BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Hương
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Hương
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH VĂN THÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
LỜI CẢM ƠN
Người viết xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình TS Huỳnh
Văn Thông, sự giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô trong tổ bộ môn
Ngôn ngữ của khoa Ngữ Văn và quý thầy cô Phòng sau đại học trường
ĐHSP TPHCM.
1.2.2. Các thành phần của diễn đàn .......................................................... 20
1.2.3. Phân loại diễn đàn ........................................................................... 21
1.2.4. Tham gia diễn đàn........................................................................... 22
1.2.5. Thực trạng sử dụng tiếng lóng trên các diễn đàn............................ 25
1.2.6. Những hiện tượng lóng mới xuất hiện ............................................ 26
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TIẾNG LÓNG TRÊN CÁC
DIỄN ĐÀN. .............................................................................. 28
2.1. Đặc điểm cấu tạo ................................................................................... 28
2.2. Từ loại ................................................................................................... 30
2.2.1. Phân loại.......................................................................................... 30
2.2.2. Hiện tượng chuyển loại ................................................................... 32
2.3. Phương thức tạo từ, ngữ lóng ............................................................... 36
2.3.1. Chơi chữ .......................................................................................... 36
2.3.1.1. Nói lái ....................................................................................... 36
2.3.1.2. Đồng âm.................................................................................... 38
2.3.1.3. Hiệp vần .................................................................................... 43
2.3.2. Phiên âm tiếng nước ngoài ............................................................. 48
2.4. Tiểu kết ................................................................................................. 51
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TIẾNG LÓNG TRÊN CÁC
DIỄN ĐÀN ................................................................................. 52
3.1. Trường từ vựng ..................................................................................... 52
3.2. Các phương thức chuyển nghĩa. ........................................................... 56
3.2.1. Ẩn dụ ............................................................................................... 56
3.2.1.1. Ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về hình thức ............................. 56
3.2.1.2. Ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về đặc điểm, tính chất.............. 58
3.2.1.3. Ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về chức năng............................ 60
3.2.1.4 Ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về cách thức .............................. 60
3.2.2. Hoán dụ ........................................................................................... 61
Tiếng lóng là một hiện tuợng ngôn ngữ học xã hội có vai trò đáng kể đối
với vốn từ vựng của toàn dân. Sau một thời gian tồn tại chính thức, bất ổn
định trong một phạm vi xã hội hạn hẹp, có nhiều tiếng lóng sẽ không còn là...
tiếng lóng. Hoặc chúng biến mất. Hoặc chúng trở thành đơn vị từ ngữ của
toàn dân, đuợc mọi nguời sử dụng rộng rãi, không chỉ tồn tại trong các tác
phẩm văn chuơng báo chí, hoặc trên màn bạc, mà còn xuất hiện cả ở nhiều
văn bản hành chính. Trong Việt ngữ hiện đại, tiếng lóng ngày càng có xu
hướng phát triển mạnh, nhất là đối với giới trẻ ở các đô thị, tạo nên hiện
tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ đường phố (street language).
2
Đặc biệt khi công nghệ thông tin phát triển, con người có thể sử dụng internet
như một công cụ đắc lực trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin đồng thời
chia sẻ các quan điểm, tư tưởng của mình với cộng đồng mạng thông qua các
diễn đàn trực tuyến. Tham gia các diễn đàn này phần đông là giới trẻ nên việc
sử dụng tiếng lóng khá phổ biến và có xu hướng ngày càng tăng. Chính vì
vậy, luận văn khai thác hiện tượng này làm đề tài nghiên cứu.
Hơn nữa, xuất phát từ tình yêu tiếng Việt, quan tâm tới vấn đề giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt và đặc biệt là sự hứng thú với lĩnh vực ngôn ngữ
học xã hội, cùng những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên
cứu “Tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến tiếng Việt: thực trạng, đặc
điểm, cơ chế hình thành”.
2. Lịch sử vấn đề
Tiếng lóng Việt Nam đã được nhiều học giả trong và ngoài nước chú ý
nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20. Một trong những công trình đầu tiên về đề tài
này là của J.N. Cheon, mang tiêu đề L'argot anamite (Tiếng lóng Việt Nam)
đăng trên tập san trường Viễn Đông Bác Cổ (BEFEO) từ năm 1905. Ứng Hòe
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các từ, ngữ lóng được sử dụng
trong các diễn đàn trực tuyến.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các diễn đàn trực tuyến. Diễn đàn
trực tuyến, hay được gọi là forum, là nơi để cho người
dùng Internet trao đổi thảo luận và tán gẫu với nhau. Phương thức
thường được dùng trong diễn đàn trực tuyến là người đầu tiên gửi
lên một chủ đề (topic, thread) trong một đề mục (category,forum) và
sau đó những người tiếp theo sẽ viết những bài góp ý, thảo luận lên
để trao đổi xung quanh chủ đề đó.
5
5. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận: góp phần làm rõ hơn cách nhìn đối với tiếng lóng và các
đặc trưng của từ, ngữ lóng Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: khảo sát phạm vi và thực trạng sử dụng tiếng lóng
trong đời sống xã hội nhất là trên internet.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu của mình, luận văn chủ yếu sử dụng các
phương pháp sau đây:
- Phương pháp điều tra xã hội học.
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn sẽ
nào đã có cái gì chung về sinh hoạt hay sản xuất thì đều có những tiếng lóng
của riêng mình.” Cách nói lóng nói chung và từ ngữu lóng nói riêng là do các
nhóm xã hội “tạo ra” và chỉ các thành viên trong nhóm xã hội đó biết sử
dụng: giao tiếp với nhau và hiểu được nhau, tất nhiên là có giới hạn về mặt
thời gian. Thông thường, khi có một cách nói lóng mới xuất hiện, do phạm vi
sử dụng rất hẹp, các thành viên trong cộng đồng xã hội đó đều có ý thức giữ
bí mật (vì liên quan đến quyền lợi thiết thực của họ) nên thời gian đầu sử
dụng “chưa bị lộ”. Nhưng dần dà theo thời gian cùng nhiều lí do tác động vào
mà các từ ngữ lóng, cách nói lóng mất dần tính bí mật, bị xã hội hóa. Chính vì
thế coi lóng có giá trị xã hội còn là vì tiếng lóng có giá trị xã hội trong phạm
vi xã hội rất hạn hẹp và phần nhiều chúng thay đổi theo bối cảnh xã hội. Có
thể nói, tiếng lóng vừa là công cụ giao tiếp riêng của từng nhóm xã hội nhất
định vừa là tín hiệu cho mỗi thành viên của nhóm nhận ra nhau, tìm đến nhau,
hay nói cách khác, tìm được “sự đồng nhất trong mỗi nhóm”.
Cho đến nay, đã có không ít định nghĩa về tiếng lóng của các nhà nghiên
cứu. Chúng tôi xin dẫn quan niệm về tiếng lóng của một số nhà Việt ngữ học:
- Tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong các biệt
ngữ tức là những tên gọi “chồng lên” trên những tên gọi chính thức. (Đỗ Hữu
Châu, 1981, tr.227)
8
- Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là
những từ ngữ không phải toàn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp xã hội nào đó
sử dụng mà thôi. (Nguyễn Thiện Giáp, 1985, tr.228-229)
- Tiếng lóng là loại ngôn ngữ chỉ cốt nói cho một nhóm người biết mà
thôi, những người khác không thể biết được. Vì mục đích của biệt ngữ và
tiếng lóng là che đậy việc làm không cho người ngoài nhóm biết, cho nên tất
cả những từ gì có thể khiến người ta phỏng đoán được nội dung của công việc
đích giữ bí mật, nhưng cũng có thể chỉ nhằm tạo ra một nét riêng cho nhóm
xã hội mình. (Đoàn Tử Huyến, Lê Thị Yến)
Tống hợp các ý kiến trên, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về tiếng lóng
như sau:
Tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức của một
ngôn ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thường ngày, bởi một nhóm
người. Tiếng lóng ban đầu xuất hiện nhằm mục đích che giấu ý nghĩa diễn đạt
theo quy ước chỉ những người nhất định mới hiểu. Tiếng lóng thường không
mang ý nghĩa trực tiếp, nghĩa đen của từ phát ra mà mang ý nghĩa tượng
trưng, nghĩa bóng.
1.1.2. Đặc điểm của tiếng lóng Việt Nam
1.1.2.1. Đặc điểm tạo từ, ngữ lóng
Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, từ ngữ lóng tiếng Việt được hình thành
trên cơ sở của vốn từ tiếng Việt. Tức là, từ các vật liệu sẵn có và bằng các
phương pháp tạo từ vốn có để tạo nên những từ ngữ lóng. Tuy nhiên, theo
chúng tôi, vẫn có những từ ngữ lóng được tạo nên từ chất liệu của các ngôn
ngữ khác. Điều này sẽ được trình bày và phân tích ở chương sau. Tác giả
Nguyễn Văn Khang đưa ra các hình thức sau:
- Có những từ ngữ lóng mới nguyên.
10
- Có những từ được gọi là từ lóng do cách gọi tách nghĩa lóng ra khỏi từ
đa nghĩa để gọi riêng cho nghĩa lóng ấy. Tức là nghĩa lóng chỉ là một nghĩa
trong từ đa nghĩa đó mà thôi
Những từ lóng thường thấy nhất là những từ lóng sử dụng ngay các đơn vị
từ vựng vốn có của tiếng Việt và cấp cho chúng thêm một nghĩa mới: nghĩa
lóng. Có thể coi đây là hình thức tạo từ lóng cơ bản nhất, phổ biến nhất của
tiếng Việt. Có thể nhận thấy, giữa nghĩa ngữ văn với nghĩa lóng vẫn có ít
- Như đã nêu, tiếng lóng bao giờ cũng đi liền với nhóm xã hội cụ thể.
Nói cách khác, sự sinh tồn của tiếng lóng gắn liền với sự sinh tồn nhóm xã
hội sinh ra chúng, sử dụng chúng.
Nói chung, mỗi nhóm xã hội với mục đích bảo vệ, giữ bí mật thông tin đã
cố gắng tạo cho mình một thứ ngôn ngữ - tiếng lóng riêng. Nhờ đó mà trong
mỗi loại tiếng lóng đều chứa đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của nhóm xã hội
đó.
- Được dùng trong một phạm vi hẹp (trong một nhóm xã hội cụ thể) và
mang tính khẩu ngữ, tiếng lóng luôn có những biến động: ở những nhóm xã
hội mang tính băng đảng xã hội đen thì sự biến động, thay đổi nhằm đảm bảo
an toàn, bí mật còn ở giới trẻ thì sự thay đổi chủ yếu là để “làm cho mới”.
Cùng với nhiều lí do khác nữa mà tiếng lóng chỉ tồn tại theo từng thời gian cụ
thể. Đây chính là thể hiện đặc trưng lâm thời của tiếng lóng (cũng là một khó
khăn cho việc xác lập một bảng từ ngữ lóng trong một thời gian dài). Tuy
nhiên, trong số những từ ngữ lóng đã xuất hiện, đã có không ít từ lóng đi vào
vốn từ chung của tiếng Việt.
- Tiếng lóng nói chung và từ ngữ lóng nói riêng, được người viết đưa vào
tác phẩm của mình, chủ yếu dưới dạng dẫn lại lời nói của nhân vật hoặc nhắc
lại nhằm “miêu tả hiện trường”. Điều đó cho thấy rằng, dù được xuất hiện
trong hình thức ngôn ngữ viết, nhưng lóng vẫn chỉ là lóng ở dạng khẩu ngữ
mà thôi (thường được để trong ngoặc kép). Thực tế cho thấy, sử dụng lượng
12
tiếng lóng trong một bài báo như một con dao hai lưỡi: nếu thích hợp sẽ làm
cho giá trị bài báo tăng lên, tác dụng tốt với đời sống xã hội; ngược lại, sa vào
miêu tả bằng cách dùng tràn lan các tiếng lóng sẽ phản tác dụng. Thực tế cuộc
sống đã làm nảy sinh ra tiếng lóng trong đó có từ ngữ lóng thì việc sử dụng
chúng là điều tất nhiên. Nhưng không vì thế mà sử dụng tràn lan, lạm dụng
mình. Tuy nhiên, đó không phải là những từ vựng biệt lập mà chúng là những
bộ phận riêng trong từ vựng của một ngôn ngữ thống nhất.
Thuật ngữ luôn luôn biểu thị khái niệm được xác định trong một ngành
khoa học và lệ thuộc vào hệ thống khái niệm của ngành đó. Trong các khoa
học còn có danh pháp (danh từ khoa học) của từng ngành. Danh pháp và thuật
ngữ không phải là một. Danh pháp chỉ là toàn bộ tên gọi cụ thể của các đối
tượng được dùng trong từng ngành khoa học mà thôi. Chẳng hạn, nếu ta có
một danh sách về tên các loài thực vật ở Việt Nam:xoan, muồng, bằng lăng,
lát hoa, lát vân, lim, sến, táu, dổi, dẻ, xoan đào,... thì đó là danh pháp thực vật
Việt Nam.
So với từ ngữ thông thường thì thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội
hàm sâu hơn và được biểu thị một cách logic chặt chẽ hơn. Trong thuật ngữ
không bao giờ biểu thị những sắc thái phụ như thái độ đánh giá của người nói,
xấu nghĩa hay đẹp nghĩa, khen hay chế, kính trọng hay xem thường,... Từ ngữ
bình thường cũng biểu thị khái niệm nhưng đó là “khái niệm đời thường” chứ
không hẳn là “khái niệm khoa học”, có tính nghiêm ngặt của nó. Ví dụ:
NƯỚC – “hợp chất của ô-xi và hi-đrô” khác với NƯỚC trongnước mắt, nước
dãi, nước bọt, nước tiểu, mỡ nước, nước phở, nước xốt, nước mắm, nước
mưa, nước ao...
14
Thuật ngữ có 3 đặc điểm cơ bản sau đây
Tính chính xác
Chính xác ở đây là chính xác và chuẩn tắc về nội dung khái niệm do nó
biểu thị. Nội dung đó có thay đổi hay không, thay đổi như thế nào là tuỳ theo
sự phát triển, khám phá của ngành khoa học chứ không lệ thuộc vào những
biến đổi của hệ thống từ vựng, ngôn ngữ như các từ thông thường.
Tính hệ thống
Như vậy, khái niệm từ địa phương trước hết nhằm vào những khác biệt về
mặt từ vựng chứ không phải là những khác biệt về mặt ngữ âm. Sự khác biệt
chẳng hạn như: lắt lẻo – lắc lẻo, gập ghềnh – gập ghình,... không phải là mục
tiêu chú ý của từ vựng.
Có những con đường khác nhau đã dẫn tới sự hình thành những kiểu
phương ngữ khác nhau.
• Do sự vật được gọi tên chỉ có ở một vài địa phương nhất định nên tên
gọi của chúng trở thành từ địa phương. Loại này, trong từ vựng chung của
toàn dân tộc không có từ tương ứng với chúng. Ví dụ: nhút, lớ, (quả) tắt,
chẻo... (phương ngữ Trung Bộ), sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, tràm, trâm
bầu, chao,... (phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam).
• Có những từ cùng gọi tên một sự vật, hiện tượng với từ trong từ vựng
chung, nhưng hai từ khác nhau hoàn toàn về mặt ngữ âm. Ví dụ: ngái – xa, nỏ
– không, rào – sông, rú – núi, mô – đâu, tê – kia, rứa – thế, chộ – thấy, trốc –
đầu, nhủ – bảo, xán – đập/ném,... (phương ngữ Trung Bộ); má – mẹ, điệp –
phượng, mè – vừng, muỗng – thìa, lượm – nhặt, mắc cỡ – xấu hổ,... (phương
ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ).
16
Trường hợp này có thể có hai nguyên nhân chính. Một là, cùng một sự vật
nhưng mỗi địa phương, trong quá trình phát triển cùng dân tộc, đã định danh
một cách khác nhau. Dần dần, một tên gọi (một cách định danh) của một địa
phương trở nên phổ biến rộng rãi, khiến cho tên gọi của địa phương kia không
thể phổ biến được nữa. Nó chỉ còn hoạt động tồn tại trong phạm vi địa
phương và trở thành từ địa phương. Hai là, cả hai từ vốn đã cùng là từ của từ
vựng chung, nhưng sau đó, vì xung đột đồng nghĩa, một từ phải rút lui và
được bảo toàn trong phạm vi địa phương rồi trở thành từ địa phương. Các cặp
từ:đầu – trốc, nhủ – bảo,... là như vậy.
thạch sùng
kiềng
rế
bếp kiềng
17
1.1.3.3. Phân biệt tiếng lóng với tiếng nghề nghiệp.
Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử
dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó.
Ví dụ: Các từ: thìu, choòng, lò chợ, lò thượng, đi lò,... là những từ
thuộc về nghề thợ mỏ. Các từ: bó, vét, xịt, phủ, bay, hom, thí một, thí hai, lót
sống,... là của nghề sơn mài.
Thật ra, nghề nào cũng cũng có các từ ngữ riêng của nó để chỉ: đối tượng
lao động, động tác lao động, nguyên liệu sản xuất, sản phẩm làm ra, công cụ
để lao động,...
Tuy vậy, không phải là hễ người ngoài nghề thì không thể biết được từ
nghề nghiệp. Người ta (trong phạm vi rộng rãi toàn xã hội) vẫn có thể hiểu
được chúng nhiều hay ít tuỳ theo mức độ quen biết của xã hội đối với nghề
đó.
Ví dụ, nghề làm ruộng ở Việt Nam, nói chung cả xã hội đều không xa lạ
với nó. Ai cũng biết và sử dụng rất tự nhiên các từ như: cày, bừa, ruộng, bón,
gieo,... nhưng chắc chắn không phải ai cũng biết các từ: chia vè, cứt gián, nứt
nanh, cắm vè, lúa con, bông cài, đỏ đuôi, đứng cái,...
Như vậy, lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít
cũng không chấp nhận tất cả"(5); "Những tiếng lóng không thô tục,
mà chỉ là những tên gọi có hình ảnh của sự vật, hiện tượng nào đó
có thể được dùng phổ biến, dần dần thâm nhập vào ngôn ngữ toàn
dân. Trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, tiếng lóng được dùng
làm một phương tiện tu từ học để khắc hoạ tính cách và miêu tả
hoàn cảnh sống của nhân vật"(6).
Nhưng mặc các nhà nghiên cứu tranh luận, trong thực tế cuộc sống thì thứ
ngôn ngữ ấy vẫn nảy sinh và mất đi một cách không ngừng, ngày càng phát
19
triển, được nhiều tầng lớp xã hội sử dụng, được những người viết đưa vào tác
phẩm văn học, báo chí của mình như một phương tiện tu từ học nhằm phản
ánh sinh động đời sống xã hội và tính cách nhân vật, làm tăng giá trị biểu đạt
của tác phẩm.
Những từ lóng sinh ra, tồn tại chính thức trong một phạm vi xã hội hạn
hẹp, nhưng không ổn định, nhiều từ dần dần biến mất (hoặc chúng không còn
được sử dụng nữa; hoặc chúng được giải mã, đi vào vốn từ chung của toàn
dân, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày và trong các văn bản
hành chính, các ấn phẩm báo chí hay các tác phẩm văn học).
Bên cạnh những từ lóng bị biến mất thì hàng ngày, hàng giờ, trong các
nhóm xã hội lại xuất hiện thêm những từ lóng mới. Dù được chấp nhận hay bị
phản đối thì tiếng lóng của người Việt vẫn là một bộ phận của ngôn ngữ tiếng
Việt, và có thể nói, thuộc loại năng động nhất. Trong xu hướng bình dân, dân
chủ hoá mọi hoạt động xã hội, văn chương, nghệ thuật hậu hiện đại, tiếng
lóng càng có vị trí và vai trò quan trọng cần được quan tâm.
1.2. Diễn đàn
1.2.1. Khái niệm diễn đàn
Hay diễn đàn Internet, là một site thảo luận trực tuyến, nó xuất phát từ
• Trả lời (Post) : Là thông điệp (electronic message) người dùng đăng tải
thông qua phần mềm diễn đàn.
• Administrator : Người quản trị cao nhất, có tất cả mọi quyền.
• Moderator : người quản trị trung gian, có quyền trên tất cả các post thuộc
nhóm, có quyền tới tất cả các thread trong nhóm , trong phân loại chủ đề đó.
• Member : thành viên thông thường.
• Thông điệp cá nhân (private message) : Cho các thành viên gửi thông điệp
riêng cho nhau.