự học phải biết kết hợp vận dụng các kỹ năng với nhau
một cách hợp lý.
Theo quan niệm điều khiển học, quá trình tự học là quá
trình tự điều khiển, tự tác động của chủ thể nhằm giải quyết
các nhiệm vụ học tập đạt kết quả tối ưu. Quá trình tự điều
khiển đó khởi nguồn từ việc lập kế hoạch tự học, tổ chức thực
hiện kế hoạch và cuối cùng là tự kiểm tra, đánh giá quá trình
đó.
Từ đó có thể chia hệ thống các kĩ năng tự học thành 3
nhóm cơ bản:
Nhóm kỹ năng kế hoạch hóa HĐTH: xác định mục đích,
nội dung và trình tự công việc cần làm, phân phối, sắp xếp
thời gian cho từng công việc.
Nhóm kĩ năng tổ chức, thực hiện kế hoạch: tiến hành
Như vậy, HĐTH của SV tại các trường Đại học thực
chất là hoạt động nhận thức thế giới quan có tính chất nghiên
cứu, dưới sự hướng dẫn, điều khiển của GV. Hoạt động này
đòi hỏi người học phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập,
chủ động, độc lập, sáng tạo của bản thân. Có như vậy mới tiếp
thu được những kinh nghiệm của xã hội loài người và như thế
nhân cách không ngừng được phát triển.
- Tổ chức hoạt động tự học và tổ chức hoạt động tự học cho
sinh viên
* Tổ chức HĐTH là việc người dạy hướng dẫn, chỉ ra
cách thức, hình thức để người học tự học. Khi tổ chức hoạt
động này, người thầy chỉ giữ vai trò tổ chức, điều khiển,
hướng dẫn, chỉ đạo HĐTH của người học. Còn việc lên kế
hoạch cụ thể, sắp xếp thời gian, tự học như thế nào… lại do
chính người học quyết định.
* Tổ chức HĐTH cho SV: Tổ chức HĐTH hiệu quả sẽ
có vai trò rất lớn đối với kết quả tự học. Với SV đại học, điều
này càng trở nên thiết thực, bởi môi trường học tập của các
em có những điểm riêng, khác biệt với bậc THPT. Lượng kiến
thức lớn, khó – đòi hỏi nhận thức của người học ở mức độ cao
hơn, mang tính chất độc lập, tự lực, tự nghiên cứu, tự giác
sáng tạo trong việc lĩnh hội và vận dụng tri thức vào đời sống.
Trong quá trình học tập ở bậc đại học, nếu GV biết cách
tổ chức HĐTH, sẽ khơi dậy tiềm năng, hứng thú, tạo động lực
phát huy ý chí và năng lực tự học của SV và như thế cũng có
nghĩa vị trí trung tâm của người học được khẳng định.
Muốn tổ chức tốt HĐTH cho SV, GV phải được bồi
dưỡng kiến thức chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ, nhất là kĩ