Nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học st jude tại bệnh viện trung ương quân đội 108 - Pdf 56

1

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG NGOẠI KHOA VAN HAI LÁ
Van hai lá còn gọi là van nhĩ thất trái cấu tạo gồm vòng van, lá van, dây

chằng, cột cơ. Cấu trúc này có tác dụng như chiếc van một chiều đưa máu từ
nhĩ trái (NT) xuống thất trái (TT). Theo tác giả Carpentier van hai lá gồm các
thành phần sau: vùng nối van – tâm nhĩ; các lá van và hệ thống treo van [8].
1.1.1. Vùng nối van - tâm nhĩ
Vùng nối van - tâm nhĩ là nơi tiếp nối lá van với tâm NT. Trong phẫu
thuật tim xác định vị trí vùng này dựa vào sự khác biệt mầu sắc giữa NT (màu
hồng nhạt) và các lá van (màu vàng nhạt). Căn cứ vào vị trí vùng nối van –
tâm nhĩ để xác định vị trí vòng van. Vòng van hai lá (VHL) cách vùng này
2mm về phía trước và là cấu trúc không thể nhìn thấy được từ mặt tâm nhĩ.
Xác định vị trí vòng van là rất quan trọng trong phẫu thuật VHL vì là nơi các
mũi chỉ cố định vòng VHL nhân tạo đều khâu qua cấu trúc này [8].
Vòng van cấu tạo gồm các sợi xơ không liên tục xuất phát từ hai tam
giác sợi của tim là tam giác sợi phải và tam giác sợi trái.
Tam giác sợi là điểm kết nối mô sợi của VHL, van ba lá (VBL), van
động mạch chủ (ĐMC), vách liên thất và mặt sau gốc ĐMC. Vòng van phía
trước rất dày và chắc, là chỗ bám cho lá trước của VHL, tuy nhiên vùng tiếp
giáp giữa VHL và van ĐMC hay còn gọi là vùng liên tục hai lá - ĐMC gần
như không có vòng van (hình 1.1.a). Vòng van phía sau có lá sau của VHL
bám vào và là vị trí yếu và dễ bị giãn trong các trường hợp bệnh lý VHL do
không có cấu trúc xơ để giữ ổn định cho vòng van [8]. Đây cũng là vùng phải
can thiệp để thu hẹp bớt vòng van trong phẫu thuật tạo hình (khâu hẹp vòng
van sau, khâu hẹp mép van, đặt vòng van nhân tạo hay cắt bỏ một phần lá

vòng van với nền van ĐMC là 120º (hình 1.2.).
Vùng nối van - tâm nhĩ

Lá van

Tam giác sợi

Hệ thống
treo van

Hình 1.2. Van hai lá, vùng nối van - tâm nhĩ và các tam giác sợi.
*nguồn: theo Capentier A. (2010) [8]

Trong phẫu thuật VHL, 4 cấu trúc liên quan chặt chẽ với vòng VHL
[8]:


3

- Động mạch mũ: chạy giữa nền của tiểu nhĩ trái và mép van trước,
cách vùng nối van - tâm nhĩ khoảng 3 - 4mm, sau đó chạy xa vòng van sau.
- Xoang vành: chạy dọc vòng van sau, ban đầu nằm ngoài động mạch
mũ, sau đó bắt chéo động mạch để vào trong, cách vòng van khoảng 5mm.
Lá vành trái

Lá không vành

Hình 1.3. Liên quan của vòng van hai lá
Tam giác sợi trái
*nguồn: theo Capentier A. (2010) [8]

lỗ van (855mm²). Do vậy, khi bệnh tim gây dãn vòng van hoặc thấp tim gây
co rút lá van thì diện tích lá van sẽ không đủ để đóng kín lỗ van, dẫn đến hở
van. Bình thường diện tích lỗ van hai lá trong khoảng 4 - 6cm2/người lớn.
Các lá van rất mỏng và mềm mại, độ dày 1 - 2mm ở phần nền và thân
lá van, khoảng 2 - 3mm ở phía bờ tự do. Hai mép van nằm cách vòng van 5 6mm và khoảng cách hai mép van 30 - 35mm. Tác giả Carpentier chia mỗi lá
van thành ba vùng, sự phân chia này rất có giá trị trong phẫu thuật [8].
1.1.3. Hệ thống treo van
Các lá van được nối với thành TT bằng hệ thống treo gọi là bộ máy
dưới van, bộ máy này có 2 chức năng: Giúp van mở dễ dàng trong thì tâm
trương và ngăn cản sự vận động quá mức của lá van trong thì tâm thu [5], [8],
[9].


5

Nhóm cơ nhú
trước bên

Nhóm cơ nhú
sau trong

Hình 1.4. Cơ nhú và dây chằng van hai lá
*nguồn: theo Capentier A. (2010) [8]

Hệ thống này bao gồm 2 cấu trúc với chức năng khác nhau: cột cơ với
chức năng co rút và các dây chằng với đặc tính đàn hồi. Hai đặc đính này giúp
giữ các lá van và giúp cho chức năng co bóp của TT.
Các cột cơ: Các cơ nhú gắn với thành TT chủ yếu ở 1/3 TT về phía
mỏm tim và được chia thành 2 nhóm (hình 1.5): Nhóm cơ nhú sau trong và
nhóm cơ nhú trước bên. Mỗi cột cơ phân bố dây chằng cho mỗi nửa lá van

TT type 2 (theo phân loại của Treasure) trong và sau mổ thay VHL.
Hệ thống dây chằng [8]: Dây chằng VHL là các sợi mảnh đi từ bờ tự do
của lá van đến các cột cơ chính trong TT hoặc từ mặt dưới của lá van đến các
cột cơ nhỏ xuất phát từ thành TT [10]. Có nhiều cách phân loại nhưng hiện
nay đa số các phẫu thuật viên sử dụng phân loại theo Ranganathan:
- Dây chằng lá trước gồm: dây chằng mép; dây chằng lá van trước; dây
chằng chính và một số dây chằng khác nhỏ hơn.
- Dây chằng lá van sau: gồm các dây chằng bám vào vùng thô và vùng
nền của lá van sau. Có tới hơn 10 dây chằng bám vào bờ van và mặt dưới
vùng thô lá sau, chiều dài trung bình 13mm – 14mm, có thể cắt bớt đi mà


7

vẫn đảm bảo chức năng lá van. Cải thiện độ dài phù hợp và sự thanh mảnh
của các dây chằng đảm bảo sự vững chắc của chúng là những nguyên lý cơ
bản trong phẫu thuật tạo hình van.
Mặt tâm nhĩ

Dây chằng cận
mép

Dây chằng
cận giữa

Hình 1.6. Dây chằng van hai lá
*nguồn: theo Capentier A. (2010) [8]

Ngoài ra, trong phẫu thuật VHL người ta chú ý đến quan điểm của tác
giả R.C Brock: các dây chằng vững chắc và quan trọng nhất là dây chằng đi

chứng nặng có thể tàn phế hoặc tử vong (khoảng 5%) nếu không được theo
dõi và điều trị một cách có hệ thống [1], [2], [3].
Các nguyên nhân khác [2], [13], [14], [15]:
- Thiếu máu cơ tim gây hở hai lá (HoHL).
- Sa VHL gây HHoHL: tỷ lệ sa VHL trong quần thể 1 - 2,5%, gặp nhiều
hơn ở nữ (khoảng 5% so với nam giới 0,5%) [16].
- Thoái hóa: thường gặp là vôi hóa vòng van gây HHoHL, gặp chủ yếu
ở các nước phát triển.
- Bệnh tim bẩm sinh (VHL hình dù, hội chứng Lutembacher...)
- Các nguyên nhân hiếm gặp khác: carcinoid ác tính, lupus ban đỏ hệ
thống, viêm khớp dạng thấp và do virus Coxsackie gây ra.
- Không rõ nguyên nhân chiếm khoảng 15%.
1.2.2. Biểu hiện lâm sàng
1.2.2.1. Hẹp hai lá
Đặc điểm lâm sàng: HHL mức độ vừa thường không biểu hiện triệu
chứng. Bệnh diễn biến từ từ, liên tục, phụ thuộc nhiều vào địa dư và điều kiện


9

văn hóa xã hội. Ở các nước đang phát triển thời gian dung nạp thường dài,
bệnh tiến triển nhanh khi có triệu chứng đến giai đoạn mất bù phải can thiệp
VHL khoảng 10 năm [3]. Triệu chứng cơ năng đầu tiên và thường gặp là khó
thở: lúc đầu là khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm, khó thở kịch phát về
đêm về sau là khó thở thường xuyên. Mỗi năm diện tích lỗ VHL giảm 0,09 0,32cm2, 30 - 40% bệnh nhân xuất hiện RN và huyết khối NT làm giảm khả
năng gắng sức, tăng nguy cơ tắc mạch và tử vong [17]. Các nguyên nhân tử
vong ở bệnh nhân HHL không được điều trị: 60 - 70% phù phổi, 20 - 30% tắc
mạch hệ thống, 10% nhồi máu phổi, 1 - 5% nhiễm khuẩn [12], [18].
Triệu chứng thực thể hay gặp như suy tim phải (tĩnh mạch cổ nổi, gan
to, phù hai chi dưới) [3], [14]. Lồng ngực có thể bị biến dạng, tim to thay đổi

Bảng 1.1. Phân loại mức độ hẹp van hai lá
Mức độ hẹp van hai lá
Chênh áp trung bình qua van 2 lá (mmHg)

Nhẹ
10

Áp lực động mạch phổi (mmHg)

< 30

30 - 50

> 50

Diện tích lỗ van 2 lá (cm2)

> 1,5

1,0 – 1,5

< 1,0

*nguồn: theo Bonow R.O. và cộng sự (2008) [16]

chức năng TT bình thường trên siêu âm (EF > 0,6, Ds < 40mm) [16]. Ngoài
ra, biểu hiện của suy TT như: Khó thở, phù... Tiếng thổi tâm thu nghe rõ ở
mỏm tim, không có tương quan giữa cường độ của tiếng thổi với mức độ hở
van. Tiếng thổi xuất hiện toàn thì tâm thu, âm sắc cao, kiểu tống máu, nghe rõ
nhất ở mỏm, lan ra nách. Tiếng thổi tâm thu này có thể ngắn, đến sớm khi
HoHL cấp hoặc nặng phản ánh tình trạng tăng áp lực NT. Tuy vậy nếu áp lực
NT tăng quá nhiều sẽ mất tiếng thổi này [19].


12

Đặc điểm cận lâm sàng:
- Điện tâm đồ: Dấu hiệu dãn NT, RN và dãn TT
- X - quang ngực: NT và TT lớn thể hiện bằng tỷ số tim - ngực > 0,5.
- Siêu âm tim: giúp chẩn đoán xác định mức độ HoHL, đánh giá biến
đổi huyết động và giúp chỉ định trong điều trị. Mức độ HoHL ở cửa sổ
Doppler xác định mức độ lan rộng của dòng phụt ngược vào NT. Các nghiên
cứu cho thấy: (1) nếu dòng HoHL kiểu trung tâm kèm theo cấu trúc VHL bình
thường cho thấy dòng HoHL cơ năng thường là hậu quả của dãn vòng van do
dãn TT hoặc do hạn chế vận động của lá sau VHL do rối loạn vận động vùng
TT ở bệnh nhân có bệnh ĐMV; (2) nếu dòng HoHL lệch tâm kèm theo bất
thường cấu trúc VHL cho thấy dòng hở do tổn thương thực thể [16], [19]. Một
số tác giả cho rằng cần kết hợp nhiều phương pháp khác để đánh giá mức độ
HoHL do có sự phụ thuộc chặt chẽ giữa tiền gánh và hậu gánh. Độ rộng gốc
dòng hở khi qua lỗ VHL là một chỉ số đáng tin cậy nếu chỉ số này ≥ 0,7cm là
bằng chứng của HoHL nặng [19], [20], [21].
Xác định cơ chế HoHL dựa trên di chuyển của mép van so với mặt
phẳng của VHL. Theo tác giả Carpentier gồm: dãn vòng van (type I), do sa lá
van (typ II) và do dầy – co rút lá van (type III) [8].
Hình 1.7. Phân loại hở van hai lá theo Carpentier

Bình thường Bình thường hoặc Trôi van, đứt cơ
hoặc không
không
nhú, bất thường
> 10cm2
< 4cm2
> 40%
Thay
đổi
Dòng hở va vào
< 20%
thành, xoáy
Sóng A trội
Thay đổi
Sóng E trội
Đậm đặc
Yếu
Đậm đặc
Tam giác với
Thường parabol
Parabol
đỉnh sớm

Các thông số

Diện tích dòng chảy
màu/Diện tích nhĩ trái
Doppler xung
Doppler liên tục
- Đậm độ dòng chảy

0,2 – 0,39

≥ 0,4

*nguồn: theo ASE (2003) [22]

Trong hường dẫn này các thông số sau được xem như đặc hiệu của mức
độ hở nặng [22]:


14

- Vena contracta ≥ 0,7cm
- Trôi lá van (nhất là lá trước) hoặc đứt cơ nhú.
- Dòng chảy va vào thành nhĩ và xoáy.
- Đảo ngược sóng S của dòng chảy tĩnh mạch phổi.
- Quầng hội tụ lớn.
- Dòng chảy trung tâm diện tích lớn (> 40% diện tích NT).
Bảng 1.3. Lượng giá hở hai lá theo ACC/AHA 2008
Các thông số

Mức độ hở van
Nhẹ

Vừa

Nặng

1+



< 30

30 – 49

≥ 50

EROA (cm2)
Nhĩ trái
Thất trái

< 0,2

0,2 – 0,39

≥ 0,4
Dãn
Dãn

Chụp buồng tim
(phân loại theo Selller)
Diện tích dòng chảy
màu/Diện tích nhĩ trái

< 4cm2

*nguồn: theo Bonow R.O. và cộng sự (2008) [16]

- Thông tim: chụp buồng TT cho phép ước lượng mức độ HoHL theo
phân độ của Seller thành các mức độ: (i) 1: chỉ có vệt cản quang mờ vào NT,

van sinh học được làm từ mô sinh vật [6].
1.3.1.2. Các chỉ số nghiên cứu van tim nhân tạo
Trong các chỉ số diện tích GOA, COA, EOA thì EOA được quan tâm
nhất vì EOA là diện tích mà lượng máu qua van, thường người ta lấy chỉ số
EOA trên 1m² diện tích da cơ thể (IEOA). Chỉ số này bình thường với van hai
lá là 1,2cm²/m² diện tích cơ thể và thay van không phù hợp nếu IEOA

Ưu điểm của VCH là kích thước gọn ít gây cản trở đường ra TT, độ bền
cơ học cao, tuy vậy chênh áp qua van lớn hơn VSH, nguy cơ do sử dụng
chống đông và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

Hình 1.9. Đặc điểm huyết động của các loại van nhân tạo
*nguồn: theo Lawrence H.C. (2008) [26]

- Với van bi tạo ra sức cản dòng máu lớn dễ bị tan máu, giảm thể tích
TT, tuy vậy chênh áp qua van tương đối tốt.
- Với van đĩa 1 cánh góc mở thường 70 - 75°, lượng máu phụt ngược
chiếm 5% lượng máu do TT bóp ra trong thì tâm thu và không gây ảnh hưởng
đến dòng máu xuôi chiều đi ra khỏi TT. Góc mở rộng, đĩa van dẹt, vòng van
mỏng giúp cải thiện huyết động, tăng diện tích hữu dụng và chênh áp qua van


18

thì tâm trương thấp hơn, ngoài ra trục ở trung tâm giúp cho máu qua phần lỗ
nhỏ nhiều hơn và làm giảm dòng máu quẩn.
- Với van đĩa 2 cánh hoạt động gồm 2 quá trình mở và đóng van. Khi
mở góc mở trung tâm lớn khoảng 80º nên diện tích hữu dụng lớn cho mọi cỡ
van, đồng thời giảm đáng kể dòng xoáy và chênh áp tâm trương qua van trong
bất kì cỡ van nào khi so sánh với van bi và van đĩa. Ngoài ra, ban đầu khung
van và cánh van không xoay được trong vòng van (loại tiêu chuẩn), sau đó 2
cánh van có thể xoay được trong vòng van. Khi đóng với góc 300 so với mặt
phẳng vòng van, tạo 2 đĩa quay theo hướng tách nhau tạo nên một góc khoảng
100o giữa 2 lá van. Sự đóng không hoàn toàn này tạo ra 3 tia hở qua van: 1 tia
ở trung tâm và 2 tia ở ngoại biên nhưng vẫn ở trong vòng van. Mục đích của
nhà sản xuất khi tạo ra những tia hở này là để hạn chế quá trình hình thành
huyết khối trên bề mặt van, gọi là tia hở “sinh lí” – “washing jets”. Tia hở và

đặt trong khung van có cấu tạo đồng nhất và gắn vào vòng van bằng Teflon.
Góc mở tới 80° giúp có lưu lượng tim lớn và trong điều kiện hoạt động thể
lực. Đĩa van có dạng cong giúp giảm dòng phụt ngược và dòng xoáy. Dòng
máu quẩn giảm đi nhờ vị trí trung tâm của trục van, qua đó giảm nguy cơ tan
máu, nguy cơ hình thành máu cục và huyết khối tắc mạch. Thế hệ mới nhất
của van Omniscience là van Allcarbon và Omnicarbon [6], [23], [26], tuy
nhiên hiện nay rất ít được sử dụng do dễ gẫy các cấu trúc van [29].

Hình 1.10. Van bi và van đĩa 1 cánh
*nguồn: theo Dominik J. và cộng sự (2010) [6].


20

Van đĩa 2 cánh: là van nhân tạo đang được sử dụng phổ biến nhất hiện
nay do tính ưu việt vượt trội, cấu tạo gồm hai đĩa hình bán nguyệt, khi đóng
và mở đều tạo thành 3 lỗ (1 trung tâm và 2 ở bên).
Đánh giá ưu và nhược điểm một số van nhân tạo cơ học qua bảng so
sánh sau (bảng 1.4.):
Bảng 1.4. Đánh giá các đặc điểm van nhân tạo
Đặc điểm
Cơ học
Hình khí động
Khả năng xoay
Hòa hợp
Chênh áp
Mở van
Huyết động
Phụt ngược



3+
4+
0+
4+
5+
4+
4+
3+

5+
3+
5+
3+
4+
3+
5+
4+

5+
5+
5+
3+
4+
4+
4+
3+

(thang điểm 5+ tốt nhất và 0 là kém nhất)
*Nguồn: theo Akins C.W. (1995) [30].

chậm. Thiết kế khe trung tâm của lá van nhân tạo hướng vuông góc với trục
mở của lá van sẽ làm giảm nguy cơ tiềm ẩn va chạm với thành sau TT [26].
Có 7 thế hệ van: St.Jude kinh điển (1977); St.Jude Cuff (1983); St.Jude
PTFE Cuff (1989); St.Jude Haemodynamics plus (1992); St.Jude Masters
(1995); van St. Jude Regent (1999); St.Jude Plex Cuff (2000). Nước ta hiện
nay sử dụng chủ yếu van nhân tạo cơ học 2 cánh, phổ biến là van St.Jude.
1.3.2.2. Hoạt động của van St.Jude
Gồm 2 quá trình mở và đóng cánh van:
- Khi mở: tạo góc mở 85o (trung tâm) nên diện tích hữu dụng lớn cho
mọi cỡ van (IEOA là 1,51cm² van chuẩn, loại St.Jude HP là 2,03cm², loại
St.Jude Regent 2,47cm²…), đồng thời cũng làm giảm đáng kể dòng xoáy và
chênh áp tâm trương qua van trong bất kì cỡ van nào khi so sánh với các thế


22

hệ van khác như van bi và van đĩa [6]. Ngoài ra, ban đầu khung van và cánh
van không xoay được trong vòng van (loại tiêu chuẩn), từ thế hệ St.Jude
Master 2 cánh van có thể xoay được trong vòng van. Loại HP và Regent được
cải tiến trong thiết kế giúp tăng diện tích hữu dụng trong khi vẫn giữ nguyên
đường kính vòng van và cải thiện huyết động. Với loại tiêu chuẩn, 2 cánh van
nằm trong vòng van, đối với loại HP và Regent thì hai cánh van nằm trên
vòng van [26].
- Khi đóng: tạo góc đóng 30 - 35º so với mặt phẳng vòng van, tạo 2 đĩa
quay theo hướng tách nhau tạo nên một góc khoảng 100 - 120 o giữa 2 lá van.
Sự đóng không hoàn toàn này tạo ra 3 tia hở qua van: 1 tia ở trung tâm và 2
tia ở ngoại biên nhô ra khỏi vòng van. Thiết kế này giúp hạn chế quá trình
hình thành huyết khối trên bề mặt van [37]. Tia hở này có thể đánh giá được
bằng siêu âm tim [30].
1.3.3. Các yếu tố quyết định đến lựa chọn van tim nhân tạo thay van hai

những bệnh nhân này nên chọn VCH nhưng nếu chỉ có RN ở những bệnh
nhân 65 - 70 tuổi vẫn có thể chọn một VSH [6].
- Mang thai: theo tác giả Dominik đây là vấn đề khó giải quyết, nhất là
trong việc lựa chọn van bởi vì [6]: nếu chọn VSH sẽ gặp 2 nhược điểm sau:
(1) người mẹ sẽ sớm mổ lại do VSH thoái hóa sớm; (2) người phụ nữ có thể
không mang thai ngay và khi mang thai thì bệnh van đã nặng do VSH thoái
hóa; (3) nếu lựa chọn VCH sẽ phải theo dõi và điều trị chống đông trong khi
mang thai, ở tuần 6 - 12 của thai kỳ có thể gặp 5 - 10% mắc hội chứng thai
nhi warfarin (embryopathy), vì vậy thường thay thế bằng heparine. Sau tuần
thứ 12 đến hết tuần thứ 35 warfarin được sử dụng trở lại nhưng liều không
được quá 5mg, từ tuần thứ 36, heparine được sử dụng trở lại. Nhiều nghiên
cứu cho thấy sử dụng heparine trong suốt thai kỳ là tương đối an toàn cho thai
nhi, tuy vậy lại nguy hiểm cho sản phụ vì các biến chứng huyết khối tắc mạch
nên không được khuyến cáo. Ngoài ra, các yếu tố khác như: bệnh nhân mắc
bệnh lý suy thận mạn tính làm tăng tốc độ thoái hóa các mô van và chỏm mô


24

VSH, do đó VCH được lựa chọn trong trường hợp này trừ khi tuổi thọ của
bệnh nhân ngắn…
- Ngoài các yếu tố trên, sự lựa chọn van nhân tạo cho bệnh nhân là quá
trình phức tạp và cần cân nhắc kỹ lưỡng. Một số đặc điểm sau của van SJM
cũng cần chú ý trong quá trình lựa chọn van:
Huyết động: các báo cáo cho thấy van SJM cho huyết động tương tự
với sinh lí VHL do cấu tạo cánh van khi mở với góc mở rộng từ 80o - 85o khi
so với các loại VCH khác [6], [8].
Độ bền: theo thống kê của Global (www.sjmglobal.com) trong hơn
1.300.000 van đã được sử dụng chưa thấy van nào hỏng hoặc lỗi.
Tránh nguy cơ tạo huyết khối: với thiết kế bề mặt van lõm, quá trình


với các loại van nhân tạo cơ học hai cánh khác [26]. Chính vì những đặc điểm
trên mà VHL cơ học St.Jude hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến ở trong
nước cũng như trên thế giới.
Khuyến cáo ACC/AHA về lựa chọn loại van nhân tạo thay VHL [16]:
Loại I:
1. VSH được chỉ định cho bệnh nhân không thể kiểm soát được đông
máu hoặc có chống chỉ định dùng warfarin. (bằng chứng: C)
Loại IIa:
1. VCH phù hợp cho bệnh nhân < 65 tuổi có thời gian RN dài. (bằng
chứng: C)

2. VSH phù hợp cho bệnh nhân ≥ 65 tuổi. (bằng chứng: C). VSH phù
hợp cho bệnh nhân < 65 tuổi có nhịp xoang. (bằng chứng: C)
Tuy vậy, nhiều vấn đề vẫn đang được nghiên cứu về các đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng trước và sau thay VHL nhân tạo như: các đặc điểm về biến
chứng toàn thân và tại chỗ; đặc điểm tuân thủ chống đông; đặc điểm cơ học
của van và quá trình theo dõi điều trị ở từng bệnh viện… để làm cơ sở lựa
chọn những van nhân tạo tốt nhất cho người bệnh.
1.4. PHẪU THUẬT THAY VAN HAI LÁ CƠ HỌC HIỆN NAY
1.4.1. Khuyến cáo và chỉ định điều trị bệnh van hai lá
Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh VHL, hiệu quả của từng
phương pháp có khác nhau giữa lợi ích điều trị và nguy cơ với người bệnh. Vì
vậy các Hội tim mạch trên thế giới đưa ra 3 loại khuyến cáo sử dụng trong
điều trị bệnh VHL gồm [16]:
- Khuyến cáo loại I: nên thực hiện vì lợi ích cao hơn nhiều so với nguy
cơ (bằng chứng đã được chứng minh từ nghiên cứu đa trung tâm, nhiều thử
nghiệm ngẫu nhiên và phân tích đa biến).
- Khuyến cáo loại II:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status