MỤC LỤC
A. MỞ
ĐẦU.......................................................................................................3
B. NỘI
DUNG...................................................................................................3
I. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về quy luật “thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập”............................................................................3
1.1. Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn....................3
1.2. Quá trình vận động của mâu thuẫn.............................................................4
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật.....................................................5
II. Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát
triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay...........................5
2.1. Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay là hai mặt
đối lập của mâu thuẫn........................................................................................5
2.2. Quá trình vận động của mâu thuẫn trong quan hệ giữa phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.......................................................6
2.2.1. Sự thống nhất..................................................................................6
2.2.2. Sự đấu tranh....................................................................................6
2.2.3. Sự chuyển hóa.................................................................................8
2.3. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của quy luật để đảm bảo phát triển
kinh tế gắn với bảo vệ môi trường....................................................................8
C. KẾT LUẬN.................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................11
Thứ nhất, mâu thuẫn có tính khách quan. Bởi vì mâu thuẫn là cái vốn
có của mỗi sự vật, hiện tượng. Mà sự vật, hiện tượng lại tồn tại khách quan,
không phụ thuộc ý chí con người do chúng đều là vật chất.
Thứ hai, mâu thuẫn có tính phổ biến. Bởi vì mâu thuẫn xuất hiện ở cả
ba mặt: trong giới tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy.
3
Thứ ba, mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú. Mâu thuẫn ở mỗi sự
vật, hiện tượng khác nhau thì khác nhau trong từng lĩnh vực và điều kiện lịch
sử, cụ thể. Từ đó, xuất hiện nhiều loại mâu thuẫn như: mâu thuẫn bên trong và
bên ngoài, mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu, mâu thuẫn cơ bản và không cơ
bản,...
I.2. Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với
nhau, và giữa chúng còn có sự chuyển hóa khi ở một hoàn cảnh, điều kiện
thích hợp.
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại, quy định lẫn
nhau, ràng buộc nhau cùng tồn tại của các mặt đối lập. Trong đó, mặt này lấy
mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình. Sự thống nhất giữa các
mặt đối lập có vai trò tạo điều kiện để sự vật, hiện tượng tồn tại khi cùng nằm
trong một chỉnh thể; tạo điều kiện để các mặt đối lập đấu tranh với nhau. Sự
thống nhất này mang tính tạm thời, thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái
đứng im của sự vật, hiện tượng.
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập theo nghĩa đen là sự bài trừ, phủ
định lẫn nhau của các mặt đối lập; nhưng hiểu rộng ra theo nghĩa bóng thì đó
là sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau của các mặt đối lập. Sự đấu tranh
có vai trò là nguồn gốc, động lực cho sự vận động phát triển của sự vật hiện
tượng. Nó mang tính tuyệt đối khi diễn ra từ đầu đến cuối và diễn ra ở mọi sự
vật, hiện tượng, tương ứng với sự vận động.
Phát triển kinh tế là một nhu cầu tất yếu của con người và xã hội khi
phát triển đến một mức độ nhất định. Đó là việc tập trung khai thác và sử
dụng các nguồn nguyên liệu để sản xuất ra của cải vật chất. Nguồn nguyên
liệu này lại chủ yếu được lấy từ tự nhiên do tính chất các ngành kinh tế mũi
nhọn ở Việt Nam luôn gắn liền với tự nhiên như: nông nghiệp, kinh tế biển,...
Trong khi đó, bảo vệ môi trường lại là việc bảo đảm an toàn cho các
nguồn tài nguyên thiên nhiên tránh khỏi sự xâm hại của con người, đồng thời
khắc phục những hậu quả môi trường do con người, do tình trạng biến đổi khí
hậu (mà nguyên nhân một phần cũng là do con người) gây ra.
Như vậy, việc phát triển kinh tế và việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
là hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn này là khách quan, tồn tại
phụ thuộc vào hiện thực khách quan. Có thể xét đây là mâu thuẫn bên ngoài,
giữa các sự vật hiện tượng với nhau; nhưng nếu đặt hai mặt đối lập này ở một
mối quan hệ khác thì đây lại là mâu thuẫn bên trong quá trình phát triển bền
vững của xã hội Việt Nam.
2.2. Quá trình vận động của mâu thuẫn trong quan hệ giữa phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Sự thống nhất
5
Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là hai yếu tố quan trọng và bắt
buộc phải thực hiện để tiến tới sự phát triển bền vững của một quốc gia, xã
hội. “Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn
định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường
sống.”1. Đảng và Nhà nước ta cũng đã nêu quan điểm về điều này trong Quyết
định số 432/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai
đoạn 2011 – 2020: “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá
trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển
trương tiến hành công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước nên trong cơ cấu nền
kinh tế từ lâu công nghiệp và dịch vụ luôn có sự phát triển vượt bậc, giảm tỉ
trọng của nông nghiệp. Từ đây, vấn đề phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi
trường bắt đầu có sự xung đột gay gắt.
Phát triển kinh tế đã phá hủy nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm ô
nhiễm môi trường. Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc lạm dụng các hóa chất
như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước xung
quanh, và khiến bản thân các sản phẩm nông nghiệp có nguy cơ gây ngộ độc
nếu ăn phải. Trong lĩnh vực công nghiệp, việc khai thác tràn lan khoáng sản
khiến cho nguồn tài nguyên này ở nước ta đang dần cạn kiệt. Tài nguyên rừng
cũng bị khai thác để xây dựng thủy điện một cách ồ ạt. “Theo các chuyên gia
sinh quyển, để tạo ra 1 MW điện, phải ‘đổi’ ít nhất 10-30 ha rừng, và để có
1.000 ha hồ chứa nước cũng cần san phẳng, giải phóng từ 1.000 – 2.000 ha
đất rừng ở phía thượng nguồn.”2. Không chỉ khai thác tài nguyên thiên nhiên
mà các hoạt động công nghiệp còn làm ô nhiễm môi trường trầm trọng. Nhiều
nhà máy, xí nghiệp xả nước thải và khí thải độc hại trực tiếp ra ngoài môi
trường mà không qua hệ thống xử lí. Một ví dụ điển hình là vụ công ty sản
xuất gang thép Formosa đã xải thải trực tiếp ra vùng biển Vũng Áng tại Hà
Tĩnh, kết quả là nước biển nhiễm độc lan ra đến bốn tỉnh duyên hải Trung Bộ,
làm cá chết hàng loạt. Trong lĩnh vực dịch vụ, một trong những hoạt động
gây ảnh hưởng đến môi trường nhất là hoạt động du lịch. Việc biến thiên
nhiên thành khu vui chơi nghỉ dưỡng kéo theo một lượng lớn người đổ về
sinh hoạt, trong khi chính quyền các cấp lại không làm tốt công tác quản lý
khiến môi trường bị quá tải, suy thoái.
Khi môi trường bị tàn phá đến một mức độ nhất định, nó sẽ tác động
ngược trở lại đối với việc phát triển kinh tế. Cụ thể, việc chặt phá rừng làm
đất đồi núi mất sự che chắn, khiến lũ đầu nguồn đổ về. Việc thải nhiều khí
CO2 ra ngoài môi trường đẩy nhanh tốc độ biến đổi khí hậu, thời tiết cũng trở
nên khắc nghiệt hơn với các hiện tượng mưa bão, hạn hán, lốc xoáy,... Hậu
quả từ những thiên tai này là rất lớn: mất mùa màng, phá hủy công trình, cướp
đúng đắn và hành động thiết thực trong việc đảm bảo phát triển kinh tế hài
hòa, gắn liền với bảo vệ môi trường.
Thứ nhất, cần có sự quan tâm sâu sắc tới mâu thuẫn giữa phát triển
kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay. Mỗi người đều phải trang
bị cho mình những kiến thức đầy đủ về vấn đề này, từ đó có ý thức trong việc
thể hiện thái độ với môi trường sống xung quanh. Để có được sự tiếp nhận
đông đảo của mọi người, các cấp chính quyền và tổ chức xã hội phải thường
3 />
8
xuyên tổ chức các buổi giao lưu, chia sẻ và giáo dục ý thức cho mọi người.
Hơn nữa, “trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã
hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đất nước phát
triển bền vững thì việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường là hết sức cần thiết.”4. Bởi pháp luật có tính quy phạm phổ biến, tính
bắt buộc chung, điều chỉnh ý thức và hành vi của tất cả mọi người và có
những chế tài phù hợp với những ai vi phạm.
Thứ hai, cần nhận thức đầy đủ về tính chất của mỗi mặt đối lập để từ
đó có giải pháp đúng đắn. Về phát triển kinh tế, cần chú trọng hơn nữa tới
việc phát triển chiều sâu bên cạnh phát triển chiều rộng, tức là đẩy mạnh chất
lượng lao động, nguồn nhân lực, bộ máy quản lý cũng như áp dụng các tiến
bộ khoa học công nghệ. Các doanh nghiệp nên được khuyến khích sử dụng
năng lượng tái tạo, các nguyên vật liệu mới, thân thiện với môi trường. Về
việc bảo vệ môi trường, nên lấy chất lượng sống của người dân là trọng tâm;
tăng cường bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai ngay từ đầu chứ không
phải chờ đến khi có hậu quả mới đi khắc phục.
Thứ ba, cần xét đến các điều kiện, hoàn cảnh ở riêng từng vùng miền
để có được biện pháp giải quyết mâu thuẫn phù hợp. Vì mâu thuẫn có tính đa
dạng, phong phú nên quá trình vận động của nó ở từng nơi cũng khác nhau.
II. Tạp chí, luận văn, trang web
1. Nguyễn Văn Hùng (2011), Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường
ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, luận văn thạc sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội.
2. Nguyễn Đức Long (2010), “Các giải pháp đảm bảo phát triển bền vững
và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”, Luật học, (8), tr. 38 – 43.
3. />4. />
11