BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
VŨ HỒNG ÁI
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG NHỔ, ĐỨT CÁC RỄ
TRÊN CỦA ĐÁM RỐI THẦN KINH CÁNH TAY BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN THẦN KINH TẠI BỆNH VIỆN
TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
THÁI NGUYÊN – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
VŨ HỒNG ÁI
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG NHỔ, ĐỨT CÁC RỄ
TRÊN CỦA ĐÁM RỐI THẦN KINH CÁNH TAY BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN THẦN KINH
tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin dành những tình cảm yêu
quý, biết ơn và trân trọng nhất đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp là những
người đã luôn sát cánh, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả
Vũ Hồng Ái
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Văn Đoàn và TS Trần Chiến.
Các số liệu, kết quả được nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác. Nếu có gì
sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả
Vũ Hồng Ái
CHỮ VIẾT TẮT
BN
Bệnh nhân
CS
TG, DG
Trên gai, dưới gai
TK
Thần kinh
TƯQĐ
Trung ương Quân Đội
MỤC LỤC
Đặt vấn đề.......................................................................................................... 1
Chương 1: Tổng quan........................................................................................ 3
1.1. Sơ lược giải phẫu thần kinh và chức năng các cơ vùng vai ............................ 3
1.1.1. Đám rối cánh tay ..................................................................................... 3
1.1.2. Thần kinh xi ............................................................................................ 5
1.1.3. Vi cấu trúc và ứng dụng .......................................................................... 6
1.1.4. Giải phẫu và chức năng các cơ vùng vai................................................. 8
1.2. Cơ chế gây nhổ đứt đám rối cánh tay ........................................................ 9
1.3. Chẩn đoán đứt các rễ trên của đrct ........................................................... 11
1.3.1. Lâm sàng ............................................................................................... 11
1.3.2. Cận lâm sàng ......................................................................................... 12
1.4. Các phương pháp điều trị ............................................................................ 14
1.4.1. Các phương pháp kinh điển .................................................................. 14
1.4.2. Các phương pháp chuyển thần kinh ...................................................... 16
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu ........................................ 23
2.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 23
4.1.2. Nguyên nhân chấn thương .................................................................... 44
4.1.3. Phân bố tay bên tổn thương................................................................... 46
4.1.4. Thời điểm được phẫu thuật kể từ lúc bị chấn thương ........................... 46
4.1.5.vị trí tổn thương ...................................................................................... 48
4.1.6. Thời điểm đánh giá cuối cùng ............................................................... 49
4.2. Kết quả điều trị ......................................................................................... 50
4.2.1. Kết quả phục hồi sức cơ trên gai, dưới gai và cơ delta ......................... 50
4.2.2. Kết quả phục hồi biên độ giạng và xoay ngoài khớp vai ...................... 53
4.3. Tổn thương sau phẫu thuật của nơi cho thần kinh ................................... 56
4.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả phẫu thuật ........................................... 57
4.4.1. Độ tuổi ................................................................................................... 57
4.4.2. Thời điểm phẫu thuật ............................................................................ 58
4.4.3. Vị trí tổn thương .................................................................................... 59
4.4.4. Uống thuốc bổ thần kinh sau phẫu thuật ............................................... 60
4.4.5. Tập lý liệu và phục hồi chức năng ........................................................ 61
4.4.6. Ảnh hưởng của thời điểm đánh giá sau phẫu thuật đến kết quả phẫu
thuật ................................................................................................................. 62
Kết luận ........................................................................................................... 64
Khuyến nghị .................................................................................................... 65
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thời điểm phẫu thuật ....................................................................... 33
Bảng 3.2 Thời điểm đánh giá kết quả ............................................................. 34
Bảng 3.3 Đặc điểm thời gian điều trị sau phẫu thuật ...................................... 34
Bảng 3.4 Đặc điểm tập lý liệu, PHCN ............................................................ 35
Bảng 3.5 Đánh giá sức cơ Delta sau phẫu thuật ............................................. 36
Bảng 3.6 Đánh giá biên độ giạng vai sau phẫu thuật ...................................... 36
Bảng 3.7 Biên độ xoay ngoài khớp vai sau phẫu thuật ................................... 37
Hình 1.5. Nhổ rễ theo cơ chế ngoại vi ............................................................ 9
Hình 1.6. Nhổ rễ theo cơ chế trung tâm .......................................................... 9
Hình 1.7. Đứt, nhổ các rễ trên của ĐRCT....................................................... 10
Hình 1.8. Đứt, nhổ các rễ dưới của ĐRCT ..................................................... 10
Hình 1.9. Đứt rễ C5, C6, nhổ rễ C7 (pseudomeningocele) ............................ 13
Hình 1.10. Nhổ rễ C6, C7 bên T có hình ảnh pseudomeningocele ................ 13
Hình 1.11. Trước mổ: teo, liệt cơ trên gai cơ dưới gai, cơ denta .................... 20
Hình 1.12. Sau mổ 28 tháng đạt kết quả rất tốt............................................... 20
Hình 1.13. Sau mổ 26 tháng cơ denta nổi thành bó khi co cơ ........................ 20
Hình 1.14. sau mổ 40 tháng giạng vai rất tốt .................................................. 21
Hình 1.15. sau mổ 36 tháng xoay ngoài rất tốt ............................................... 21
Hình 1.16. Trước mổ mất gấp khuỷu, mất giạng vai trái ................................ 21
Hình 1.17. Sau mổ 40 tháng: đạt kết quả rất tốt gấp khuỷu và giạng vai trái
gần bình thường. ............................................................................................. 21
Hình 2.1 Đo biên độ xoay ngoài khớp vai ở tư thế giạng vai 900 .................. 25
Hình 2.2 Đo biên độ xoay ngoài khớp vai ở tư thế giạng vai 00 .................... 26
Hình 2.3 Đo biên độ giạng vai theo tiêu chuẩn của Mallet ............................ 27
Hình 2.4 Thước đo góc chuyên dụng dùng để đo biên độ khớp vai ............... 28
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương liệt không hoàn toàn đám rối thần kinh cánh tay chiếm
khoảng 30% tổn thương đám rối thần kinh cánh tay. Trong nhóm này, chủ
yếu là liệt cao đám rối, tổn thương rễ C5, C6 ± C7. Biểu hiện lâm sàng của
liệt cao đám rối cánh tay là mất giạng vai, mất xoay ngoài khớp vai và mất
gấp khuỷu do tổn thương thần kinh cơ bì, thần kinh mũ, thần kinh trên vai.
Khi đó, chi trên mất chức năng nặng nề, mặc dù vẫn còn vận động, cảm giác
ở cẳng tay, cổ tay, bàn tay [5]. Ở Việt Nam các tổn thương này chủ yếu là tai
nạn giao thông gây ra, khi bị ngã có thể làm đầu và vai bệnh nhân ra xa nhau
và gấp khuỷu sau phẫu thuật chuyển thần kinh. Tuy nhiên, chưa có báo cáo nào
đánh giá kết quả phục hồi động tác giạng và xoay ngoài khớp vai, đây là những
động tác rất quan trọng trong chức năng của khớp vai. Trên cơ sở đó, nhằm tổng
kết những trường hợp đã được phẫu thuật bằng phương pháp chuyển thần kinh,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kết quả điều trị tổn thương nhổ, đứt
các rễ trên của đám rối thần kinh cánh tay bằng phương pháp chuyển thần
kinh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đi
sâu vào đánh giá hiệu quả phục hồi động tác giạng và xoay ngoài khớp vai
của những trường hợp được phẫu thuật trên.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Đánh giá kết quả phục hồi giạng và xoay ngoài khớp vai bằng phẫu
thuật chuyển thần kinh đầu dài cơ tam đầu cho nhánh trước thần kinh mũ,
thần kinh XI cho thần kinh trên vai trong liệt cao đám rối thần kinh cánh tay
tại Bệnh viện TƯQĐ 108 từ 01/2012- 06/2017.
2. Xác định mức độ ảnh hưởng khi cắt thần kinh XI, thần kinh đầu dài cơ
tam đầu để làm dây thần kinh chuyển và các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả
phẫu thuật.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược giải phẫu thần kinh và chức năng các cơ vùng vai
1.1.1. Đám rối cánh tay
Đám rối cánh tay (ĐRCT) chạy trong tam giác các cơ bậc thang (được
tạo bởi cơ bậc thang trước, cơ bậc thang sau, và bờ trên của xương sườn 1).
Đồng thời nó nằm ở tam giác cổ sau (được giới hạn bởi cơ ức đòn chũm ở
trong, cơ thang ở ngoài và xương đòn ở dưới).
ĐRCT gồm một mạng lưới các sợi thần kinh (TK) cảm giác, vận động
TK bì cẳng tay trong và 2 nhánh tận là: rễ trong TK giữa (chủ yếu là TK vận
động) và TK trụ [1], [3].
- Bó sau tách ra 3 nhánh bên lần lượt là: TK dưới vai trên, TK ngực lưng
và TK dưới vai dưới. Tiếp theo bó sau tách ra 2 nhánh tận là dây TK nách hay
còn gọi là TK mũ và dây TK quay [1], [3].
5
+ Dây TK mũ đi đến tứ giác Velpau thì tách ra nhánh trước và nhánh
sau, theo Witoonchat K, nhánh trước chia thành từ 1 đến 3 nhánh nhỏ đi vào
bó trước và bó giữa cơ denta để chi phối vận động cho 2 bó cơ này (57%
trường hợp có chi phối vận động cho bó sau); Nhánh sau tách ra 1 nhánh chi
phối vận động cho cơ tròn bé, tiếp theo nó chia thành 2 nhánh tận: 1 nhánh
cảm giác, tùy hành với bó mạch denta chi phối cảm giác vùng denta; 1 nhánh
vận động đi vào bó sau cơ denta và chi phối vận động cho bó này [60].
+ TK quay đi đến tam giác “cánh tay- tam đầu”, nó tách ra 1 nhánh vận
động đi vào đầu dài cơ tam đầu. Đi tiếp xuống dưới từ 2 đến 4 cm, nó tách ra
1 nhánh vận động cho đầu ngoài cơ tam đầu, đi tiếp xuống rãnh quay, tách ra
2 nhánh nhỏ vào đầu trong cơ tam đầu. Nhánh tận đi tiếp xuống cẳng tay qua
rãnh nhị đầu ngoài [3].
1.1.2. Thần kinh XI
Theo Trịnh Văn Minh [4], TK XI là TK vận động và là 1 trong 12 đôi dây
TK sọ, nó thoát ra khỏi hành não tại rãnh sau “trám hành” và đi ra khỏi sọ qua
lỗ tĩnh mạch cảnh. TK này được tạo nên từ 2 rễ: rễ sọ và rễ tủy sống. Rễ sọ bắt
nguồn từ nhân “hoài nghi” ở hành não, sau khi ra khỏi sọ rễ này tách ra khỏi
TK XI để đi theo TK X, tới vận động cho các cơ nội tại của thanh quản. Rễ tủy
sống bắt nguồn từ sừng trước của 5 đốt tủy cổ trên cùng, đi lên qua lỗ chẩm vào
trong sọ, sát nhập với rễ sọ tạo nên TK XI. Khi ra khỏi lỗ tĩnh mạch cảnh, rễ sọ
tách ra, rễ sống tiếp tục đi xuống cổ ở bên trong mỏm trâm, cơ trâm móng và
bụng sau cơ hai bụng. Nó đi tới phần trên cơ ức đòn chũm, tách ra các nhánh
sở để sử dụng C7 bên đối diện làm nguồn chuyển ghép thần kinh [15].
- TK XI có 1500- 1700 axon, trung bình khoảng 1603 axon và được tách
ra từ rễ C3 hoặc C4 hoặc là tách ra từ cả hai rễ này, chức năng quan trọng nhất
của nó là vận động cho cơ thang [44], [61], TK XII có 5000- 6000 axon, TK
hoành có 1756 axon, TK ngực dài có 1600- 1800 axon, một TK liên sườn có
800- 1300 axon, nhánh vận động của đám rối cổ có 893 axon [15], [50], [51].
Năm 2003, Witoonchart K., nghiên cứu về giải phẫu của TK mũ và TK
vận động cho cơ tam đầu, trên 36 xác ngâm và 6 xác tươi. Kết quả là:
- Về nhánh trước TK mũ: số lượng axon, trung bình là 2704 (16843778); số lượng bó sợi 5,4 (4-7); đường kính 2,2mm (1,8-2,5); chiều dài 44,5
7
mm (26-62); khoảng cách từ mỏm cùng vai đến nơi nhánh trước thần kinh mũ
chia nhánh vào cơ denta là 67 mm (47-89).
- Về TK đầu dài cơ tam đầu: sồ lượng axon, trung bình là 1233 (6721824); số lượng bó sợi 3,6 (2-5); đường kính 1,2 mm (1,0-1,2); chiều dài 68,5
mm (30-110); khoảng cách từ mỏm cùng vai đến nguyên ủy, nơi tách ra từ
TK quay là 91 mm (65-98).
- Về TK đầu ngoài cơ tam đầu: đường kính trung bình là 1,2 mm (1,11,6); chiều dài 43,5 mm (28-70); khoảng cách từ mỏm cùng vai đến nguyên
ủy, nơi tách ra từ TK quay là 132 mm (121-150).
Chiều dài của nhánh trước TK mũ cộng với chiều dài của TK đầu dài cơ
tam đầu luôn lớn hơn khoảng cách giữa chúng, đường kính và số lượng sợi
trục axon của 2 thần kinh này là tương ứng với nhau. Giữa đầu dài cơ tam đầu
và đầu ngoài cơ tam đầu có một khoảng trống mà ở đó các nhánh trước của
thần kinh mũ đã được tách ra rõ ràng. Cũng trong khoảng trống này thì nhánh
thần kinh đi vào đầu dài cơ tam đầu được tách ra từ thần kinh quay. Vì vậy,
phù hợp cho việc chuyển trực tiếp thần kinh đầu dài cơ tam đầu cho nhánh
trước thần kinh mũ mà không cần đoạn ghép trung gian [36].
Hình 1.2. Giải phẫu TK đầu dài cơ
cánh tay. Chức năng: thực hiện động tác chính là giạng cánh tay, ngoài ra còn
có tác dụng gấp và duỗi cánh tay tại khớp vai. TK chi phối là TK nách, còn
được gọi là TK mũ [1], [3].
1.1.4.4. Cơ tam đầu cánh tay
Cơ tam đầu nằm ở vùng sau cánh tay. Nguyên ủy có 3 đầu: đầu dài bám
vào củ dưới ổ chảo, đầu ngoài bám vào mặt sau xương cánh tay (ở trên rãnh
quay) và vách gian cơ ngoài, đầu trong bám vào mặt sau xương cánh tay (ở
dưới rãnh quay) và vách gian cơ trong. Ba đầu này chạy xuống dưới tụm lại
thành 1 gân chung và bám tận vào mỏm khuỷu. Chức năng: thực hiện động
tác duỗi khuỷu. TK chi phối: tách ra từ TK quay. Mỗi đầu cơ có 1 nhánh TK
vận động riêng rẽ [1], [3].
9
1.2. Cơ chế gây nhổ đứt đám rối cánh tay
Khi bị tai nạn, lực chấn thương làm đầu và vai giãn cách đột ngột nên
hầu hết các tổn thương đám rối cánh tay là do cơ chế giằng giật, các rễ thần
kinh có thể bị đứt, bị nhổ khỏi tủy sống hoặc chỉ bị kéo dãn nhưng vẫn còn
bao ngoài
Hình 1.4. Các dạng tổn
thương ĐRCT [43]:
- A: Cấu tạo của rễ thần kinh
- B: tổn thương nhổ rễ
- C: tổn thương kéo dãn
- D: Tổn thương đứt.
Tổn thương nhổ rễ chiếm khoảng 75% trường hợp tổn thương trên đòn,
do 2 cơ chế: cơ chế trung tâm và cơ chế ngoại vi. Cơ chế ngoại vi (Hình 1.5)
xảy ra khi lực kéo dãn lên các rễ TK của ĐRCT thắng được sức chịu đựng của
các dây chằng và tổ chức liên kết xung quanh các rễ. Màng cứng tủy có thể bị
xé rách, dịch não tủy dò qua lỗ ghép ra ngoài hình thành các giả nang màng
Hình 1.8. Đứt, nhổ các rễ dưới của
ĐRCT [43]
Mất dẫn truyền thần kinh (Neuropraxia) xảy ra khi có hiện tượng dẫn
truyền thần kinh bị nghẽn tại tổn thương, về đại thể không thấy có tổn thương
trên dây thần kinh, về vi thể có thể có hiện tượng mất bao myelin của sợi trục
nhưng không có thoái hóa Waller xảy ra ở dưới tổn thương. Ngay sau khi hiện
11
tượng nghẽn dẫn truyền được giải phóng chức năng thần kinh tới cơ quan
đích trở lại bình thường. Thời gian phục hồi có thể xảy ra từ vài giờ tới vài
tháng phụ thuộc vào phạm vi và độ nặng của tổn thương bao myelin. Trên
lâm sàng dấu hiệu Tinel âm tính, trên thăm dò chẩn đoán điện học không thấy
có dẫn truyền qua vùng tổn thương nhưng dẫn truyền ở phía dưới tổn thương
lại bình thường. Đây là một đặc điểm đặc trưng duy nhất của tổn thương mất
dẫn truyền [43].
Đứt sợi trục (axonotmesis), ở loại tổn thương này sợi trục bị đứt nhưng
bao bó và bao ngoài thần kinh vẫn còn lành. Thoái hóa Waller sẽ xảy ra ở
dưới tổn thương, nhưng sự tái phục hồi (regeneration) ở mỏm cụt trung tâm là
có thể và tốc độ mọc dài sợi trục khoảng 1 - 4mm/ngày [43].
Đứt thần kinh (Neurotmesis) là tổn thương đứt hoàn toàn dây thần kinh.
Dạng tổn thương này nếu không được phẫu thuật tổn thương này sẽ hình
thành khối u thần kinh không chức năng (nonfunctional neuroma) [43].
Sunderland mở rộng phân loại của Seddon thành 5 loại khi ông quan sát
thấy có một số trường hợp đứt sợi trục phục hồi được còn một số thì không.
Để lý giải điều này ông đưa ra khái niệm tổn thương nội thần kinh. Những
trường hợp yếu tố nội thần kinh không tổn thương thì khả năng tái phục hồi
sợi trục tốt hơn.
Khi tổn thương đứt rễ TK, MRI sẽ cho hình ảnh gián đoạn các rễ TK ở
bên ngoài lỗ ghép. Khi tổn thương nhổ rễ TK, MRI sẽ cho hình ảnh giả nang
màng tủy (pseudomeningocele) nếu có rách màng tủy. Ở BN bị tổn thương
các rễ trên của ĐRCT, MRI sẽ cho hình ảnh gián đoạn rễ TK ở bên ngoài lỗ
ghép hoặc hình ảnh giả nang màng tủy ở các rễ C5, C6, ±C7. Tóm lại, MRI có
giá trị chẩn đoán đối với tổn thương đứt rễ TK ngoài lỗ ghép và tổn thương
nhổ rễ TK có rách màng tủy. Tuy nhiên, tổn thương nhổ rễ thần kinh mà
không có rách màng tủy thì MRI không nhận biết được vì không có hình ảnh
giả nang màng tủy. Vì vậy, độ nhạy và độ đặc hiệu của MRI không cao.
Ngoài ra, hạn chế nữa là không thể chụp MRI đối với BN có phương tiện kết
xương [59].
13
1.3.2.2. CT-myelography tủy cổ
Chụp CT tủy cổ có bơm thuốc cản quang vào ống tủy và cho hình ảnh
gián tiếp bên trong ống tủy. Khi tổn thương nhổ các rễ TK, CT-myelography
sẽ cho những hình ảnh mất liên tục của các rễ ở mức tương đương trong ống
sống. Với những tổn thương ngoài ống sống thì CT-myelography thấy được
những tổn thương này. Vì vậy, CT-myelography chỉ có giá trị chẩn đoán tổn
thương các rễ TK ở bên trong lỗ ghép, không cho hình ảnh ở bên ngoài cột
sống nên không biết các rễ TK ở phía ngoài lỗ ghép có bị tổn thương hay
không. Đồng thời cũng cho hình ảnh giả nang màng tủy (pseudomeningocele)
nếu tổn thương có rách màng tủy. Tóm lại, CT-myelography chỉ trả lời được
tổn thương có nhổ rễ TK hay không?, nhưng không trả lời được có tổn thương
đứt rễ TK hay không?, do vậy, xét nghiệm này có độ đặc hiệu cao nhưng độ
nhạy lại thấp. Tuy nhiên, lợi thế của nó là thực hiện được trên BN có phương
tiện kết xương [54].
Hình 1.9. (MRI): Đứt rễ C5, C6, nhổ rễ
Theo một số tác giả, khi BN đến muộn, trên 12 tháng sau chấn thương,
lúc này các cơ bị liệt đã teo đét, thoái hóa đồng thời các synap TK-cơ cũng bị
thoái hóa, mất dẫn truyền vì vậy phẫu thuật chuyển TK không còn hiệu quả.
Để phục hồi giạng vai, chỉ định đặt ra lúc này là phẫu thuật chuyển gân [2],
[9], [12], [25] .Đó là phẫu thuật chuyển các gân cơ vùng lân cận để thay thế
chức năng giạng vai của cơ denta: chuyển gân cơ thang, chuyển gân cơ nâng
vai, gân cơ tròn lớn, cơ quạ cánh tay…. Có thể chuyển một hoặc một nhóm
các cơ trên, nhưng phương pháp được ứng dụng nhiều nhất là chuyển điểm
bám tận của gân cơ thang xuống đầu trên xương cánh tay để phục hồi giạng
vai [2]. Theo Lê Văn Đoàn [2], năm 1927, Mayer lần đầu thực hiện chuyển
gân cơ thang bằng cách ghép đoạn gân cơ căng cân đùi từ cơ thang đến đầu
15
trên xương cánh tay. Năm 1955, Bateman cải tiến: chuyển điểm bám tận gân
cơ thang xuống đầu trên xương cánh tay mà không cần đến đoạn ghép. Năm
1967, Saha tiến xa thêm bằng cách sử dụng phối hợp chuyển gân cơ thang với
các cơ khác: cơ nâng vai, cơ lưng to, cơ ngực lớn, cơ tròn lớn., đây là một kỹ
thuật không phức tạp, có hiệu quả nhất định, vẫn còn được áp dụng cho đến
ngày nay. Nhược điểm của kỹ thuật này là sức giạng vai yếu, trung bình đạt:
45,5˚, khả năng sử dụng linh hoạt khớp vai hạn chế, chủ yếu chỉ thực hiện
được động tác giạng vai, còn động tác xoay khớp vai ra ngoài hầu như không
thực hiện được. Hơn nữa, tư thế bất động gây khó chịu và rất bất tiện trong sinh
hoạt cho BN, thời gian bất động kéo dài, BN phải đeo nẹp giạng vai liên tục
trong 3 tháng [2], [12]. Hiện nay có một phương pháp mới là chuyển gân cơ tự
do có cuống mạch và thần kinh (FFMT) từ nơi cho tới nơi nhận đơn thuần hoặc
có thể kết hợp với chuyển thần kinh song song để phục hồi cơ đích. Kết quả
mang lại cũng cho thấy nhiều dấu hiệu khả quan. Ưu điểm của phương pháp
này có thể áp dụng cho những bệnh nhân của liệt ĐRCT đến viện muộn > 12
tháng và việc vừa chuyển gân và chuyển thần kinh kết hợp sẽ làm tăng sức