VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VIỆT DŨNG
THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN: KINH NGHIỆM CỦA ĐÀI LOAN
Chuyên ngành:
Mã số:
Kinh tế quốc tế
9 31 01 06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Nguyễn Bình Giang
2. PGS, TS. Nguyễn Duy Lợi
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và tài liệu trong luận án là trung thực và chûa đûợc công bố trong bất ky
công trình nghiên cứu nào. Tất cả những tham khảo và kế thừa đều đûợc tŕch ẫn và
tham chiếu đđ̀y đủ
Nghiên cứu sinh
...................................................................................................................................................................
39
2.3. Bối cảnh hình thành và phát triển chuỗi cung ứng toàn cđ̀u ngành công nghệ
thông tin ở Đông Á và cơ hội tham gia của các quốc gia trong khu vực.
...................................................................................................................................................................
49
Chương 3: THỰC TIỄN THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA ĐÀI LOAN............................................. 63
3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế khi Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cđ̀u
ngành CNTT
...................................................................................................................................................................
63
3.2. Các chính sách và biện pháp tham gia chuỗi cung ứng toàn cđ̀u của ngành CNTT
Đài Loan
...................................................................................................................................................................
77
3
3.3. Quá trình tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cđ̀u ngành công nghệ thông tin của
Đài Loan
...................................................................................................................................................................
CM
Contract manufacturer
Nhà sản xuất chuyên làm gia
công
CNTT
EMS
Công nghệ thông tin
Electronic
manufacturing Dịch vụ chế tạo điện tử
services
ERSO
Electronics
Researchand Viện công nghiệp điển tử
Service Organization
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
MOEA
Ministry of Economic Affairs
Bộ quan hệ kinh tế
NDF
National Development Fund
Quỹ Phát triển Quốc gia
NIES
New Industrial Economy
Nền kinh tế công nghiệp mới
NSC
National Science Council
Hội đồng khoa học quốc gia
OBM
Original brand manufacturer
Nhà sản xuất thương hiệu gốc
R&D
Research & Development
Nghiên cứu và triển khai
SMIC
Tập đoàn Quốc tế sản xuất chất
Taiwan Semiconductor
bán dẫn
Manufacturing Corp
TSMC
TSS
Taiwan
Semiconductor Công ty chế tạo sản phẩm bán
Manufacturing Co., Ltd
dẫn
Taiwan Startup Stadium
Sân vận động của Startup Đài
Loan
Bảng 3.1. Chi tiêu R&D của 20 doanh nghiệp công nghệ thông tin hàng đầu Đài Loan
năm 2008 ................................................................................................................... 80
Bảng 3.2. FDI và tốc độ tăng trưởng thương mại trong các khu chế xuất Đài Loan,
1966-1986 (triệu USD) ............................................................................................. 82
Bảng 3.3. Phát triển kinh tế và hệ thống giáo dục đại học và dạy nghề trong các ngành
công nghệ ở Đài Loan ............................................................................................... 88
Bảng 3.4. Giá trị thương hiệu của 10 thương hiệu nổi tiếng toàn cầu của Đài Loan
trong lĩnh vực công nghệ thông tin năm 2015 .......................................................... 99
Bảng 3.5. Thị phần thế giới của một số mặt hàng công nghệ thông tin phần mềm của
Đài Loan năm 2015 .................................................................................................
Bảng 3.6. Các công ty con của một số
102
hãng công nghệ thông tin nổi tiếng của Đài
Loan ở Mỹ và Trung Quốc ......................................................................................
105
Bảng 3.7. Thứ hạng của các doanh nghiệp sản xuất và đóng gói sản phẩm vi mạch
Đài Loan năm 2014 ................................................................................................. 108
Bảng 3.8. Mô hình Hàn Quốc và Đài Loan: tính hiệu quả của quy mô doanh nghiệp
lớn và nhỏ trong phát triển công nghệ thông tin ..................................................... 116
Bảng 4.1. Xuất nhập khẩu công nghệ thông tin của Việt Nam giai đoạn 2011 2016 ......................................................................................................................... 128
7
Hình 3.10. Xuất khẩu sản phẩm công nghệ thông tin phần cứng của Đài Loan giai
đoạn 2013-2019................................................................................................................................ 114
Hình 4.1. Chuỗi cung ứng ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam.............................. 126
9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành mũi nhọn hiện nay ở Việt Nam, chiếm
tới 28,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2017 và đưa Việt Nam trở
thành nước lớn thứ 14 trên thế giới về xuất khẩu sản phẩm điện từ lớn thứ 12 trên
thế giới kể từ năm 2015 và lớn thứ 3 trong ASEAN. Tuy nhiên, 95% kim ngạch xuất
khẩu của ngành CNTT Việt Nam đang thuộc về khối doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI). Doanh ngiệp trong nước chỉ chủ yếu dừng ở khâu gia
công, lắp ráp. Sức lan toả và mối liên kết giữa doanh nghiệp ngành CNTT trong
nước với các doanh nghiệp FDI còn rất yếu và vai trò của các doanh nghiệp trong
nước thực sự mờ nhạt, kể cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp phụ trợ
cho ngành. Sự phụ thuộc rất lớn vào vốn và công nghệ nước ngoài đã khiến ngành
CNTT Việt Nam sau nhiều năm phát triển vẫn tiếp tục như một “đứa trẻ chưa chịu
lớn”, tiếp tục lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài lớn như Hàn Quốc, Nhật
Bản, Malaysia, Singapore, từ khâu cung cấp kinh kiện đến các khâu có giá trị gia
tăng khác. Mặc dù đang trở thành một trung tâm lắp ráp các sản phẩm CNTT trong
khu vực Châu Á, nhưng Việt Nam vẫn chưa thể tiếp tục nâng cấp vị trí của mình
trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này đặt ra một câu hỏi lớn: Việt Nam đang
đứng ở đâu trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu và làm cách nào để cải thiện vị trí
của mình trong chuỗi cung ứng?
Ở khu vực châu Á, Đài Loan là một trường hợp điển hình của việc tham gia thành
công trong chuỗi cung ứng ngành CNTT toàn cầu. Với các thương hiệu nổi tiếng của
ngành CNTT như Quanta, Compal, Honhai, Inventec, Petatron, Wistron, Acer, Asus,
hiện để tham gia thành công vào các chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT và rút ra
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án triển khai một số nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
+ Hệ thống hoá và làm rõ luận cứ khoa học về chuỗi cung ứng toàn cầu, các
điều kiện cần và đủ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT.
+
Phân tích các đặc điểm, chính sách, công cụ để tham gia chuỗi cung ứng
toàn cầu của ngành CNTT.
11
+ Phân tích, đánh giá quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành
CNTT Đài Loan; những chính sách biện pháp chủ yếu giúp ngành CNTT Đài Loan
tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
+ Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của ngành CNTT Đài Loan khi
tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
+ Rút ra bài học và kiến nghị chính sách cho Việt Nam.
Để đáp ứng được các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án cần trả
lời được một số câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau:
1) Chuỗi cung ứng toàn cầu có đặc điểm gì? Câu hỏi này cần được xem xét
dưới góc độ chuỗi cung ứng toàn cầu có đặc điểm và cơ chế hoạt động ra sao để các
nước đang phát triển có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
2) Làm thế nào để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu? Câu hỏi này cần
được xem xét dưới góc độ các nước muốn tham gia cần có những điều kiện cần và
đủ nào, dùng chính sách và biện pháp nào để tham gia và nâng cấp vị trí trong chuỗi
cung ứng toàn cầu.
trình tham gia chuỗi cung ứng, cách thức tham gia, biện pháp chính quyền Đài Loan
thực hiện để tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT, kết quả đạt được, bài học cho
Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận:
Xuất phát từ phần lý thuyết chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ chế hoạt động của
chuỗi cung ứng toàn cầu, đề tài sẽ chỉ ra cách thức tham gia chuỗi cung ứng toàn
cầu có thể có về mặt lý thuyết.
Áp dụng khung phân tích đó, đề tài sẽ tìm Đài Loan đã tham gia chuỗi cung
ứng toàn cầu trong ngành CNTT từ khâu nào, sự nâng cấp trong chuỗi cung ứng qua
từng giai đoạn và giải thích nguyên nhân dẫn đến sự nâng cấp đó.
Từ thực tiễn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT của Đài Loan,
đề tài sẽ đánh giá triển vọng của ngành trong chuỗi cung ứng toàn cầu trong tương lai.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Luận án sẽ sử dụng phương pháp này để
phân tích sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài
Loan từ thập niên 1980 đến nay để làm rõ những chính sách, đặc trưng phát triển
13
của chuỗi trong từng giai đoạn, từng ngành, tạo cơ sở cho việc rút ra bài học và
khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận án thu thập các công trình nghiên
cứu có liên quan đến việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Đài Loan
để phân tích, đánh giá, từ đó thấy được những thiếu hụt và khoảng trống trong
những công trình nghiên cứu trước đó, từ đó tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.
- Phương pháp so sánh: Luận án sử dụng phương pháp so sánh giữa các tiểu
sở lý luận về chuỗi cung ứng toàn cầu và việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của
ngành CNTT thông qua việc tiến hành thống nhất các khái niệm, phân loại chuỗi cung
ứng và chủ thể tham gia chuỗi cung ứng, đưa ra các tiêu chí đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu; các chính sách và công cụ để tham gia và nâng
cấp chuỗi cung ứng toàn cầu của các ngành công nghiệp, trong đó có ngành CNTT.
Luận án mang ý nghĩa thực tiễn cao bởi việc nghiên cứu sự tham gia và nâng
cấp chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan sẽ giúp Việt Nam có thêm
các bài học tham khảo và các kiến nghị chính sách thiết thực, giúp ngành CNTT
Việt Nam tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với những đóng góp như vậy, Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ
quan hoạch định chính sách, hoạt động thực tiễn, các tổ chức nghiên cứu, giảng dạy
và những ai quan tâm đến chủ đề này.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu luận án gồm 4 chương:
Chương 1
Tên chương
Giải quyết nhiệm vụ
nghiên cứu
Trả lời câu hỏi nghiên
cứu
Tổng quan tình
hình nghiên cứu về
Tổng quan tình hình
nghiên cứu
trước đó?
Tính mới của luận án
15
là gì? Tiếp cận theo
hướng nào?
Chương 2
Cơ sở lý luận và
thực tiễn liên quan
Phân tích các cơ sở lý Chuỗi cung ứng toàn
luận và thực tiễn liên cầu ngành CNTT dựa
đến việc tham gia quan đến việc tham trên khung lý thuyết
chuỗi cung ứng
gia chuỗi cung ứng
nào?
toàn cầu ngành
toàncầungành
Ngành CNTT
Loan,thực trạng tham chính sách gì? Đạt kết
Chương 4
gia, các kết quả đạt
quả ra sao? Gặp hạn
được, hạn chế và
chế gì và đâu là
nguyên nhân
nguyên nhân?
Triển vọng tham
gia chuỗi cung ứng
Phân tích thực trạng
tham gia chuỗi cung
Việt Nam nằm ở đâu
trong chuỗi cung ứng
toàn cầu ngành
ứng toàn cầu ngành toàncầungành
Chủ đề này đã được các nhà khoa học, học giả đặc biệt quan tâm và đã tiến hành
nghiên cứu trong những năm gần đây. Cùng với quá trình phát triển của đất nước,
ngành CNTT cũng nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này mới chỉ chủ yếu tập trung đến vai
trò của ngành CNTT đặt trong bối cảnh cả nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, chưa đặt ngành CNTT trong chuỗi cung ứng toàn cầu, trong sự phân công
chuyên môn hoá quốc tế. Kinh nghiệm thành công của các nước có đặc điểm phát triển
tương tự cũng chưa được đề cập nhiều, do đó các đề xuất giải pháp chính sách theo
hướng tiếp cận này cũng còn nhiều thiếu sót. Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng quá
trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan để rút ra những bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam chính là mục tiêu của luận án.
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
Thứ nhất, nghiên cứu đến các vấn đề lý thuyết về chuỗi cung ứng toàn cđ̀u và
đặc điểm của chuỗi.
Lê Thị Ái Lâm chủ biên (2012) đã cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết về mạng
sản xuất toàn cầu. Tác giả cũng đưa ra phân tích hai ví dụ là mạng sản xuất toàn cầu
trong ngành điện tử và ngành dệt may nhằm nhấn mạnh việc tham gia vào các mạng
sản xuất toàn cầu là con đường nhanh và hiệu quả đi tới thịnh vượng của các doanh
nghiệp cũng như quốc gia. Cù Chí Lợi (2011) cũng đề cập khá chi tiết đến khái niệm,
bản chất, loại hình, cấu trúc của các mạng sản xuất quốc tế. Các tác giả đã đề xuất hàng
loạt kiến nghị, giải pháp để Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu. Nguyễn
Thị Nhiễu (2007) đã đề xuất chiến lược tham gia mạng sản xuất quốc tế cho doanh
nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu dành phần lớn công việc vào phân tích
bối cảnh và điều kiện mới của môi trường kinh doanh quốc tế và sự phát triển mới của
các mạng sản xuất quốc tế/chuỗi giá trị toàn cầu, các hạn chế của Việt
17
mạng lưới xuyên quốc gia.Yusuf và cộng sự (2004) khảo sát các nguồn
18
lực tăng trưởng kinh tế tại khu vực Đông Á. Không chỉ đề cập tới nhiều vấn đề liên
quan tới mạng lưới sản xuất toàn cầu ở nhiều ngành như công nghiệp điện tử, phụ tùng
ô tô, vận tải; các nghiên cứu trong sách còn nêu lên những thách thức cũng như triển
vọng phát triển của các doanh nghiệp trong khu vực Đông Á trong thời kỳ hội nhập
kinh tế. Đặc biệt hơn, những thách thức các nhà cung cấp tại khu vực này phải đối mặt
khi chuỗi cung ứng toàn cầu phát triển cũng được chỉ ra ngay trong nghiên cứu thứ 2
của sách. Krinda (2005) nhấn mạnh một điều: “Chừng nào quá trình sản xuất và phân
phối còn được đặt ở mọi nơi trên thế giới thì chừng đó chuỗi cung ứng còn phải tiếp tục
vận hành.” Tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dự đoán nhu cầu khách
hàng, tối ưu hóa vận chuyển hàng hóa và quản lý một mạng lưới mở rộng; để làm được
những điều này đầu tư vào minh bạch hóa chuỗi cung ứng, dự báo nhu cầu và phân tích
dữ liệu và lên kế hoạch vận hành, tiêu thụ là rất cần thiết. Susitar Asree (2010) đã nêu
lên điểm quan trọng mấu chốt đối với các công ty hiện nay trong việc giảm thiểu tác
động của những thách thức toàn cầu như sự bất ổn định về công nghệ và kinh tế, sự
quốc tế hóa, hay sự bảo hộ về sở hữu trí tuệ đó là việc chọn lựa thiết kế chuỗi cung ứng
một cách chính xác. Luận án cũng đánh giá các tác động và ảnh hưởng của những thách
thức trên lên việc thiết kế chuỗi cung ứng.
Wu (2010) phân tích những ảnh hưởng do sự tăng trưởng vượt bậc của Trung
Quốc lên mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á, đặc biệt trong lĩnh vực CNTT và truyền
thông. Cụ thể hơn, luận án phân tích những thay đổi trong nền công nghiệp CNTT và
truyền thông của Trung Quốc đã định hình lại mạng lưới sản xuất tại khu vực này trong
bối cảnh Nhật Bản đã từng nắm giữ vai trò chính một thời gian dài trước đó. Tuy nhiên,
trái với kỳ vọng ban đầu, kết thúc luận án tác giả vẫn đưa ra kết luận: vẫn còn quá sớm
để kết luận rằng trật tự thị trường lao động đã thay đổi và vị trí dẫn đầu của Trung Quốc
cả trên phương diện nguồn vốn FDI lớn hay sự cung cấp không ngừng các tiến bộ kỹ
trình phát triển và tham gia vào chuỗi đã được các tác giả đề ra.
Oikawa (2008) nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu thực tiễn trong ngành công
nghiệp ô tô và điện tử, cụ thể là cơ cấu phân phối giá trị quốc tế trong các nền kinh tế
Đông Á và Mỹ. Lý thuyết kinh doanh chính thống giải thích lợi nhuận từ thương mại,
tuy nhiên phương thức tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhấn mạnh lợi ích bất bình đẳng
của toàn cầu hóa đối với các đối tác thương mại. Nghiên cứu dựa trên quan điểm này
20
nhằm tìm ra nền kinh tế nào được hưởng lợi nhiều nhất và ít nhất trong mạng lưới
sản xuất Đông Á, tập trung vào hai ngành công nghiệp chính là công nghiệp điện tử
và sản xuất ô tô. Hai ngành này đóng góp chính vào tăng trưởng kinh tế của khu vực
này. Đặc biệt tăng trưởng xuất khẩu của 2 ngành này tại khu vực Đông Á đã vượt xa
mức trung bình trên thế giới và giành thị phần ổn định trong vài thập kỉ trở lại đây.
Kawakami (2008) tìm hiểu động lực học liên doanh nghiệp đã điều khiển tăng
trưởng năng lực của các doanh nghiệp mới vận hành trong chuỗi giá trị toàn cầu. Bằng
việc mở rộng và thay đổi dựa trên mô hình của Gereffi, Humphrey và Sturgeon (2005),
tác giả đã trình bày một bộ khung mà trong đó sự gia tăng năng lực của các đơn vị cung
cấp được quyết định bởi sự tương tác trong chiến lược của đơn vị đó. Dựa trên thực tế
của ngành công nghiệp sản xuất máy tính notebook ở Đài Loan, nghiên cứu sẽ tìm ra sự
tương tác trong các chiến lược thuê ngoài tại các doanh nghiệp dẫn đầu tại các quốc gia
phát triển là như thế nào, chiến lược học hỏi từ các đơn vị cung cấp Đài Loan, và chiến
lược sản phẩm của các nhà cung cấp linh kiện hàng đầu đã tạo nên cuộc tăng trưởng
bùng nổ trong ngành công nghiệp này từ nửa cuối những năm 1990. Qua đó, nghiên
cứu cũng nhấn mạnh vai trò chủ động của các doanh nghiệp trong việc quyết định nhịp
độ và định hướng tăng trưởng của năng lực cung cấp.
Gangnes và Van Assche (2010) đã nhận định tăng trưởng thương mại toàn khu
vực Đông Á chủ yếu được đóng góp nhờ vào hoạt động sản xuất linh kiện nằm
là quan hệ phát triển và cách nó thay đổi chính sách phát triển. Khái niệm này cũng
được tác giả chứng minh đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển mà không
thể dựa vào thị trường nội địa là chính, có thể vươn ra xuất khẩu đa dạng hóa các
hoạt động bên ngoài hoạt động xuất khẩu truyền thống. Chuỗi giá trị toàn cầu và
hoạt động thương mại dựa trên giá trị gia tăng cũng đưa tới cơ hội mới chưa từng
xuất hiện cho các quốc gia nhỏ đang phát triển.
Chae và cộng sự (2005) đã tập trung vào ảnh hưởng của CNTT lên hợp tác liên tổ
chức. Tập trung vào bốn khía cạnh của mối quan hệ các nhà cung cấp bán lẻ (niềm tin,
sự độc lập, định hướng lâu dài và chia sẻ thông tin) để nghiên cứu ảnh hưởng giảm nhẹ
của các mối quan hệ có sẵn giữa các đối tác lên hiệu quả của CNTT.
Shintaku và Park (2012) đã đề cập tới thực tế các nền công nghiệp mới nổi như
Hàn Quốc, Đài Loan đang dần đuổi kịp Nhật Bản với những thành công vượt trội,
22
trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới. Tuy nhiên,
các công nghệ hàng đầu về công nghiệp hóa chất và thép vẫn nằm trong tay các doanh
nghiệp Nhật Bản. Trong những năm gần đây, sự phát triển mới đang mang tới những
dấu hiệu thay đổi cho ngành công nghiệp của Nhật Bản khi các nhà sản xuất sản phẩm
trung gian đang xây dựng thêm các cơ sở sản xuất tại Hàn Quốc, Đài Loan và Trung
Quốc với sản phẩm màn hình LCD và các sản phẩm bán dẫn khác. Các doanh nghiệp
Nhật Bản theo đó lại phải tiếp tục đối mặt với áp lực phải giữ vững vị trí đặc biệt của
mình trong mạng lưới sản xuất Đông Á. Trong thị trường mở cạnh tranh hiện nay,
không vị trí của quốc gia nào được đảm bảo sẽ giữ vững. Việc thay đổi ngôi vương của
Nhật Bản trong mạng lưới ngành CNTT bởi các đối thủ cạnh tranh đáng gờm khác còn
cần phải được tiếp tục nghiên cứu và kiểm chứng.
Thứ hai, nghiên cứu về thực trạng Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cđ̀u
ngành CNTT.