ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ MINH THUẬN
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC HÀ NỘI – 2009
99
2.2.2. Những chủ trương, nghị quyết, chính sách và giải pháp của Đảng
bộ, UBND, Mặt trận Tổ quốc, Ban tôn giáo tỉnh Thái Bình về xây dựng
khối đoàn kết tôn giáo từ năm 1986 đến nay 57
2.2.3. Những thành tựu và hạn chế trong việc triển khai xây dựng khối
đại đoàn kết tôn giáo ở Thái Bình qua hơn 20 năm đổi mới 68
2.3. Một số bài học kinh nghiệm và kiến nghị về xây dựng khối đoàn kết
tôn giáo ở tỉnh Thái Bình. 84
2.3.1. Một số bài học kinh nghiệm 84
2.3.2. Một số kiến nghị 88
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trên nền
tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhân dân ta đã vượt qua
nhiều khó khăn và thử thách; đồng thời thu được những thành tựu rất quan
trọng về kinh tế, chính trị – xã hội, văn hoá. Vì vậy, tại Đại hội VII, Đảng
khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Thực hiện tinh thần trên,
trong những năm đổi mới tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta tiếp tục vận
dụng, phát triển sáng tạo vào trong đời sống xã hội cũng đã giành được nhiều
thắng lợi to lớn. Đến Đại hội X, Đảng tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm:
“Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Trịnh Xuân Giới, Phó Trưởng ban dân vận Trung ương với đề tài: Tôn
giáo - những chỉ dẫn về tƣ tƣởng và nhân văn trong sự nghiệp cách mạng
của dân tộc, của Đảng ta, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003; Hồ Trọng
Hoài, Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo với đề tài: Hồ Chí Minh
về đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003;
Lê Quang Vịnh, Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ với đề tài: Tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về quản lý nhà nƣớc đối với tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà
Nội, năm 2003; Phạm Như Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học xã hội
Việt Nam với đề tài: Các Mác-Ph.Ăngghen, Hồ Chí Minh về tôn giáo -
một số vấn đề có ý nghĩa phƣơng pháp luận và quan điểm, Nxb Tôn giáo,
Hà Nội, năm 2003; Nguyễn Xuân Oánh, Viện trưởng Viện chủ nghĩa xã hội
khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài: Hồ Chí Minh
về mối quan hệ giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,
năm 2003; Đỗ Quang Hưng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo - Trung
tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia: Hồ Chí Minh và nền tảng luật
pháp tôn giáo ở nƣớc ta, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003; Đặng Nghiêm
3
Vạn, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo: Hồ Chủ tịch với đặc
trƣng tôn giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003
Tại tỉnh Thái Bình cũng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tôn
giáo như đề tài: Tình hình truyền đạo trái phép, tà đạo và mê tín dị đoan ở
Thái Bình, do Ban tôn giáo tỉnh Thái Bình thực hiện năm 1997; Di tích lịch sử
đền Trần, do Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình thực hiện năm 2001; Quản lý
nhà nƣớc về tôn giáo ở tỉnh Thái Bình; Phát triển đảng viên trong đồng bào
công giáo do trường Chính trị tỉnh Thái Bình đảm nhiệm, từ năm 2005 đến
2006 Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình
trong giai đoạn đổi mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
công tác tôn giáo.
- Phương pháp nghiên cứu: đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử; kết hợp với các phương pháp tổng hợp, thống kê, so
sánh để làm rõ nội dung chủ yếu của đề tài.
6. Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn
- Làm rõ việc Đảng bộ và chính quyền tỉnh vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh vào việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình trong những
năm đổi mới vừa qua.
- Đề xuất một số bài học kinh nghiệm mang tính định hướng trong việc xây
dựng khối đoàn kết tôn giáo ở địa phương tỉnh Thái Bình những năm tiếp theo.
- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong quá
trình nghiên cứu, giảng dạy ở trường Đảng tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng lý
luận chính trị tại các huyện, thị
7. Kết cấu nội dung nghiên cứu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận
văn gồm 2 Chương, 6 tiết.
5
NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
1.1.1. Cơ sở lý luận
Hồ Chí Minh đã kế thừa, tiếp thu truyền thống đoàn kết của dân tộc
Việt Nam trong suốt thời kỳ dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ
nước. Đây chính là hệ tư tưởng quan trọng đã giúp cho nhiều thế hệ người
Việt Nam nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng trong việc tổ chức, xây dựng
và tập hợp lực lượng cách mạng của toàn dân nhằm bảo vệ và xây dựng Tổ
Trong tư tưởng triết lý nhân sinh của con người Việt Nam:
“Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
Đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam
được kế thừa và nâng lên thành tư tưởng đại đoàn kết mang tính chiến lược
cách mạng. Người chỉ ra, trong thời đại mới muốn đánh đổ được các thế lực
đế quốc thực dân xâm lược nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng con người, nếu chỉ dựa vào số ít người lao động thì cách mạng sẽ
nhanh chóng bị thất bại. Do đó, cách mạng muốn thành công thì phải tập hợp
được tất cả mọi lực lượng yêu nước lại. Cho nên, Người nói:
“Tôi khuyên
đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn
ngón dài. Nhưng ngắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy mươi triệu
7
con người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là
giòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận
rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc. Đối với
đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như
thế mới thành đoàn kết, có đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang.”[39,tr.
246-247].
Ngoài truyền thống đoàn kết nêu trên thì truyền thống yêu nước
cũng đồng hành cùng dân tộc trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ
nước. Cho nên, đối với mỗi người dân Việt Nam luôn ý thức sâu sắc về mối
quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhà - làng – nước thành một khối thống nhất
không thể tách rời, nhờ vậy đã hình thành nên quan niệm sống “nước mất thì
nhà tan”. Vì vậy, mỗi khi có giặc ngoại bang đến xâm phạm bờ cõi, từ người
cầu khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất
nước Nho giáo ngày càng chiếm vị trị quan trọng trong đời sống của dân tộc
Việt Nam. Năm 1070 với sự kiện Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu
Công (Khổng Tử), khi đó Nho giáo mới được coi là tiếp nhận chính thức, đến
thế kỷ XV Nho giáo đã trở thành quốc giáo. Người Việt Nam đã chủ động
tiếp thu những tư tưởng tiến bộ trong Nho giáo để phục vụ cho mục đích
chính trị của dân tộc như: thuyết “Tam cương”, “Ngũ thường” nhằm duy trì
tôn tư, trật tự trong xã hội cùng với các tư tưởng đạo đức như: Nhân, Nghĩa,
Lễ, Trí, Tín, “trung quân, ái quốc”; tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ với
khát vọng xây dựng một nền độc lập tự chủ thái bình thịnh trị Đến thời đại
Hồ Chí Minh, Nho giáo vẫn giữ một vị trí quan trọng trong công cuộc giải
phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh đã tích cực tiếp
thu, chọn lọc và vận dụng sáng tạo những tư tưởng tiến bộ của Nho vào trong
sự nghiệp cứu nước, cứu dân như: tư tưởng đạo đức trung với nước, hiếu với
dân; tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tư tưởng tu thân tề gia trị
quốc bình thiên hạ; tư tưởng về xây dựng một “thế giới đại đồng” của Khổng
Tử, trong đó con người phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, trên dưới hoà
9
thuận không phân biệt đối xử. Người nói: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước CN)
khởi xưởng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng
nói: “Thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ
sợ không đồng đều. Bình đẳng sẽ xoá bỏ nghèo nàn ,”[36,tr.35]. Bên cạnh
những ảnh hưởng lớn của Nho giáo đến đời sống tinh thần của người dân Việt
Nam thì Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới cũng ảnh hưởng rất sâu sắc
đến đạo đức, lối sống và thực hành đạo đức xã hội của dân tộc Việt Nam,
nhưng khác với Nho giáo vào Việt Nam bằng con đường xâm lược đồng hoá
dân tộc thì ngược lại Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường hoà bình. Theo
Đại Việt sử ký toàn thư nhận định, Phật giáo truyền vào Việt Nam đầu tiên ở
trung tâm Luy Lâu (Bắc Ninh) cùng thời với các trung tâm Bành Thành, Lạc
Linh mục người Pháp Alexandre De Rhodes thông thạo tiếng Việt lại tận tuỵ
hết mình với sứ mệnh truyền đạo. Vì vậy, công cuộc truyền giáo đã từng bước
xây dựng được những cơ ban đầu ở Hà Tiên (Thanh Hoá), lôi kéo nhân dân đi
theo số lượng ngày một đông. Quá trình truyền đạo Công giáo vào Việt Nam
có những biến động rất phức tạp, do sự khác nhau về tín ngưỡng, văn hoá đối
với dân tộc. Triều đình nhà Nguyễn đã phải ba lần xuống chiếu để cấm đạo,
nhưng được sự tiếp tay bảo hộ của thực dân Pháp đối với đạo Công giáo ở
Việt Nam. Vì vậy, đạo Công giáo vẫn tồn tại và phát triển; đồng thời cũng có
những ảnh hưởng nhất định đến một bộ phận quần chúng nhân dân lao động
về đức tin, lối sống và thực hành đạo đức xã hội. Tư tưởng của đạo Công giáo
nhìn chung phản ánh những khát vọng của quần chúng nhân dân lao động về
cuộc sống tự do, hạnh phúc, yêu thương con người, thảo kính Cha Mẹ, đoàn
kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày Đến thời đại Hồ Chí Minh,
đạo Công giáo đã chiếm được vị trí trong đời sống tinh thần của một bộ phận
quần chúng nhân dân lao động về đức tin, lối sống và thực hành xã hội. Chính
vì vậy, Hồ Chí Minh đă tiếp thu, vận dụng sáng tạo những ưu điểm tiến bộ
11
của đạo Công giáo vào việc xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, “Kính
Chúa, yêu nước”.
Người nói: “Chúa Giê Su dạy: Đạo đức là bác ái.
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi.
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[41,tr.225].
Theo Hồ Chí Minh thì tôn giáo nào cũng đạo đức, yêu thương chia sẻ
giúp đỡ con người trong những lúc khó khăn, hoạn nạn. Cho nên, Người đã
biết chủ động tìm kiếm và khai thác những điểm tương đồng, những giá trị
đạo đức trong các tôn giáo gắn với cách mạng Việt Nam, giữa đức tin tôn
giáo với tình yêu Tổ quốc; đồng thời biết tôn trọng và loại bỏ những cái dị
biệt về thế giới quan, hệ tư tưởng, nhu cầu tín ngưỡng nhằm huy động tất cả
người bị áp bức; giữa kẻ giầu và người nghèo, người hạnh phúc và người khổ
đau trong xã hội khi đó đã nảy sinh các mối quan hệ giữa người với người
diễn ra rất phức tạp, bên cạnh đó con người còn chịu những tác động từ các
yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi nằm ngoài ý muốn, khả năng điều chỉnh
hành vi của con người dẫn đến sự bị động, bất lực trước lực lượng tự phát nảy
sinh trong đời sống xã hội. Như vậy, chính sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức
về mặt chính trị, sự hiện diện của những bất công trong xã hội cùng với
những thất vọng, bất hạnh trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị đối
với giai cấp thống trị là nguồn gốc kinh tế - xã hội sâu xa cho sự ra đời của
tôn giáo. Bên cạnh nguồn gốc kinh tế - xã hội cho sự ra đời của tôn giáo thì
nguồn gốc nhận thức cũng đóng một vai trò quan trọng cho tôn giáo ra đời.
Theo quan điểm của chủ Mác - Lênin khẳng định, nguồn gốc nhận thức cho
sự ra đời của tôn giáo gắn liền với đặc điểm nhận thức của con người về thế
giới khách quan - đó là quá trình diễn biến rất phức tạp. Một mặt, hình thức
phản ánh phong phú, đa dạng mang tính khoa học thì khả năng nhân thức của
con người càng đầy đủ và chính xác về thế giới khách quan. Mặt khác, hình
13
thức phản ánh trừu tượng, hư ảo thì khả năng nhận thức của con người càng
xa rời và phản ánh sai lệch hiện thực khách quan, đây là cơ sở cho sự ra đời
của tôn giáo. Ngoài nguồn gốc kinh tế - xã hội, nguồn gốc nhận thức cho sự ra
đời của tôn giáo thì nguồn gốc tâm lý cũng là nguyên quan trọng cho tôn giáo
ra đời. Các nhà vô thần luận đã nhận định về các yếu tố tâm lý, trạng thái tình
cảm buồn, vui, sự sợ hãi do những tác động của các lực lượng tự phát trong
tự nhiên và xã hội đã dẫn đến việc con người phải nhờ cậy vào thần linh,
thượng đế làm nảy sinh cho sự ra đời của tôn giáo. Lênin đã đồng ý với quan
điểm trên của các nhà vô thần luận trong đó có Mác, Ăngghen; đồng thời
phân tích thêm nguồn gốc tâm lý cho sự ra đời của tôn giáo hiện đại đó là:
"Sợ hãi mù quáng trước thế lực của tư bản - mù quáng vì quần chúng nhân
dân không đoán trước được nó - là thế lực mà bất cứ lúc nào trong đời sống
cách mạng và lợi ích của quần chúng nhân dân lao động.
Hồ Chí Minh đã trung thành với học thuyết Mác – Lênin trong việc giải
quyết vấn đề tôn giáo, coi đó là quá trình lâu dài, phức tạp và rất khó khăn
gắn với việc xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Vì vậy, trong quá trình
hoạt động thực tiễn cách mạng, Người nhận thấy mục tiêu chung mà các tôn
giáo hướng tới hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam và nguyện vọng của số đông quần chúng nhân dân
lao động. Hồ Chí Minh chỉ ra: "Mục đích của Chính phủ ta theo đuổi chiến
đấu vì nền độc lập đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song để đạt đến hạnh
phúc đó cho mọi người phải xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nếu Chúa
Giê su sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước nỗi khổ đau của
người đương thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm con
đường cứu khổ loài người"[69,tr.79]; nguyện vọng của đồng bào tôn giáo là:
“Phần xác no ấm, phần hồn thong dong”. Vì vậy, Người luôn mong muốn và
cố gắng hết sức cho nước nhà sớm được độc lập, đồng bào ai cũng có cơm ăn,
15
áo mặc, ai cũng được học hành, ai cũng được hưởng cuộc sống tự do, hạnh
phúc thực sự trên thế giới trần tục, nhưng để hoàn thành nguyện vọng trên
Người đã chủ động xây dựng khối đoàn kết toàn dân; trong đó đặc biệt chú
trọng đoàn kết với đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo coi đó như một bộ
phận quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện
thắng lợi mục tiêu: “Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc”.
Tóm lại: Trên phương diện lý luận, Hồ Chí Minh đã kế thừa, học tập và
tích cực vận dụng sáng tạo các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam cùng
với các tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây trong các học thuyết
Nho giáo, Phật giáo, Công giáo; đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin về thế giới
quan duy vật và phương pháp luận, về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo vào trong
sự nghiệp đấu tranh "giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc". Vì vậy, Người
khẳng định rõ:
người dân Việt Nam. Bên cạnh Phật giáo thì Nho giáo là một học thuyết
chính trị – xã hội cũng có nhiều đóng góp lớn vào trong công cuộc bảo vệ và
xây dựng đất nước. Vì vậy, xuất hiện nhiều nhà Nho có tấm lòng yêu nước
thương dân sâu sắc tiêu biểu như: Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Chu Văn
An , đã đứng lên tổ chức, vận động tập hợp lực lượng toàn dân đoàn kết tham
gia đấu tranh chống lại giặc Nguyên Mông nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền,
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Đến triều đại nhà Lê, Nho
giáo vẫn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội với sự xuất hiện
của các nhà Nho yêu nước tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm ,
đã góp phần quan trong vào cuộc đấu tranh chống quân Minh xâm lược dân
tộc Việt Nam. Do đó, thắng lợi của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước
dưới triều đại Trần – Lê có sự đóng góp rất lớn của hệ tư tưởng Nho giáo Việt
Nam.
17
Như vậy, trong xã hội phong kiến Việt Nam các tôn giáo khi vào Việt
Nam đã gắn kết với vận mệnh của dân tộc, với công cuộc dựng nước và giữ
nước, giữa việc đời với việc đạo. Vì vậy, đây chính là cơ sở để lý giải cho
việc tại sao ở Việt Nam không xảy ra chiến tranh hoặc sung đột giữa các tôn
giáo mà là sự kết hợp hài hoà của tam giáo đồng nguyên Nho – Phật – Lão
thành một khối thống nhất hoà chung cùng dòng chảy chủ lưu của dân tộc
Việt Nam đó là truyền thống yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc.
Đối với đạo Công giáo có lịch sử vào Việt Nam muộn, có sự khác biệt
cơ bản về văn hóa, đức tin, lối sống so với truyền thống của dân tộc. Vì vậy,
khi vào Việt Nam đã dẫn tới những bất đồng về hệ tư tưởng, nhận thức và lối
sống do đó nhà Nguyễn đã nhiều lần xuống chiếu cấm đạo Công giáo hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam. Chính vì vậy, tạo ra mâu thuẫn bất đồng giữa
đạo Công giáo với dân tộc Việt Nam, giữa những người theo đạo Công giáo
với những người không theo đạo Công giáo là một trong những nguyên nhân
gây chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo dẫn đến tình cảnh “nước
Trong khi tình hình thực tiễn ở Việt Nam có nhiều diễn biến không
thuận lợi thì tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng diễn ra
hết sức phức tạp và có nhiều mâu thuẫn. Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh
đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc tăng cường đi xâm lược các nước thuộc địa
nhằm tìm kiếm nguồn nhân công rẻ mạt, tài nguyên thiên nhiên và thị trường
tiêu thụ sản phẩm Việt Nam trở thành một trong những miếng mồi béo bở
của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Chính tình hình thực tiễn trên, đã
làm xuất hiện nhiều mâu thuẫn lớn đó là: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế với các
dân tộc thuộc địa và phụ thuộc; mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau;
mâu thuẫn giữa các nước đi theo con đường chủ nghĩa tư bản với các nước đi
theo con đường chủ nghĩa xã hội; mâu thuẫn giữa thế giới quan duy vật và
duy tâm, giữa tôn giáo và khoa học, giữa vô thần và hữu thần tất cả các mâu
19
thuẫn trên đã làm xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người diễn ra rộng khắp ở nhiều nước Á,
Phi, Mỹ latinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh lớn lên trước hoàn cảnh nước nhà bị
chia cắt, bị biến thành nô lệ, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Người đã
quyết tâm đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước giải phóng cho dân tộc
Việt Nam. Sau nhiều năm, Người đã tìm ra con đường cứu nước giải phóng
cho dân tộc Việt Nam đó là làm cách mạng vô sản, nhưng muốn làm cách
mạng theo Người cần phải tổ chức, xây dựng và lôi kéo được đông đảo lực
lượng yêu nước trong nhân dân tham gia làm cách mạng; tức phải xây dựng
thành công khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam. Vì vậy,
Hồ Chí Minh xác định công tác xây dựng đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo
là nhiệm vụ quan trọng và là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu quyết định đến
thắng lợi của các phong trào cách mạng Việt Nam.
Tóm lại: Hồ Chí Minh đã nhận diện, đánh giá đúng đắn về tình hình
chính trị trong nước và trên thế giới; đặc biệt là những vấn đề liên quan đến
tôn giáo - một hình thái ý thức xã hội nhưng có sự ảnh hưởng rất lớn đến đời
Nam. Trước tình hình thực tiễn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức rất sâu
sắc về công tác xây dựng khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo và
không theo tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Người coi đồng bào tôn giáo là
một bộ phận trong chiến lược đại đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, quyết
định đến thắng lợi hay thất bại của đường lối cách mạng Việt Nam. Cho nên,
đối với Hồ Chí Minh việc xây dựng tốt khối đoàn kết tôn giáo vừa có cơ sở,
vừa có điều kiện thực tế nhằm hiện thực hoá việc xây dựng thành công khối
đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy theo Người, dù theo tôn giáo này hay theo tôn
giáo khác hoặc không theo tôn giáo chẳng qua chỉ là sản phẩm có tính lịch sử,
là sự thay đổi về đức tin và tâm linh tôn giáo, nhưng cũng đều có cội nguồn
21
sâu xa từ dòng giống “Con Lạc”, “cháu Hồng”. Cho nên, mỗi người dân Việt
Nam dù theo theo hoặc không theo tôn giáo, tất cả đều phải có trách nhiệm
với cộng đồng, với vận mệnh của Tổ quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp, vận dụng rất linh hoạt giữa những
yếu tố truyền thống, lịch sử của dân tộc với bối cảnh hiện thực tôn giáo ở Việt
Nam. Người đã khái quát thành hai chữ rất gần gũi, thân thương “đồng bào”;
ở đây “đồng” với nghĩa là cùng, “bào” với nghĩa là bọc; tức đều trong bọc
trứng của Mẹ Âu Cơ mà sinh ra. Vì vậy, hễ là người Việt Nam hay có dòng
giống người Việt Nam thì bất kỳ ai cũng luôn nhớ về cội nguồn của dân tộc,
nhớ về ngày giỗ tổ 10/3 âm lịch hàng năm đã được lưu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác: “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng
ba”. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm di tích lịch sử đền Hùng,
Người đã khơi dậy truyền thống lịch sử và lòng tự hào của dân tộc của người
Việt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước thông qua câu nói:
“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Câu nói trên có ý nghĩa giá trị rất lớn, mang tính giáo dục nhân văn rất
cao cho những thế hệ đi sau cần phải có trách nhiệm đối với thế hệ đi trước
đồng bào tín đồ các tôn giáo tham gia bảo vệ Tổ quốc và thành quả cách
mạng. Người nói:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta
càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng dã tâm cướp nước ta
một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực