MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .................................................................................................... 7
1.1. Những công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, tiền đề lý luận, cuộc đời và
sự nghiệp khoa học của Karl Popper. ..................................................................... 8
1.2. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng triết học về chính trị
- xã hội của Karl Popper ....................................................................................... 13
1.3. Những công trình đánh giá về những giá trị và những hạn chế về mặt triết
học trong tư tưởng chính trị - xã hội của karl popper ........................................... 21
1.4. Nhận xét chung về các công trình nghiên cứu, đánh giá về Karl Popper ...... 24
Chương 2: BỐI CẢNH VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT
HỌC VỀ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL POPPER ................................... 28
2.1. Bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội hình thành tư tưởng triết học về chính trị
- xã hội của Karl Popper ....................................................................................... 28
2.2. Những tiền đề khoa học tự nhiên cho sự hình thành tư tưởng triết học về
chính trị - xã hội của Karl Popper ......................................................................... 34
2.3. Những tiền đề triết học và lý luận xã hội cho sự hình thành tư tưởng triết học
về chính trị - xã hội của Karl Popper .................................................................... 41
2.4. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp khoa học của Karl Popper .................... 59
Chương 3: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
VỀ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL POPPER ............................................. 65
3.1. Quan niệm của Karl Popper về chủ nghĩa tự do xã hội ................................. 66
3.2. Quan niệm triết học của Karl Popper về xã hội mở ...................................... 70
3.3. Sự phê phán của Karl Popper đối với chủ nghĩa lịch sử như là kẻ thù của xã
hội mở ................................................................................................................... 84
Chương 4: NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ VỀ MẶT TRIẾT HỌC
TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL POPPER ........... 105
4.1. Những đóng góp về mặt triết học trong tư tưởng chính trị - xã hội của Karl
Popper ................................................................................................................. 105
4.2. Một số hạn chế về mặt triết học trong tư tưởng chính trị - xã hội của Karl
quả là số đông cán bộ lý luận thiếu hiểu biết rộng rãi về kho tàng tri thức của loài người,
do đó khả năng phát triển bị hạn chế” [17, tr. 20-21].
Hơn hai mươi năm sau, Bộ Chính trị (khóa XI) lại ban hành một Nghị quyết
mới để thúc đẩy hơn nữa phong trào này. Đó là “Nghị quyết của Bộ chính trị ngày 9
1
tháng 10 năm 2014 về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”.
Nghị quyết đánh giá: “Nghiên cứu những trào lưu tư tưởng, học thuyết mới, lý thuyết
mới chưa được nhiều”. Từ đó, Nghị quyết đề ra phương hướng chỉ đạo: “Đối với
những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiếp tục mở rộng và đi sâu nghiên
cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ” [20].
Như vậy, việc nghiên cứu tư tưởng triết học của Karl Popper là phù hợp với
chủ trương đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó sẽ có tác dụng hai mặt: một
là, góp phần phát triển chuyên ngành lịch sử triết học, nhất là triết học phương Tây
hiện đại; hai là, tiếp thu những giá trị tiến bộ trong các trào lưu triết học đó để phục
cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta. Trong tư tưởng triết học về chính trị xã hội của Karl Popper, ngoài những khiếm khuyết có tính cực đoan, phiến diện của
nó, còn có một số giá trị triết học có tính khoa học và tiến bộ mà chúng ta có thể
tiếp thu được để phục vụ yêu cầu đổi mới về lý luận chủ nghĩa xã hội.
Sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội và sự sụp đổ của Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa Đông Âu đặt ra câu hỏi về nguyên nhân đích thực của tình trạng
này. Liệu có những khiếm khuyết trong lý luận về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản hay đây chỉ là những sai lầm về mặt thực tiễn? Mặt khác, các trào lưu tư
tưởng chống cộng, trong đó có triết học của Karl Popper tìm cách phủ nhận hoàn
toàn triết học Mác và chủ nghĩa cộng sản, đồng nhất triết học Mác với ‘chủ nghĩa
lịch sử’, coi xã hội cộng sản là xã hội ‘đóng’, đối lập với xã hội mở. Ngoài ra, trong
lĩnh vực nghiên cứu lý luận hiện nay cũng đang tồn tại một khuynh hướng sai lầm là
quá tán dương tư tưởng chính trị - xã hội của Karl Popper để phủ nhận hoàn toàn
chủ nghĩa Mác. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl
Popper đặc biệt nhấn mạnh trong các tác phẩm của ông cần được nghiên cứu và vận
dụng nhằm đem lại một luồng sinh khí mới trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập và
vận dụng các môn lý luận khoa học ở nước ta hiện nay với chất lượng, hiệu quả thật sự.
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu về triết học Karl Popper nói chung và tư
tưởng triết học về chính trị - xã hội của ông nói riêng ở Việt Nam còn khá khiêm
tốn. Những công trình nghiên cứu về Karl Popper tuy đã xuất hiện, nhưng còn rất
hạn chế. Trong thời gian gần đây tuy đã có một số công trình nghiên cứu mới về
ông, nhưng chưa có một công trình nào đi sâu về chỉ ra những điểm hợp lý và
những điểm không thỏa đáng của Karl Popper trong việc phê phán chủ nghĩa lịch sử
và đề cập một cách toàn diện về quan điểm triết học về xã hội mở của ông.
3
Tóm lại, việc nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Karl Popper,
chỉ ra những đóng góp của nó sẽ góp phần đổi mới và phát triển công tác nghiên
cứu lý luận ở nước ta, trong đó có việc nghiên cứu lịch sử triết học; tìm ra những
chỗ thiếu sót trong việc hiểu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm hoàn thiện
cách tiếp cận đối với nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, đổi mới phương pháp giảng
dạy, học tập các bộ môn Mác - Lênin, phát huy vai trò của tư duy phê phán, mở
rộng dân chủ và phát huy vai trò sáng tạo của mọi cá nhân trong xây dựng xã hội
mở và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Đồng thời, việc vạch ra những hạn chế
cực đoan, phiến diện trong tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl Popper
sẽ góp phần bảo vệ những giá trị của chủ nghĩa Mác- Lênin và đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tư tưởng
chính trị - xã hội của Karl Raimund Popper. Những giá trị và hạn chế về mặt triết
học” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là nghiên cứu phân tích một cách hệ thống để làm rõ
những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl
Popper, từ đó chỉ ra những giá trị cùng những hạn chế về mặt triết học của nó để
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn đề triết học,
chính trị - xã hội và lịch sử.
Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận án còn sử dụng kết hợp một số phương pháp cụ
thể, như phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử; so sánh, đối chiếu, hệ thống hóa,
phương pháp thông diễn học hay chú giải học (phương pháp thông hiểu và diễn giải
các văn bản), phương pháp tư duy phê phán, v.v..
5. Cái mới của luận án
- Về mặt nội dung. Nhờ dựa trên nguồn tài liệu phong phú và tương đối đầy
đủ, luận án làm rõ được những khía cạnh quan trọng trong tư tưởng triết học về
chính trị - xã hội của Karl Popper, phân tích và rút ra được những giá trị và hạn chế
của nó, chỉ ra khả năng liên hệ và vận dụng chúng trong lý luận và thực tiễn.
- Về mặt phương pháp. Nhờ tiếp cận được một cách trực tiếp với những tác
phẩm gốc, khắc phục được những hạn chế về tài liệu và ngôn ngữ đã từng có trước
5
đây, luận án đưa ra một sự đánh giá khách quan cả hai mặt đóng góp và hạn chế của
Karl Popper, khắc phục được thái độ phê phán, đánh giá một chiều như trước đây.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng của các
trường phái và triết gia phương Tây hiện đại, cụ thể là tư tưởng triết học về chính trị
- xã hội của Karl Popper với mục đích kế thừa những điểm hợp lý để bổ sung triết
học Mác – Lênin, đồng thời phê phán những biểu hiện cực đoan của nó để bảo vệ
tính đúng đắn của triết học Mác – Lênin. Đây là một vấn đề đang được đặt ra cấp
thiết đối với nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án góp phần đổi mới cách tiếp cận đối với nhiều vấn đề
xã hội, lịch sử; đóng góp ý kiến tham mưu cho các cấp Đảng và Nhà nước trong
việc điều chỉnh một số quan niệm về xây dựng chủ nghĩa xã hội; thực hiện dân chủ,
Nxb Manchester University Press xuất bản năm 1983. Đặc biệt là công trình “The
Philosophy of Karl Popper” (Triết học của Karl Popper), do Paul A. Schilpp chủ
biên với sự đóng góp của rất nhiều nhà triết học nổi tiếng nghiên cứu, nhận xét về
Karl Popper, do The Open Court Publishing Company, Chicago, Illinois xuất bản
thành hai tập năm 1974. Chuyên khảo về tư tưởng chính trị Karl Popper có tác
phẩm “The Political Thought of Karl Popper” (Tư tưởng chính trị của Karl
Popper), do Jeremy Shearmur, một người đã từng là trợ lý của Karl Popper trong 8
năm (1971-1979) được Routledge, New York xuất bản năm 1996.
Ở nước ta, chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo nào về Karl Popper;
phần lớn các sách chuyên khảo về Karl Popper bằng tiếng nước ngoài chưa được
dịch ra tiếng Việt. Chúng tôi đã cố gắng sưu tầm nhưng chỉ có được trong tay hai
cuốn sách chuyên khảo đã được dịch ra tiếng Việt, như cuốn “Triết học mở và xã
hội mở”, do Đỗ Minh Hợp dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 (dịch từ
cuốn“The Open Philosophy and the Open Society: A Reply to Dr. Karl Popper’s
Refutation of Marxism” của Maurice Cornforth, một nhà mácxít Anh, Nxb
Lawrence & Whishart, London, 1968), và cuốn “Karl Raimund Popper”của Lý
Quốc Tú (Trung Quốc), do Đặng Lâm dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005.
7
Hiện nay ở nước ta, việc nghiên cứu về Karl Popper tuy có tăng hơn nhưng
vẫn còn rất hạn chế. Hiện đã có ba trong số các tác phẩm của Karl Popper được dịch
ra tiếng Việt, trong đó chỉ có hai cuốn được xuất bản thành sách: cuốn “Sự nghèo
nàn của thuyết sử luận” (‘'Thuyết sử luận’ là từ dịch không chính xác, đúng ra là
‘chủ nghĩa lịch sử’) và cuốn “Tri thức khách quan” do Chu Đình Lan dịch, Nxb Tri
thức, Hà Nội, 2012. 'Cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” đã được Nguyễn
Quang A dịch và công bố trên mạng internet nhưng chưa được xuất bản thành sách
in. Tuy đã được dịch nhưng việc chuyển ngữ từ tiếng Anh ra tiếng Việt chưa được
tốt lắm, cho nên người đọc gặp nhiều khó khăn với các thuật ngữ trong các sách này.
Đôn Phước dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008) [8] trình bày khá chi tiết bối cảnh
lịch sử, xã hội của nước Áo đầu thế kỷ XX. Nạn đói ở thủ đô Viên của nước Áo đã
gây nên những cuộc bạo loạn. Cuộc cách mạng Bonsevich ở Nga năm 1917, sự
thành lập của Cộng hòa Áo năm 1918, cuộc nổi dậy của phong trào Spartacus năm
1919 ở Đức kích thích các phong trào cực tả ở Áo. Giành thắng lợi trong các cuộc
bầu cử năm 1919, Đảng Công nhân xã hội dân chủ Áo lên chấp chính cùng với
Đảng xã hội Kitôgiáo. Bối cảnh này để lại dấu ấn trong sự hình thành tư tưởng của
Hayek, đồng thời qua đó chúng ta có thể liên hệ để hiểu thêm về bối cảnh hình
thành tư tưởng triết học chính trị của Karl Popper và mối quan hệ về tư tưởng giữa
Hayek và Popper. Trong chương này có một phần tác giả nói về mối quan hệ giữa
Hayek và Popper. Từ chỗ đồng hành với nhau về quan điểm, hai người trở thành
bạn thân. Năm 1936, Hayek mời Popper đọc một tham luận khoa học trong một
cuộc semina do Hayek tổ chức tại Trường Kinh tế London (LSE). Bài tham luận
chính là một phần của công trình của Popper về sau được đăng trên tạp chí
Economica của trường này trong các năm 1944-1945 với tiêu đề “The Poverty of
Historicism” (Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử). Cũng chính nhờ Hayek giới
thiệu mà Popper sang làm việc tại LSE từ năm 1946 và “Với sự hỗ trợ của Hayek,
Popper được bổ nhiệm giáo sư tại LSE năm 1949” [26, tr.33].
Các trang web như Wikipedia, the free Encyclopedia (Bách khoa thư mở
Wiki), Stanford Encyclopedia of Philosophy (Bách khoa thư triết học Stanford),
cũng dành một phần trong bài viết về Karl Popper để nói về thời thơ ấu, hoàn cảnh
gia đình và việc học hành, công việc xã hội đầu tiên của Popper.
9
Lý Quốc Tú trong nội dung đầu tiên của chương IV tác phẩm “Karl Raimund
Popper” [49], tác giả nói về sự mở rộng tầm mắt sang lĩnh vực triết học chính trị
của Popper, tác giả cho rằng cuộc sống và công việc của Popper ở New Zealand rất
dễ chịu, nhân dân ở đó rất khiêm nhường, niềm nở và hiếu khách, mọi người cảm
được sự khêu gợi trong thái độ của Einstein đối với lý luận khoa học.
Vũ Mạnh Toàn trong “Triết học Bertrand Russell và ý nghĩa của nó” (Luận án
tiến sĩ triết học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011) [85], tác giả cho ta thấy
được sự biến đổi mạnh mẽ của logic học và toán học vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX. Sự biến đổi này có ảnh hưởng lớn đến ra đời chủ nghĩa thực chứng mới. Khi
đề cập đến những tiền đề triết học, tác giả trình bày chủ nghĩa thực chứng qua các
thời kỳ: Chủ nghĩa thực chứng sơ kỳ đầu thế kỷ XIX với người sáng lập là Auguste
Comte. Giai đoạn thứ hai là chủ nghĩa phê phán kinh nghiệm vào những năm 70 của
thế kỷ XIX với hai đại diện là Ernst Mach và Richard Avenarius. Giai đoạn thứ ba
là chủ nghĩa thực chứng mới (chủ nghĩa thực chứng lôgic). Có thể nói đây là một
nguồn tư liệu cho chúng tôi trong việc trình bày các tiền đề tư tưởng lý luận cho sự
hình thành tư tưởng triết học về chính trị – xã hội của Karl Popper.
A.S. Bôgômôlôp, Ju.K. Menvin, I.S.Narơski với tác phẩm: “Chủ nghĩa thực
chứng mới trong triết học tư sản hiện đại ”(Nxb Matsxcơva 1978 – Tư liệu dịch của
Viện Triết học) [04]. Trong công trình này, các tác giả đã trình bày về quá trình xuất
hiện, nguồn gốc và nội dung cơ bản của chủ nghĩa thực chứng mới. Trong đó, các
tác giả đã giành một phần để giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp triết học của Karl
Popper trong nhiều lĩnh vực mà ông hoạt động. Đặc biệt các tác giả phân tích mối
quan hệ giữa Karl Popper với chủ nghĩa thực chứng nhóm Viên.
Tác giả Nguyễn Tấn Hùng trong tác phẩm “Một số trào lưu triết học và tư
tưởng chính trị phương Tây đương đại” [36] cho rằng quan điểm chính trị - xã hội
của Karl Popper là kết quả của một quá trình đối chiếu, lựa chọn có cân nhắc kỹ
lưỡng sau khi đã tiếp xúc với tất cả các trào lưu tư tưởng đang thịnh hành lúc bấy
giờ ở Áo, không chỉ về lý luận mà còn có thời gian tham gia hoạt động thực tiễn với
họ nữa. Karl Popper nghiên cứu Phân tâm học của Sigmund Freud và Alfred Adler,
có thời gian ông tình nguyện làm việc trong một bệnh viện phân tâm học nhi khoa
của Adler, nhưng cuối cùng, ông cũng phát hiện ra tính phi khoa học của học thuyết
này. Karl Popper cũng có tiếp xúc với các nhà khoa học ‘nhóm Viên’, tham dự các
11
như: “Lôgic của phát minh khoa học”, “Xã hội mở và những kẻ thù của nó”; “Sự
12
nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử”; “Phỏng định và bác bỏ: Sự tăng tiến của tri
thức khoa học”; “Hai vấn đề căn bản của lý luận nhận thức”, Popper còn tham gia
hoạt động khoa học trong một số hội nghiên cứu. Có thể nói Popper có những đóng
góp xuất sắc trên phương diện triết học khoa học. Và chính những tư liệu của tác
giả đã cho chúng ta thấy được điều này.
Bách khoa thư Triết học Stanforth đề cập đến sự kiện có ý nghĩa quyết định
đối với việc Karl Popper rời bỏ quê hương và di cư ra sinh sống ở nước ngoài, đó là
sự tiên đoán chính xác của ông về nguy cơ nước Áo bị Đức Quốc xã thôn tính và sát
nhập vào nước Đức phát xít [126].
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TƯ
TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL POPPER
1.2.1. Những công trình liên quan đến lập trường tư tưởng tự do xã hội của
Karl Popper
Lập trường chính trị - xã hội của Karl Popper là “chủ nghĩa tự do xã hội”
(social liberalism). Chủ nghĩa tự do xã hội khác với các biến thể khác, như chủ
nghĩa tự do cổ điển (classical liberalism) và chủ nghĩa tân tự do (neo-liberalism) của
Friedrich Hayek và một số biểu hiện cực đoan của chủ nghĩa tự do đang tồn tại trên
thế giới như Đảng tự do (Liberitarian Party) ở Mỹ hiện nay. Chủ nghĩa tự do xã hội
một mặt đề cao vai trò của tự do cá nhân, nhưng mặt khác phản đối tình trạng bất
công xã hội, chủ trương giúp đỡ người nghèo khổ. Tư tưởng tự do xã hội của Karl
Popper đã có mầm mống từ lúc nhỏ trong bối cảnh xã hội Áo lúc bấy giờ và nhất là
do giáo dục và truyền thống của gia đình ông. Điều này được thể hiện trong ‘Tự tiểu
sử’, trong đó Karl Popper nói rằng người cha của ông là người theo chủ nghĩa tự do
xã hội không phải chỉ về mặt tư tưởng mà còn chủ động tổ chức những hoạt động
giúp đỡ người nghèo nữa. Ý thức về giúp đỡ người nghèo đã đưa Popper đến với
mạnh về kinh tế”. Cũng theo nhận xét của William Gorton, “Có lẽ những chính sách
của Popper nếu được đem ra thực hiện sẽ tạo ra một xã hội giống như chế độ dân
chủ xã hội ở Bắc Âu, với những chương trình phúc lợi quãng đại hơn và sự điều
chỉnh nền công nghiệp tốt hơn là ở nước Mỹ với chế độ tư bản laissez-faire (để ai
muốn làm gì thì làm) và phúc lợi xã hội không đáng kể” [125].
Một số bách khoa thư khác, như: ‘Stanford Encyclopedia of Philosophy’ cũng
có đề cập đến tư tưởng tự do xã hội của Karl Popper.
14
1.2.2. Những công trình liên quan đến quan niệm về xã hội mở của Karl Popper
Bách khoa mở Wikipedia trong mục từ ‘Open society’ khẳng định rằng khái
niệm ‘xã hội mở’ được đưa ra lần đầu tiên bởi nhà triết học Pháp Henri Bergson và
được Karl Popper phát triển trong hai tập sách của mình.
Herbert Keuth dành phần II. Triết học xã hội (Social Philosophy) trong ba
phần của nội dung cuốn sách “The Philosophy of Karl Popper” để phân tích tư
tưởng triết học chính trị - xã hội của Karl Popper trong đó có vấn đề xã hội mở và
chủ nghĩa lịch sử. Tác giả trình bày tư tưởng của Karl Popper trong sự liên hệ với
các nhà triết học từ Platon, Aristotle đến Hêghen, Mác [101, pp.193-248].
Các từ điển và bách khoa thư ở Liên Xô trước đây tuy có đề cập dến quan
niệm về xã hội mở của Karl Popper nhưng lại quy lập trường của ông về sự biện hộ
cho tự do tư sản. Còn Tân bách khoa thư triết học Nga [119] tuy có trình bày cụ thể
quan niệm về xã hội mở của Karl Popper nhưng không có bình luận, phê phán. Nhà
triết học Nga T.I. Oizerman (Т.И. Оизерман) trong một số bài viết và nhất là trong
tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa không tưởng” (Марксизм и утопизм) có
nhiều chỗ đề cập đến tư tưởng về xã hội mở của Popper. Theo Oizerman, Karl
Popper không hoàn toàn bác bỏ mà còn đề cao những đóng góp nhất định của Mác
trong lý luận về giai cấp, trong sự phê phán của Mác đối với những bất công của
chủ nghĩa tư bản [Xem: 118].
của tác phẩm, M. Cornforth trả lời cho Popper về kẻ thù của xã hội mở. Theo ông,
chủ nghĩa cộng sản mới thực sự là xã hội mở, còn chủ nghĩa tư bản là xã hội đóng.
Tiến tới xã hội mở chính là xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Vì
vậy, kẻ thù của xã hội mở chính là chủ nghĩa chống cộng. Cách tiếp cận của M.
Cornforth là đại diện cho những khuynh hướng tư tưởng bảo thủ thời kỳ trước đổi
mới thể hiện trong hầu hết những tác phẩm được viết trong thời kỳ này về triết học
phương Tây hiện đại, trong đó có triết học Karl Popper.
Lý Quốc Tú, trong chương IV tác phẩm “Karl Raimund Popper” [49], đề cập
đến quan niệm về xã hội mở trong tác phẩm “Xã hội mở và những kẻ thù của nó”
của Karl Popper. Tác giả cho rằng trọng điểm của Popper là đả phá các quan điểm
chính diện của Platon, Aristotle, Hêghen và Mác, còn quan niệm của ông về xã hội
mở thì đề cập rất ít trong tác phẩm. Những nội dung mà ông công kích cùng với các
nội dung mà ông tán dương và tích cực khởi xướng, hình thành các bộ phận hợp
16
thành không thể chia cắt của tư tưởng triết học chính trị của ông. Tác giả khái quát
hết sức cơ bản quan niệm của Popper về xã hội mở và xã hội đóng. Có thể nói, đây
là nguồn tư liệu để chúng tôi đi vào nghiên cứu quan niệm của Popper về xã hội mở.
Lưu Phóng Đồng trong “Triết học phương Tây hiện đại”, tập IV [48], tuy dành
phần chủ yếu để phân tích tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper, nhưng
cũng có một đoạn ngắn nói về tư tưởng triết học chính trị của Karl Popper. Theo
Lưu Phóng Đồng, Karl Popper phản đối quyết định luận lịch sử. Ông cho rằng sự
phát triển của lịch sử xã hội không có tính quy luật, mọi người cũng không thể dự
định trước cho tương lai của xã hội. Theo ông, ‘Chủ nghĩa Utopia’ có liên hệ tự
nhiên với quyết định luận lịch sử; chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là một
loại công trình xã hội kiểu Utopia. Vì thế, ông đề xướng ‘công nghệ xã hội từng
bước’, tức là tiến hành cải tạo từng bước, thiết thực, khả thi đối với xã hội, và lấy đó
để phản đối lý luận cách mạng xã hội của chủ nghĩa Mác, ông nói, chủ nghĩa xã hội
nhận chủ nghĩa Mác, nhưng không phải không có những chỗ, những lúc ông ca
ngợi, đánh giá cao triết học Mác. Do vậy, việc nghiên cứu các quan điểm của
Popper, có thể giúp chúng ta hiểu sâu thêm nhiều luận điểm của triết học Mác và
toàn bộ chủ nghĩa Mác nói chung. Và theo tác giả, việc nghiên cứu tư tưởng Popper
sẽ giúp cho chúng ta có một tinh thần phê phán, giúp chúng ta hình thành nên trong
tư duy của mình cách nhìn hai mặt. Điều này giúp chúng ta hiểu sâu hơn các nguyên
lý của triết học Mác, đồng thời hiểu sâu thêm cả những tư tưởng hợp lý và những tư
tưởng phi lý của Popper. Tác giả còn chỉ ra một số luận điểm của Mác mà Popper
phê phán, và tác giả đưa ra nhận xét của mình cho những luận điểm đó. Tác giả còn
trình bày quan niệm của Popper về xã hội mở, xã hội đóng. Quan niệm về xã hội
mở sau này được học trò của ông George Soros (1930) phát triển trên cả bình diện
lý luận lẫn thực tiễn. Có thể nói, đây là một bài viết hết sức sâu sắc của tác giả, thể
hiện được chính kiến của mình khi đánh giá Popper. Đây là nguồn tư liệu quý giá để
chúng tôi tham khảo khi phân tích quan điểm của Popper về xã hội mở và những kẻ
thù của nó.
George Soros trong tác phẩm “Xã hội mở: Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn
cầu” (Open Society: Refoming Global Capitalism) [76]. Soros là môn đệ của
Popper, ông chủ trương xây một xã hội mở trên phạm vi toàn cầu, theo đường
hướng của vị sư phụ nổi danh Karl Popper, mà ông có dịp được thụ giáo trong thời
18
gian theo học tại trường Kinh tế Luân đôn hồi cuối thập niên 1940 qua đầu thập
niên 1950. Soros cho rằng người ta nói nhiều về hội nhập kinh tế trong nền kinh tế
toàn cầu. Cơ chế thị trường đã thành công xuất sắc trong giải phóng tài năng kinh
doanh và tạo ra của cải. Nếu chỉ dựa vào cơ chế thị trường và nhấn mạnh thái quá
đến các giá trị thị trường, chủ nghĩa tư bản không thể đảm bảo tự do, dân chủ, và
pháp trị; có thể, và nó đã dẫn đến những thảm họa như hai cuộc Chiến tranh thế
giới, các cuộc khủng hoảng tài chính. Vì sao chúng xảy ra? Làm sao có thể tránh
khách quan, con người có thể ’dự báo’ được tiến trình của xã hội tương lai.
+ Chủ nghĩa lịch sử cho rằng con người có thể cải biến toàn bộ xã hội cũ, xây
dựng xã hội mới theo những quy luật đã được nhận thức và những mô hình lý tưởng
đã được xác định dựa trên những dự báo về tương lai lâu dài của xã hội [Xem 36,
tr.97-98].
Tác giả Lý Quốc Tú trong tác phẩm “Karl Raimund Popper” dành một phần
rất lớn trình bày quan điểm của Karl Popper về phê phán chủ nghĩa lịch sử, về công
nghệ xã hội từng phần. Tác giả cho rằng, chủ nghĩa lịch sử là trọng điểm phê phán
của Popper. Tác giả trình bày những phê phán của Popper đối với chủ nghĩa lịch sử
ở cả hai trường phái: chủ nghĩa phản tự nhiên và chủ nghĩa tự nhiên mở rộng, có sự
phân tích và cuối cùng tác giả đưa ra những đánh giá của mình đối với sự phê phán
đó. Popper cho rằng, chủ nghĩa lịch sử là lý luận và phương pháp nghiên cứu sự
phát triển xã hội không chỉ có hại cho nghiên cứu khoa học xã hội, mà còn có hại
cho thực tiễn xã hội. Popper nêu lên ‘công nghệ xã hội từng phần’ để đối lập với
‘công nghệ xã hội không tưởng (Utopia)’. Và tác giả đi vào phân tích những quan
niệm trên của Popper. Cuối cùng tác giả đưa ra những nhận định của mình đối với
quan niệm trên của Popper, có thể nói đây là nguồn tư liệu quý để giúp chúng tôi
nghiên cứu và đưa vào trong luận án của mình. [Xem: 49]
Tác giả Nguyễn Minh Hoàn: “Tư tưởng triết học chính trị của Karl Raimund
Popper trong Sự nghèo nàn của thuyết sử luận nhìn từ phương pháp luận mácxít”.
[27]. Đây cũng là bài viết của tác giả tham gia hội thảo quốc tế “Triết học Áo và ý
nghĩa hiện thời của nó”. Trong bài viết này, tác giả đi vào phân tích những quan
điểm triết học chính trị chủ yếu của Popper, với phương pháp luận của mình,
Popper đánh giá về chủ nghĩa lịch sử, nhất là quan điểm lịch sử của triết học Mác.
Tác giả còn đi vào trình bày quan điểm của Popper khi ông phân chia chủ nghĩa lịch
20
sử thành ‘chủ nghĩa phản tự nhiên’ và ‘chủ nghĩa duy tự nhiên’ và tiến hành phê
niệm của ông về lịch sử nói chung, nhưng không thể không đồng ý với ông ở điểm này.
Tác giả cũng cho rằng tư tưởng xã hội mở của Popper là một trong những nội
dung then chốt trong triết học xã hội và chính trị của ông. Sau khi phân tích quan
niệm của Popper về xã hội mở và sự khác nhau giữa xã hội mở và xã hội đóng.
Những quan niệm về xã hội mở của Popper mấy chục năm qua đã có ảnh hưởng rất
lớn đến triết học chính trị, đến việc phê phán chủ nghĩa quyền uy trong tư tưởng
chính trị - xã hội phương Tây. Theo tác giả, tuy không thể hoàn toàn đồng ý với
Popper, nhưng những tư tưởng của ông về đề cao sự tự do lý trí, lý tính của con
người, phủ bác mọi sự cấm kỵ phi lý trí, được thần thánh hóa hay thần bí hóa, ủng
hộ tiến bộ của nhân loại dẫn đến xã hội mở cho đến nay và chắc chắn cho đến cả
mai sau vẫn luôn còn giá trị.
Với những phân tích có dẫn chứng, tác giả đã cho ta thấy được sự đóng góp
của Popper cho khoa học; triết học và khoa học lịch sử trong tác phẩm “Sự nghèo
nàn của chủ nghĩa lịch sử”. Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, tác giả chỉ trình
bày những đóng góp về mặt triết học trong tác phẩm, sẽ còn nhiều những đóng góp
của Popper cho lịch sử tư tưởng nhân loại mà chúng tôi cần phải rõ hơn nữa.
1.3.2. Những công trình đánh giá về những hạn chế về mặt triết học trong
tư tưởng chính trị - xã hội của Karl Popper
Maurice Cornforth trong tác phẩm “Triết học mở và xã hội mở”, có thể nói đây
là một tác phẩm mà Cornforth phê phán Popper một cách kịch liệt bằng cách bác bỏ
các luận điểm của ông nhằm bảo vệ triết học Mác.
+ Popper cho rằng, triết học Mác là triết học ‘đóng’ tức là ‘giáo điều, cực
đoan’, không có khả năng hoàn thiện và phát triển, còn chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản là sự hiện thực hóa thực tiễn của chúng ta là ‘xã hội đóng’.
Cornforth phê phán quan điểm này của Popper và cho rằng chính triết học mácxít
mới có tính chất “mở” theo đúng nghĩa. Nó là một học thuyết sáng tạo, luôn phát
triển, mở để tiếp thu những thành tựu mới của thực tiễn xã hội và khoa học. Tác giả
cho rằng chính chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là một chế độ xã hội “mở”
khi đứng về phía chủ nghĩa duy lý, ông phủ nhận hoàn toàn vai trò của kinh nghiệm
cảm tính, của quan sát trong việc hình thành một giả thuyết khoa học.
Hai là, Popper không biết kết hợp giữa cách tiếp cận từng phần với cách tiếp
cận toàn phần trong nhận thức và thực tiễn. Hai cách tiếp cận này hỗ trợ lẫn nhau.
23
Ba là, Popper quá nhấn mạnh tính tương đối đi đến phủ nhận hoàn toàn tính
tuyệt đối của chân lý.
Bốn là, Popper phủ nhận tư tưởng biện chứng, một thành tựu lớn của tư duy
nhân loại. Và cuối cùng đứng trên lập trường của chủ nghĩa tự do, Popper đề cao vai
trò của yếu tố chủ quan đi đến phủ nhận hoàn toàn tính tất yếu và quy luật khách
quan, nhất là tính tất yếu lịch sử và quy luật xã hội, phủ nhận quyết định luận [Xem
36, tr.112-113].
Với những đánh giá này, tác giả đã gợi mở cho chúng tôi một số ý tưởng quan
trọng trong quá trình thực hiện đề tài của mình.
Jeremy Shearmur, một người đã từng là trợ lý của Karl Popper trong 8 năm
(1971-1979) trong tác phẩm “The Political Thought of Karl Popper” (Tư tưởng
chính trị của Karl Popper) [114], có một số nhận xét về những hạn chế trong tư
tưởng chính trị - xã hội của Kark Popper. Theo tác giả, tư tưởng của Popper về già
(older Popper) có điểm khác với Popper hồi còn trẻ hơn (younger Popper) nhất là
trong lĩnh vực triết học. “Popper chưa bao giờ là một nhà triết học thực chứng chủ
nghĩa, nhưng cách tiếp cận của ông ở tuổi về già thì có ít yếu tố thực chứng hơn
trong tác phẩm The Open Society (Xã hội mở)”.
Một số công trình nghiên cứu ở Liên Xô trước đây và ở nước Nga hiện nay
cũng có đề cập và nhận xét về Karl Popper, nhưng không nhiều. Từ điển bách khoa
triết học chỉ trích việc Karl Popper phê phán triết học Mác, phủ nhận quy luật khách
quan và phê phán chủ nghĩa lịch sử là “để bảo vệ tư tưởng cải cách tư sản” [116,
c.514-515]. Bách khoa thư triết học (tập 4) cũng phê phán quan điểm của Popper về