TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
===============
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Thực trạng thực thi trách nhiệm xã hội của Apple khi outsource tại
Trung Quốc giai đoạn 2010 - 2019
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thu Trang
Sinh viên: Nguyễn Trung Hiếu
MSV: 1612210088
Hà Nội, tháng 3/2019
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp ngày nay không chỉ đại diện cho mình mà còn đại diện cho quốc gia trên
thế giới. Với vai trò trụ cột nền kinh tế, hơn bao giờ hết, doanh nghiệp đang có những cơ
hội và trách nhiệm chứng tỏ vị thế của mình như một thiết chế kinh tế, một thực thể, một
chủ thể quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, sự tăng trưởng của đất
nước, số lượng việc làm tương đối lớn, tham gia giải quyết những vấn đề của xã hội, đem
lại sự thịnh vượng cho xã hội. Tuy nhiên, những hành vi kinh doanh thiếu trách nhiệm
của doanh nghiệp gây ra những hậu quả như: nguy cơ kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên
nhiên, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng kinh tế, các quyền lợi của người lao động không
được bảo đảm, gian lận kinh doanh, hàng giả, hàng nhái ảnh hưởng đến sức khỏe người
tiêu dùng,… Những hậu quả này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội, môi trường
sống của thế hệ sau mà chúng ta không thể không kiểm soát. Trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp (TNXH của DN) ra đời nhằm định hướng, kiểm soát và điều chỉnh những
hành vi kinh doanh của chủ thể doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển bền
vững hơn. Ngày nay, khách hàng toàn cầu không chỉ quan tâm tới giá cả, chất lượng hàng
thuê outsourcing.
Ngoài ra, khi xem xét tương quan 2 bên thuê – nhận outsourcing trong giai đoạn này, có
thể dễ dàng nhận thấy bên đi thuê ngoài thường có quy mô và tiềm lực vượt trội hơn hẳn
so với bên nhận outsourcing. Lợi ích của bên đi thuê ngoài được tính bằng phần chi phí
tiết kiệm được khi thực hiện outsource.
b. Thế hệ outsourcing thứ hai
Ở giai đoạn thứ hai, những hoạt động được doanh nghiệp mang đi thuê ngoài là những
chức năng gần cốt lõi (near-core), đóng vai trò quan trọng với sự thành bại của doanh
nghiệp và có tính chiến lược cao. Vì lí do này mà hoạt động outsourcing trong thế hệ thứ
hai thường chứng kiến sự hợp tác chặt chẽ và kết hợp nguồn lực của hai bên. Bên cạnh
đó, do mức độ quan trọng của những hoạt động được thuê ngoài, doanh nghiệp đi thuê sẽ
giữ những nguồn lực cần thiết ở bên trong nhằm tăng mức độ quản lí đối với các chức
năng, nhiệm vụ được outsource. Hợp đồng outsourcing lúc này cũng sẽ có tính linh hoạt
cao hơn để tạo điều kiện cho việc bổ sung vốn và các cải tiến về công nghệ kịp thời khi
cần thiết.
Ngoài ra trong giai đoạn này, các tổ chức đi thuê outsource thường tìm kiếm nhiều hơn
một đối tác nhằm mục đích tìm kiếm sự tương hợp chiến lược cùng những mối quan hệ
hợp tác linh hoạt hơn. Hiệu quả của hoạt động outsourcing lúc này không chỉ được đo
bằng khoản chi phí tiết kiệm được như thế hệ thứ nhất nữa mà sẽ được đánh giá qua hiệu
quả của cả quá trình kinh doanh, cụ thể qua mức độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận
của doanh nghiệp.
c. Thế hệ outsourcing thứ ba
Chuyển sang giai đoạn thứ ba, các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành thuê ngoài những hoạt
động cốt lõi (core) như sản xuất như Nike, Apple, Samsung hay chăm sóc khách hàng
như Amazon. Hơn nữa, việc doanh nghiệp giao những hoạt động chủ chốt của mình cho
bên thứ ba thực hiện cũng chứng tỏ một sự thay đổi lớn trong quan điểm đánh giá năng
lực nào là cốt lõi đối với doanh nghiệp đó.
1.1.3. Quy trình outsourcing
Ở bước này, doanh nghiệp đi thuê outsource sẽ tiến hành chuyển giao các nguồn lực cần
thiết cho bên nhận outsource, bao gồm: tài sản hữu hình, vô hình, nguồn nhân lực, thông
tin, công nghệ,…
Bước 4: Quản lý mối quan hệ
Những hoạt động củng cố và nâng cao mối quan hệ giữa hai bên thuê – nhận được thực
hiện liên tục trong quá trình hoạt động được outsource diễn ra, thường bao gồm việc duy
trì mối quan hệ qua liên lạc thường xuyên, qua các buổi gặp mặt, liên tục theo dõi hiệu
quả thực hiện hoạt động được outsource và áp dụng các biện pháp khuyến khích hay hình
phạt kịp thời, thích hợp. Ngoài ra, trong quá trình hợp tác chắc chắn sẽ phát sinh các vấn
đề hoặc nảy sinh xung đột, đòi hỏi hai bên phải có sự thương lượng, đi đến thống nhất để
cùng nhau giải quyết những điểm tồn đọng kịp thời nhằm hướng tới lợi ích chung.
Bước 5: Xem xét lại
Bước cuối cùng của quy trình outsource thường diễn ra sau khi hoạt động được thuê
outsource đã kết thúc và hai bên đã nhận thức được kết quả của sự hợp tác này. Tại giai
đoạn này, doanh nghiệp đi thuê sẽ dựa trên kết quả hoạt động để đưa ra các quyết định
như: Có nên outsource nữa hay không? Nếu tiếp tục outsource thì có hợp tác với các đối
tác hiện tại nữa không? …
1.1.4. Ưu điểm và nhược điểm của hoạt động outsourcing
a. Ưu điểm
Ưu điểm đầu tiên và cũng có lẽ là lớn nhất của outsourcing là lợi ích về chi phí mang lại
cho doanh nghiệp đi thuê. Điểm mạnh này có thể bắt nguồn từ sự khác biệt về tự nhiên
(địa hình, tài nguyên,…) hay xã hội (quy mô nguồn lao động, trình độ dân trí, mức độ
phát triển kinh tế khu vực,…). Cụ thể, trên thực tế, Trung Quốc hay các quốc gia đông
dân khác như Việt Nam, Ấn Độ thường được chọn là địa điểm để outsource sản xuất của
các tập đoàn lớn từ Mỹ hay châu Âu bởi nguyên nhân chính là nguồn lao động phổ thông
dồi dào, giá rẻ, giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất cho doanh nghiệp đi thuê. Mặc dù sản
phẩm sản xuất ra tại các quốc gia này có thể chất lượng không tốt như hàng sản xuất nội
địa tại Mỹ hay châu Âu, lợi ích về chi phí vẫn là quá lớn khiến nhiều doanh nghiệp sẵn
hay công nghê, dây chuyền sản xuất của mình cho bên nhận outsource. Đây là một rủi ro
rất lớn nếu những bí quyết kinh doanh bị lộ ra lại là chìa khóa để dẫn đầu thị trường của
bên đi thuê, dẫn tới những đối tác hiện tại học hỏi được và nhăm nhe trở thành đối thủ
cạnh tranh trực tiếp trong tương lai.
1.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)
1.2.1. Định nghĩa
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là thuật ngữ để chỉ nhận thức của một doanh
nghiệp về 2 vấn đề chính:
-
-
Đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên liên quan tới hoạt động của mình bao gồm
người lao động, khách hàng, các nhà cung cấp, chi nhánh, cộng đồng địa phương,
…chứ không chỉ phục vụ các cổ đông.
Hoạt động trên định hướng phát triển bền vững (sustainable development), đưa ra
các quyết định luôn phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế mang lại và các tác động tới
môi trường và xã hội.
1.2.2. Các lĩnh vực bao trùm
Một doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội của mình cần quan tâm tới 4 lĩnh vực
chính:
Kinh doanh
và môi trường
Con người
Khuyến khích
khích phát
phát triển
triển
Đa
Đa sắc
sắc tộc
tộc
Sức
Sức khỏe
khỏe và
và an
an toàn
toàn lao
lao động
động
Tiêu
Tiêu chuẩn
chuẩn làm
làm việc
việc
Chính
Chính sách
sách về
về gia
gia đình
đình
Cộng đồng
công ty
ty
Quan
Quan hệ
hệ công
công chúng
chúng
Chương II: Thực trạng hoạt động outsourcing của Apple tại Trung Quốc cùng
những hệ quả về kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp giai đoạn 2012
- 2019
2.1. Tổng quan về Apple
2.1.1. Thông tin chung
Apple Inc. là một tập đoàn lớn về công nghệ, được thành lập năm 1976 bởi 3 thành viên
gồm: Steve Jobs, Steve Wozniak, Ronald Wayne dưới cái tên Apple Computer Inc. Sau
hơn 40 năm hoạt động, Apple đã khẳng định được vị thế của mình như một trong 4 ‘Big
Four’ trong lĩnh vực công nghệ, cùng với Amazon, Facebook và Google. Hiện tại, trụ sở
chính của Apple đặt tại California với quy mô khoảng 132.000 nhân viên và đạt doanh
thu hơn 265 tỉ USD vào năm 2018.
Lĩnh vực hoạt động của Apple bao gồm thiết kế, phát triển và phân phối các sản phẩm
phần cứng, phần mềm máy tính, các thiết bị điện tử, vật liệu bán dẫn,…Ngoài ra, Apple
còn đầu tư vào nhiều start-up về công nghệ.
Nhắc tới Apple, chúng ta hẳn không còn lạ lẫm gì với những sản phẩm mang lại tên tuổi
cho ông lớn này như điện thoại thông minh Iphone, máy tính bảng Ipad, đồng hồ thông
minh SmartWatch,…
Hình 1: Một số sản phẩm nổi tiếng của Apple
Để đạt được những thành tựu đáng ngưỡng mộ như hiện nay, Apple trong suốt quá trình
hoạt động đã và đang hợp tác với rất nhiều các đơn vị trên toàn thế giới. Theo số liệu từ
thô
thô
Mua nguyên
nguyên vật
vật liệu
liệu
Mua
Sản xuất
Lưu kho
kho
Lưu
Phân phối
phối
Phân
Đổi trả
trả
Đổi
Như vậy ta có thể thấy bí quyết của Apple trong chuỗi cung ứng của mình là outsource
một hoạt động cốt lõi (core) là sản xuất sang Trung Quốc, trong khi bản thân đảm nhiệm
các hoạt động liên quan tới R&D, thử nghiệm sản phẩm, nghiên cứu thị trường, dự báo
nhu cầu,…
2.2. Thực trạng thực thi trách nhiệm xã hội của Apple khi outsource sản xuất tại
Trung Quốc giai đoạn 2010 – 2019
Theo tài liệu công bố của Apple 2018, hoạt động sản xuất của công ty được outsource
rộng khắp trên gần 30 quốc gia với nhiều đối tác lớn, trong đó cái tên nổi bật nhất là
Foxconn.
Như đã được trình bày trong phần cơ sở lý luận , một doanh nghiệp khi thực thi trách
nhiệm xã hội của mình cần quan tâm tới 04 phạm trù chính bao gồm: Kinh doanh và môi
trường, Con người, Cộng đồng, và Danh tiếng. Tuy nhiên, bài luận này sẽ chỉ tập trung
Thông bên cạnh nhà máy, qua khảo sát cho kết quả bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo kết
quả từ một đơn vị thứ ba, nguồn nước thải sản xuất của nhà máy này chứa hàng loạt các
kim loại nặng như đồng hay niken, vốn là những chất gây ô nhiễm thường thấy ở các nhà
máy sản xuất bảng mạch điện. Tuy nhiên khi khảo sát bùn ở dưới đáy hồ Nam Thông,
lượng đồng tìm thấy đạt tới 4270mg/kg bùn, tức là gấp từ 56 đến 193 lần chỉ số đo được
tại các vùng trung lưu của sông Dương Tử.
Hình: Nhà máy Meiko Vũ Hán (dấu đỏ) và hồ Nam Thông (hướng Đông Nam)
Khối lượng lớn chất thải từ các nhà máy nằm trong chuỗi cung ứng của Apple đang đe
dọa nghiêm trọng tới sức khỏa và sự an toàn của cộng đồng. Qua quá trình nghiên cứu,
chúng tôi đã được nghe nhiều lời phàn nàn đến từ cộng đồng cư dân địa phương về một
số nhà máy này. Điển hình có thể kể đến 02 đơn vị Kaedar Electronics và Unimicron
Electronics tọa lạc tại Côn Sơn, Tô Châu, Trung Quốc, là 2 nhà máy nhận được rất nhiều
chỉ trích từ phía cư dân địa phương về lượng khí thải. Dân cư ở đây nói rằng họ rất lo
lắng cho sức khỏe của con cái mình. Nghiêm trọng hơn nữa, một ngôi làng ở vùng lân
cận đã chứng kiến tỉ lệ người dân bị ung thư tăng đột biến.
Nhà máy Foxconn Electronics tọa lạc tại Thái Nguyên, Sơn Tây, Trung Quốc nổi tiếng
với công suất sản xuất khổng lồ nhưng đồng thời cũng dính líu tới nhiều bê bối liên quan
tới ô nhiễm môi trường. Trong những năm trở lại đây, dân cư địa phương đã nhiều lần gửi
các cáo buộc tới chính quyền về việc nhà máy này đang thải ra khí thải có mùi cực kì khó
chịu khiến họ mắc nhiều bệnh về hô hấp, chảy nước mắt hay nhiều khi không dám mở
cửa sổ vì mức độ ô nhiễm quá kinh khủng. Về vấn đề này, chính quyền địa phương đã
nhiều lần yêu cầu nhà máy này kiểm soát lượng khí thải của mình, tuy nhiên vấn đề đang
ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của người dân này vẫn chưa có vẻ gì là được giải
quyết triệt để.
Chúng tôi trong quá trình điều tra đã phát hiện ra một lượng chất thải độc hại rất lớn bắt
nguồn từ các nhà máy đối tác của Apple, cộng thêm tình trạng nhiều nhà máy trong số
tâm sát sao hơn nữa từ phía Apple.
2.2.2. Thực trạng thực thi trách nhiệm xã hội về Con người
Nếu truy cập vào website chính thức về Trách nhiệm xã hội của Apple tại
https://www.apple.com/supplier-responsibility, ta dễ dàng bị ấn tượng bởi vô số các khẩu
hiệu và lời khẳng định quả quyết về sự quan tâm và đề cao lợi ích của con người của
doanh nghiệp này. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh Apple không hề làm tốt nhiệm vụ
của mình như đã hứa.
Hình: Khẩu hiệu về Con người trên trang web về Trách nhiệm xã hội của Apple
Quyền và lợi ích của rất nhiều công nhân làm việc tại các nhà máy sản xuất lắp ráp các
sản phẩm của Apple thuộc Foxconn, hay còn được biết đến như Tập đoàn Khoa học kỹ
thuật Hồng Hải, đã bị ảnh hưởng. Phần lớn công nhân làm việc trong các khu công
nghiệp này là dân cư địa phương và từ các khu vực lân cận, chủ yếu là người lao động có
học thức thấp. Theo những thông tin từ 02 bài báo gồm “The undercover internship: what
it’s like to work in Chinese factory assembling iPhones” được đăng tải trên news.com.au
vào tháng 5 năm 2017 và bài “Life and death in Apple’s forbidden city” đăng tải trên tờ
The Guardian vào tháng 6 năm 2017, yếu tố Con người tại các nhà máy của Foxconn
được Apple outsource sản xuất chưa bao giờ được quan tâm đúng mức. Cụ thể, phần lớn
công nhân tại các phân xưởng của Foxconn đều đồng ý rằng công việc của họ vừa nhàm
chán lại vừa mệt mỏi, đồng thời còn thường xuyên phải làm ca dài và làm thêm giờ. Một
tuần lao động của các công nhân ở đây kéo dài từ Thứ hai cho đến Thứ bảy, với 8 tiếng
làm việc trong Thứ bảy và 12 tiếng làm việc trong các ngày còn lại, ngày nghỉ duy nhất là
Chủ nhật. Với gần 70 tiếng làm việc mỗi tuần, một công nhân trung bình tại nhà máy của
Foxconn, không làm thêm giờ chỉ được trả khoảng 3000 NDT 1 tháng tức xấp xỉ 10 triệu
VND, đã trừ đi tiền ăn ở của công nhân. Hơn thế nữa, những công nhân này tuy làm việc
12 tiếng mỗi ngày trong tuần nhưng lại chỉ được nhận lương của 10,5 tiếng, lại càng làm
cuộc sống của các công nhân này thêm khó khăn. Minh chứng cho vấn đề này, trong hơn
Hình: Một công nhân trong phòng kí túc xá của nhà máy Foxconn tại Quảng Đông, Trung Quốc
Hình: Nơi ở và vệ sinh của các công nhân nhà máy Foxconn Quảng Đông, Trung Quốc
Bên cạnh vấn đề nơi ở, bữa ăn của công nhân tại nhà máy Foxconn Quảng Đông cũng
gây nên nhiều ý kiến trái chiều. Từ phía ban quản lý công ty, họ khẳng định 04 nguyên
tắc về ăn uống được áp dụng tại đây lần lượt gồm: An toàn, Sạch sẽ, Giàu dinh dưỡng và
Ngon miệng. Thoạt nhìn qua những bức ảnh trong bài báo “Inside Foxconn #5: Food”
của tác giả James Fallow đăng tải trên tờ The Atlantic tháng 10 năm 2012, hầu hết mọi
người đều sẽ cảm thấy Foxconn đã làm khá tốt công việc của mình trên khía cạnh ăn
uống cho nhân viên khi các bữa ăn được chuẩn bị có phần đầy đủ cả về lượng và chất,
đồng thời cũng cung cấp nhiều dịch vụ ăn uống đi kèm khác.
Hình: Một số hình ảnh về hoạt động ăn uống của công nhân viên nhà máy Foxconn
Quảng Đông, Trung Quốc
Tuy nhiên, thực tế lại chứng minh điều ngược lại. Theo bài báo “Food At Apple Contract
Manufacturer Foxconn Panned By Workers” đăng tải trên tờ Forbes năm 2012, hơn 70%
công nhân làm việc tại nhà máy Foxconn Quảng Đông phàn về chất lượng đồ ăn được
phục vụ. Hơn 1/3 số nhân viên khi được hỏi 3 thứ mà họ muốn cải thiện về nơi làm việc
hiện tại nếu có thể đều nói họ muốn chất lượng đồ ăn cần phải tốt hơn. Một nghiên cứu từ
FLA vào năm 2012 đã đưa ra những con số không thể bàn cãi chứng minh sự yếu kém về
chất lượng đồ ăn được phục vụ tại nhà máy này, cụ thể: 71.8% số công nhân được khảo
sát phàn nàn về đồ ăn, trong đó 26.1% cho rằng đồ ăn phục vụ tại căng tin của công ty
không đạt yêu cầu và tới 45.4% cho rằng đồ ăn “không thể chấp nhận được”. Chỉ có chưa
tới 1/5 số công nhân tại đây khi được hỏi hài lòng với chất lượng đồ ăn!
Bên cạnh những sự quan tâm về khía cạnh ăn ở và công việc, Foxconn Quảng Đông cũng
khiến 3 công nhân thiệt mạng, bao gồm 2 nam công nhân 30 và 24 tuổi cùng 1 nữ công
nhân 23 tuổi. Nguyên nhân chính xác của vụ việc này chưa được khẳng định, tuy nhiên ta
có thể dễ dàng suy luận ra nguyên nhân một phần chắc chắn đến từ sự đối xử có phần
ngược đãi với công nhân của Foxconn. Nối tiếp chuỗi sự việc tai tiếng, năm 2016 lại
chứng kiến một vụ đe dọa tự tử tập thể của công nhân Foxconn Quảng Đông với quy mô
dưới 100 công nhân. Tới tháng 5 năm 2017, một nhóm khoảng 10 công nhân đe dọa nhảy
lầu tự tử nếu Foxconn không trả đủ tiền lương cho họ đúng thời hạn đã hứa. Hầu hết các
vụ việc này đều được Foxconn giải quyết bằng giảng hòa và hứa tăng lương thưởng,
nhưng tình trạng các trường hợp biểu tình của công nhân vẫn liên tiếp diễn ra chắc chắn
sẽ làm cho người đọc phải nghi ngờ về mức độ thực hiện những lời hứa có phần hoa mỹ
của công ty này.
Khi được hỏi cảm nhận về những khó khăn khi sinh hoạt và làm việc tại Foxconn cùng
suy nghĩ về những vụ việc tự tử đã xảy ra, công nhân tại đây cho biết họ không trách
Apple mà cho rằng phần lỗi chính thuộc về Foxconn. Khi được hỏi họ có ý định tiếp tục
làm việc nếu điều kiện lao động và sinh hoạt ở Foxconn được cải thiện không, một công
nhân trả lời thẳng thừng: “Sẽ chẳng có gì thay đổi ở đây đâu!”. Về phần những vụ biểu
tình hay tự sát, các công nhân cho biết chúng xảy ra như cơm bữa và họ dường như phải
học cách làm quen với điều này nếu như muốn có thể tiếp tục làm việc tại đây.
Về phía Apple, cụ thể là cố CEO Steve Jobs, khi được hỏi về tình trạng tự tử của công
nhân tại nhà máy sản xuất lắp ráp iPhones lớn nhất thế giới trong một buổi phỏng vấn
trên truyền hình vào năm 2010 đã cho biết ông xem đây là một tình huống không mấy dễ
chịu. Ngoài ra, ông có những phát biểu mang tính bảo vệ Foxconn điển hình như:
“Foxconn đâu phải giống như kiểu một xưởng may tồi tàn đâu, đây là một nhà máy nơi
bạn đến làm việc và trời đất họ (công nhân) còn có các cửa hàng ăn, rạp chiếu phim,
bệnh viện rồi cả bể bơi nữa! Tôi thấy đó là một nhà máy khá tuyệt đấy chứ.” Ngoài ra,
ông còn cho rằng Apple là một trong số rất ít những công ty trong lĩnh vực của mình nói
riêng và trên toàn thế giới nói chung nắm rõ điều kiện lao động của các công nhân làm
việc cho mình, đồng thời luôn quan tâm sát sao đến các đối tác ở các nhánh nhỏ nhất
vẫn đang là một bài toán khó chưa được Apple quan tâm đúng mức. Thực trạng này đã
đặt ra yêu cầu với các công ty thực hiện thuê outsource như Apple rằng cần phải quan
tâm sát sao, thậm chí gây áp lực hay trực tiếp tham gia và giám sát quá trình xử lý thải tại
đơn vị được thuê outsource, nhằm mục tiêu đảm bảo hoạt động xử lý và xả thải tuân thủ
đúng các tiêu chuẩn được pháp luật đề ra.
3.2. Các giải pháp trên khía cạnh Con người
Giải quyết các vấn đề liên quan tới Con người luôn là một bài toán khó, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải cân nhắc rất nhiều yếu tố trước khi đưa ra và áp dụng bất kì giải pháp
nào. Trong trường hợp này, vấn đề cốt lõi cần giải quyết là điều kiện lao động, sinh hoạt
cùng mức thù lao không tương xứng đang làm nhiều công nhân không hài lòng, trong khi
các đơn vị trực tiếp quản lý như Foxconn thì không có những giải pháp triệt để. Thực
trạng này đỏi hỏi những đơn vị chịu trách nhiệm gián tiếp như Apple có những hành động
cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho những công nhân này. Một giải pháp Apple có thể áp
dụng đó là tăng mức thù lao cho các đơn vị nhận outsource này để đổi lại sự gia tăng về
tính minh bạch trong hợp tác cũng như về phúc lợi cho các công nhân. Ngoài ra, Apple
cũng nên tiếp tục duy trì các chương trình kết hợp với các đối tác nhằm cải tiến liên tục,
nâng cao điều kiện làm việc, kiểm tra thường xuyên và hướng tới tính minh bạch cao nhất
trong các hoạt động hợp tác.
KẾT LUẬN
Như vậy, qua quá trình nghiên cứu, ta đã phần nào hiểu thêm về thực trạng tình hình thực
hiện trách nhiệm xã hội của một trong những tập đoàn công nghệ được quan tâm nhiều
nhất hiện nay là Apple. Những vụ việc vi phạm quy định pháp luật, các bê bối liên quan
tới môi trường và quyền lợi của người lao động đã cho thấy trong giai đoạn 9 năm 2010 –
2019 Apple vẫn còn nhiều điểm cần khắc phục và làm tốt hơn để làm tròn trách nhiệm xã
hội của mình, không chỉ với các đối tượng trực tiếp do mình quản lý mà còn cần quan
tâm tới lợi ích của tất cả các đối tượng liên quan. Trong tương lai, Apple sẽ cần cố gắng
hơn nữa, cần có những giải pháp thiết thực, thậm chí mạnh tay nếu cần thiết để phòng
ngừa và giải quyết các trường hợp bê bối tương tự có thể xảy ra sau này.