Tư tưởng chính trị hồ chí minh về nhân dân và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay - Pdf 41

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN PHƯƠNG AN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
VỀ NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2017
1


Công trình được hoàn thành
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1. GS.TS. Nguyễn Văn Huyên
2. TS. Hồ Việt Hiệp

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

nay là nhiệm vụ vừa căn bản vừa cấp bách. Tuy nhiên, nhận thức đúng, đề ra
giải pháp đúng và đặc biệt là định hình mối quan hệ nêu trên trong thực tế thì
không phải là đơn giản.
Đi sâu nghiên cứu, vận dụng và phát huy tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh về Nhân dân sẽ mang lại những chỉ dẫn phương pháp luận soi đường
cho việc giải quyết hạn chế nêu trên, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, thực
hiện đúng và phát huy hiệu quả của tư tưởng ấy, góp phần tiếp tục củng cố
mối quan hệ bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, phát huy sức
mạnh vô địch của Nhân dân tiếp tục tạo nên các thắng lợi to lớn và mang
tính bước ngoặt của sự nghiệp đổi mới.
Với toàn bộ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu “Tư tưởng
chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi
mới hiện nay” với tư cách một đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính
trị học là hết sức có ý nghĩa và cấp thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Nghiên cứu, làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Hồ
Chí Minh về Nhân dân; trên cơ sở đó, phân tích, làm rõ ý nghĩa to lớn của tư
tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta
hiện nay.
1


2.2. Nhiệm vụ
Phân tích, làm rõ phạm trù “Nhân dân” theo tư tưởng chính trị Hồ
Chí Minh, cụ thể là quan niệm về Nhân dân; vị trí, vai trò của Nhân dân
trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Phân tích, làm rõ việc đảm bảo thực hiện vị trí, vai trò của Nhân dân
trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam theo tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh.
Phân tích làm rõ ý nghĩa to lớn của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh



dân lên địa vị là chủ và làm chủ xã hội, làm chủ đất nước; kế tiếp là tạo lập
nội dung, cơ chế, điều kiện để Nhân dân xây dựng và phát triển xã hội,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ ba, phân tích, làm rõ ý nghĩa to lớn của tư tưởng chính trị Hồ
Chí Minh về Nhân dân đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, đó
là: Đổi mới hướng tới và thực hiện cho được mục đích, lý tưởng cao đẹp
của Nhân dân Việt Nam theo tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân;
công cuộc đổi mới của Đảng và Nhân dân ta hiện nay chỉ đạt tới thành
công theo hướng nêu trên khi Đảng, Nhà nước phát huy cao nhất toàn bộ
sức mạnh của Nhân dân.
6. Ý nghĩa của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khái quát rõ hơn tư tưởng
chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân; cung cấp nhận thức đúng đắn về quan
niệm của Hồ Chí Minh về Nhân dân và vị trí, vai trò của Nhân dân cũng
như việc đảm bảo thực hiện vị trí, vai trò đó trong sự nghiệp cách mạng
Việt Nam; từ đó giúp cho việc sử dụng lực lượng vô tận của Nhân dân,
phát huy lực lượng của Nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội nói
chung, đổi mới đất nước hiện nay nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án góp vào thực tiễn hoạt động của hệ
thống chính trị trong việc đảm bảo và phát huy vai trò của Nhân dân ở sự
nghiệp đổi mới hiện nay; là tài liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy tư
tưởng Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
án gồm 4 chương với 8 tiết.
Chương 1

nghiên cứu tư tưởng về Đảng và xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh như Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng của Nguyễn Quốc
Bảo, Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh của Phạm
Ngọc Anh và Bùi Đình Phong, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng
do Phạm Ngọc Anh chủ biên,... Các công trình này đề cập một cách hệ
thống, toàn diện nhiều khía cạnh về vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng;
về các mặt công tác (tổ chức – cán bộ, tư tưởng, kiểm tra, dân vận,...), các
yếu tố (văn hóa, bản chất, mục tiêu, lý tưởng,...) của Đảng; về xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh; về việc vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc
xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta... từ vị trí, vai trò của Đảng và công
tác xây dựng Đảng.
Nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước đã luận giải trên nhiều khía cạnh: cơ sở, quá trình hình thành và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước; quan niệm về nhà nước của
dân, do dân và vì dân; bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta; nhà
nước pháp quyền; tổ chức, bộ máy, phương thức hoạt động;... Một số công
trình tiêu biểu đề cập đến các vấn đề trên là: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ
4


chức nhà nước và cán bộ, công chức (Hà Quang Ngọc, Nguyễn Minh
Phương); Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác –
Lênin về xây dựng Nhà nước pháp quyền (Phạm Ngọc Dũng); Pháp quyền
nhân nghĩa Hồ Chí Minh (Vũ Đình Hòe);...
Con người chính trị được đề cập nhiều trong tư tưởng chính trị Hồ
Chí Minh. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này phải kể đến Hồ Chí
Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài (Đức Vượng), Tư tưởng Hồ
Chí Minh về việc giải quyết mối quan hệ cá nhân – xã hội trong đạo đức
của người cán bộ cách mạng (Phạm Huy Kỳ),... Ở các công trình này,
trong khi khẳng định cán bộ là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự

tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện với tần suất nhiều nhất. Tiêu biểu trong đó là
công trình Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
của Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng. Các công trình nghiên cứu vấn đề dân chủ,
dân quyền trong tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh có
nhiều nội dung liên quan: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ của Phạm
Hồng Chương; Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh của Phạm Văn Bính
(chủ biên)
Trên nhiều tạp chí khoa học xuất hiện không ít các bài viết có nội
dung đề cập liên quan đến tư tưởng chính trị về nhân dân của Hồ Chí
Minh. Nhóm các bài viết có nội dung phân tích khái niệm, vai trò của nhân
dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiêu biểu như “Khái niệm nhân dân trong
tư tưởng Hồ Chí Minh” của Mai Trung Hậu; “Nhân dân – Một phạm trù
văn hóa chính trị Hồ Chí Minh” của Bùi Đình Phong; “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng” của Trần
Quang Nhiếp; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố nhân dân và dư luận xã
hội trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng" của Nguyễn Thế
Thắng; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân chủ" của Nguyễn Thị Mai
Anh,... Các bài viết trên có sự gần nhau trong trình bày quan niệm về Nhân
dân của Hồ Chí Minh.
Dân chủ, dân quyền, dân vận trong tư tưởng, phương pháp, phong
cách Hồ Chí Minh cũng là nội dung của nhiều bài viết trên các tạp chí
khoa học: “Phương pháp dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua bài báo
“Dân vận”- ý nghĩa thực tiễn” của Nguyễn Thanh Tuyền, “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về phát huy quyền dân chủ để nhân dân tích cực tham gia quản
lý nước nhà” của Nguyễn Thế Phúc, "Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề
dân quyền" của Phạm Văn Bính,...
Nhiều nhà nghiên cứu đi sâu phân tích tính cấp thiết, tầm quan trọng,
yêu cầu, nội dung, cách thức mà hệ thống chính trị (chủ yếu là Đảng và
Nhà nước) phải làm nhằm chăm lo cho Nhân dân, nhằm phát huy vai trò
của Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh như: Phạm Bá Lượng trong "Tư

Việt Nam, tập trung ở thời kỳ đổi mới có mối liên hệ chặt chẽ với việc
trung thành và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, các quan điểm
chính trị về Nhân dân nói riêng; trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, khuyến
nghị. Có thể khẳng định, nội dung tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về
Nhân dân và ý nghĩa, vận dụng các nội dung đó trong thời kỳ đổi mới là
“cặp đôi” trong các nghiên cứu.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC
NGHIÊN CỨU
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, căn cứ mục
đích và nhiệm vụ đề ra, từ góc độ chuyên ngành Chính trị học, luận án
thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu để làm rõ những vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ quan niệm về Nhân dân, vị trí, vai trò
của Nhân dân theo tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh.
7


Thứ hai, phân tích để làm rõ rằng trong tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh về Nhân dân, con đường để Nhân dân Việt Nam thực hiện đúng vị
trí, vai trò của mình khi mà tình cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến
đã tước mất chính là tiến hành sự nghiệp cách mạng. Luận giải rõ những
vấn đề trên để cho thấy đây không chỉ là lý thuyết, mong muốn chính trị
mà còn là nội dung hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh.
Thứ ba, ý nghĩa của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân
trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay.
Tiểu kết Chương 1
Nghiên cứu “Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân và ý
nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay”, Chương 1 của luận án đã tổng
quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thông qua khảo sát, phân
tích, nhận định các công trình nghiên cứu (sách, bài viết trên tạp chí khoa
học) trong và ngoài nước theo hai nhóm: (1) Các công trình nghiên cứu

trong tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh nói riêng, Nhân dân đứng ở vị trí trung tâm thể hiện qua tần suất rất
lớn các quan điểm đề cập đến trong di sản bài viết, bài nói. Trong đó, quan
niệm về Nhân dân là sự khởi đầu, điểm xuất phát cho hệ thống quan điểm
chính trị toàn diện và sâu sắc về Nhân dân của Người.
2.1.2.1. Cơ sở hình thành quan niệm về Nhân dân trong tư tưởng
chính trị Hồ Chí Minh
Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhân dân là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo quan niệm về nhân dân của các nhà tư tưởng Mác –
Lênin và nhiều quan niệm thuộc các trường phái tư tưởng khác, kế thừa và
phát huy tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc vào điều kiện cụ thể
đương thời của Việt Nam. Do vậy, Nhân dân trong quan niệm của Người
vừa có điểm nhất quán, vừa có những thay đổi, điều chỉnh phù hợp với
hoàn cảnh, điều kiện cụ thể.
2.1.2.2. Nội dung quan niệm về Nhân dân trong tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh xem Nhân dân là tập hợp gắn kết đa số người khác
nhau về dân tộc, tôn giáo, giới tính, giai tầng, địa vị,... trong xã hội nhưng
thống nhất thành một cộng đồng chung. Đó là toàn dân, toàn dân tộc Việt
Nam, bao gồm mọi người thuộc các dân tộc đa số và thiểu số, sống ở trong
nước hay ở nước ngoài, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo,
tôn giáo. Hồ Chí Minh viết: Dân là mọi người dân Việt Nam; là mọi con
dân nước Việt; là mỗi người con Rồng cháu Tiên, không phân biệt già, trẻ,
gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện, trong đó công nông chiếm tuyệt đại đa số.
Trong nhiều trường hợp, Hồ Chí Minh gọi Nhân dân là quần chúng,
quốc dân, đồng bào. Quan niệm này bao hàm trong đó các tiêu chí văn
hóa, lịch sử, lãnh thổ cư trú. Nhân dân Việt Nam là cộng đồng mọi người
dân, không phải tất cả, mà phải là người Việt Nam chung gốc tích, lịch sử,
văn hóa. Hồ Chí Minh cũng không cứng nhắc khi lấy tiêu chí lãnh thổ cư

trong quốc dân gắn kết thành khối thống nhất với tên chung "Nhân dân".
Quan niệm cho thấy, khái niệm Nhân dân mang màu sắc và ý nghĩa chính
trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội.
Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một phạm trù rộng, mang tính
cộng đồng dân tộc mà vẫn bao hàm và thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc.
Điểm nổi bật dễ nhận thấy là có hai kiểu phân chia thành phần Nhân
dân trong quan niệm của Hồ Chí Minh:
Thứ nhất, căn cứ theo giai tầng, tôn giáo, tầng lớp, độ tuổi, giới tính,
nghề nghiệp, dân tộc, Hồ Chí Minh xem Nhân dân là tập hợp thống nhất
10


của "bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử
khác yêu nước"; cộng đồng người không phân biệt "già, trẻ, gái, trai, giàu,
nghèo, quý, tiện". Trong đó, Hồ Chí Minh khẳng định liên minh công nhân
- nông dân - trí thức là cốt lõi, nền tảng.
Thứ hai, căn cứ theo hệ giá trị tinh thần, vào vai trò tiến bộ xã hội,
theo Hồ Chí Minh, về đại thể dân gồm ba tập hợp con người: "Bất kỳ nơi
nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng
vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa,
nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn".
Trong nhiều hoàn cảnh cụ thể, Hồ Chí Minh quan niệm về Nhân dân
một cách ngắn gọn, phản ánh những đặc trưng chung nhất. Với cán bộ, đảng
viên, Nhân dân là chủ, là đối tượng lãnh đạo và phục vụ. Với hệ thống chính
trị, Nhân dân là lực lượng tổ chức ra, nuôi dưỡng và bảo vệ, đồng thời là
người chịu sự lãnh đạo, quản lý. Với sự nghiệp chính trị, Nhân dân là chủ thể,
lực lượng chủ yếu. Nhìn chung, với cách tiếp cận này, quan niệm về Nhân dân
của Hồ Chí Minh vừa cho thấy vị trí, vai trò của Nhân dân, vừa cho thấy mối
quan hệ giữa Nhân dân với các chủ thể khác, vừa nêu rõ những yêu cầu về
nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhân dân.

chất để sự nghiệp cách mạng được thực hiện thắng lợi.
- Nhân dân là lực lượng đông đảo, hùng hậu đóng vai trò chính thực
hiện đường lối cách mạng, bảo vệ thành quả cách mạng.
Tiểu kết Chương 2
Với nhiệm vụ làm rõ quan niệm, vị trí, vai trò của Nhân dân trong tư
tưởng chính trị Hồ Chí Minh, nội dung Chương 2 trình bày hai phần: Quan
niệm về Nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh; Nhân dân là mục
tiêu và động lực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong tư tưởng chính
trị Hồ Chí Minh. Tinh thần cốt lõi là:
Thứ nhất, mọi quan niệm về Nhân dân của Hồ Chí Minh trước hết
đều là quan niệm chính trị, đều mang sắc thái chính trị.
Thứ hai, sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trên tất cả các khía cạnh,
ở mọi phạm vi, cấp độ đề cập, đều vì dân.
Thứ ba, Nhân dân là động lực to lớn thúc đẩy cách mạng tiến lên,
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.
Chương 3
SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH LÀ ĐƯA NHÂN DÂN LÊN ĐÚNG
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN
3.1. GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN, ĐƯA NHÂN DÂN LÊN ĐỊA
VỊ LÀ CHỦ VÀ LÀM CHỦ XÃ HỘI, LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC
3.1.1. Cách mạng Việt Nam là sự nghiệp giải phóng Nhân dân
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân khẳng định: Trong điều
kiện đất nước đương thời, để Nhân dân trở về đúng vị trí, vai trò, thực hiện
được mục đích chính trị của mình thì trước hết phải giải phóng Nhân dân.
Giải phóng Nhân dân Việt Nam là mục tiêu và nội dung chính trong
sự nghiệp đấu tranh cách mạng của toàn thể Nhân dân dưới sự lãnh đạo
12



3.2.2. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vì nhân dân
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội khẳng định và thực hiện các mục
tiêu vì lợi ích và sự phát triển của Nhân dân trên các khía cạnh cơ bản sau:
- Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nâng cao đời sống vật chất
cho Nhân dân.
- Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nâng cao đời sống văn hóa –
tinh thần cho Nhân dân.
- Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xây dựng chế độ chính trị phục vụ
Nhân dân, từng bước hướng đến xóa bỏ bất công, bóc lột, giải phóng triệt
để con người.
Tiểu kết Chương 3
Chương 3 của Luận án trình bày nội dung cơ bản của tư tưởng chính
trị Hồ Chí Minh về Nhân dân trên hai góc độ: (1) Giải phóng Nhân dân,
đưa nhân dân lên vị trí là chủ và làm chủ xã hội, làm chủ đất nước; (2)
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân. Tựu trung lại có thể rút ra mấy kết luận sau:
Một là, giải phóng Nhân dân Việt Nam là mục tiêu và nội dung chính
trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng của toàn thể Nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm giải thoát nhân dân khỏi tình
cảnh bị thống trị, áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân đế quốc và các
thế lực nội phản, khỏi sự trói buộc bởi những thói quen và truyền thống lạc
hậu đang kiềm kẹp sự phát triển, mang lại cho Nhân dân cuộc sống tự do
15


cả về tinh thần lẫn thể chất trong tư cách người làm chủ đất nước, làm chủ
xã hội, làm chủ chế độ, làm chủ chính mình.
Hai là, cách mạng xã hội chủ nghĩa là giai đoạn tiếp liền sau khi cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi, giải phóng đất nước khỏi ách
thống trị của ngoại xâm và tay sai, thiết lập chính quyền của Nhân dân, do

- Công bằng
"Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của nước
ta" được Đại hội VI xác định là một trong các mục tiêu cụ thể về kinh tế xã hội của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá
độ. Quan điểm này được kế thừa và phát huy cho đến nay. Chúng ta đã
thực hiện công bằng xã hội trên nhiều mặt. Về kinh tế, thực hiện công
bằng xã hội đối với các thành phần kinh tế. Về xã hội, từng bước hoàn
thiện chính sách xã hội, làm tốt chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói giảm
nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, "bảo đảm sự công bằng
về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, chống đặc quyền đặc lợi".
Về xây dựng hệ thống chính trị, công bằng xã hội phải được thể hiện trong
từng hoạt động, từng chính sách phát triển. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020 tiếp tục xác định "thực hiện tốt tiến bộ, công
bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều
kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững" là mục tiêu, nhiệm vụ lớn
của công cuộc đổi mới.
- Văn minh
Khái niệm “văn minh” được xem như một mục tiêu, tiêu chí của chủ
nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới. Để thực hiện mục tiêu "văn minh"
cần chú ý kết hợp hai yếu tố: văn hóa truyền thống và văn minh của xã hội
hiện đại. Đảng đề ra mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc; tiên tiến tức là hòa nhịp với xã hội văn minh hiện
18


đại, đậm đà bản sắc dân tộc tức là bảo tồn, phát huy được các giá trị văn
hóa truyền thống. Trên con đường trở thành nước công nghiệp, chúng ta
phải kết hợp được hai yếu tố này.
Những năm đổi mới vừa qua đã tập trung xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn hóa đã thấm sâu vào mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, trở thành mặt trận trong hội nhập và hợp tác quốc tế.
Tuy nhiên, quá trình phấn đấu đạt được các mục tiêu này cũng còn tồn

tinh thần của Nhân dân được xem là mục tiêu, nhiệm vụ trung tâm. Ba mươi
năm qua, đất nước đổi thay từng ngày, cuộc sống vật chất và tinh thần của
19


người dân từ miền xuôi tới miền ngược, từ nông thôn tới thành thị, đều có sự
thay đổi rõ rệt. Trọng tâm chiến lược của công cuộc đổi mới là phát triển con
người, mỗi người dân và toàn dân. Từ khi đổi mới đến nay, theo các báo cáo
được công bố, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục.
Nền kinh tế phát triển, Nhân dân được thụ hưởng đời sống ấm no hơn
nhiều so với thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc hay bao cấp trước đổi mới.
Tuy nhiên, còn một bộ phận lớn dân nghèo có sống chật vật, thiếu thốn.
Nhiều nơi còn tình trạng mất dân chủ, xâm phạm quyền làm chủ, quyền tự
do của Nhân dân; tình trạng duy ý chí, quan liêu, áp đặt sai pháp luật của cơ
quan, cá nhân trong bộ máy chính quyền với người dân có xu hướng diễn
biến phức tạp. Mặt khác, đời sống xã hội hiện nay đang nảy sinh và lan rộng
biểu hiện tự do quá mức, vượt ngoài khuôn khổ pháp luật, vô tổ chức, mất kỷ
cương. Điều kiện vật chất được cải thiện hơn nhưng các giá trị tinh thần
trong gia đình, dòng tộc, cộng đồng xã hội đang bị tấn công và xói mòn
nghiêm trọng. Không ít người đang thừa vật chất nhưng thiếu tinh thần nên
không thể có một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa. Thành tích về mặt phát
triển con người thấp hơn so với phát triển kinh tế. Phát triển con người của
Việt Nam từng tiến nhanh nhưng gần đây đã chậm lại.
Hạn chế trên cho thấy trong quá trình đổi mới vì mục tiêu mang lại
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện con người Việt
Nam còn có lúc, có nơi chưa thực hiện tốt tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về
Nhân dân. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước luôn hướng sự phát
triển toàn diện nhưng tổ chức thực hiện thì còn nhiều bất cập. Trong thời gian
qua, tư duy phát triển của chúng ta còn biểu hiện nặng về đời sống vật chất,
thiếu sự quan tâm đúng mức cho đời sống tinh thần; quản lý phát triển xã hội

chủ của Nhân dân. Biến khẩu hiệu "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra" thành phương châm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội; thành nền
nếp, thói quen hằng ngày trong công việc của Đảng và của các cơ quan nhà
nước các cấp từ Trung ương đến cơ sở; thành hành động tự giác và có hiệu
quả cao của đông đảo tầng lớp Nhân dân.
Bên cạnh thành tựu đạt được, trong điều kiện hiện nay, còn nhiều
yếu kém, bất cập trong thực tiễn xây dựng và phát huy nền dân chủ. Cần
phải xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất trên cơ sở xác lập
quyền là chủ và làm chủ của Nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới đất nước.
Điều đó cần phải được thiết lập trên hai hướng chủ yếu:
Một là, tăng cường thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân thông
qua xác lập quyền đó trong hệ thống pháp luật một cách chi tiết và đầy đủ
để có cơ chế thu hút Nhân dân tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực của đời
sống xã hội, trọng tâm là đời sống chính trị.
Hai là, nâng cao năng lực làm chủ cho Nhân dân.
Sự nghiệp đổi mới diễn ra gần ba mươi năm. Thành tựu đạt được là
to lớn và đáng tự hào làm sáng tỏ hơn tầm vóc của Nhân dân – người là
chủ và làm chủ thật sự của toàn bộ quá trình đổi mới.
4.2.2. Phát huy được mọi tiềm năng trong Nhân dân, nguồn lực
vĩ đại của Nhân dân
Việc xác lập vị thế chủ thể của Nhân dân mới chỉ giúp sự nghiệp
cách mạng có được một nửa sự đảm bảo thắng lợi. Không phải cứ đặt
Nhân dân lên địa vị làm chủ là cách mạng thành công. Thực tiễn cách
mạng Việt Nam cho thấy xuyên suốt mọi giai đoạn Nhân dân luôn được
xem là chủ và làm chủ nhưng không phải lúc nào cách mạng cũng tiến
triển thuận lợi, gặt hái thành công. Vấn đề cốt yếu ở chỗ đi liền với sự
khẳng định vị thế của Nhân dân là phải nhận rõ và phát huy được mọi tiềm
năng, nguồn lực vĩ đại của Nhân dân.
Một trong những yêu cầu mấu chốt đặt ra đối với sự nghiệp đổi mới
là phải thay đổi cách làm như thế nào để có thể "đem tài dân, lực dân làm

Có thể nói, trong ba mươi năm đổi mới chúng ta đã làm cho nguồn
lực của Nhân dân chuyển từ trạng thái "ngủ đông", suy giảm sang "thức
tỉnh", gia tăng. Đây là cội nguồn của những thành tựu.
Tiểu kết Chương 4
Chương 4 tập trung làm rõ ý nghĩa của tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh về Nhân dân đối với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay thông qua
phân tích, luận chứng giá trị, vai trò của tư tưởng đó đối với việc hoạch
định đường lối đổi mới cũng như đối với thực tiễn thắng lợi trong ba mươi
năm qua (1986 – 2015), cụ thể như sau:
Thứ nhất, công cuộc đổi mới phải đạt tới mục tiêu và lý tưởng của
Nhân dân Việt Nam.
Thứ hai, muốn gặt hái nhiều thành tựu, đạt tới được mục tiêu và lý
tưởng của Nhân dân, công cuộc đổi mới phải phát huy được toàn bộ sức
mạnh của Nhân dân.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status