Thông tin về Biến đổi khí hậu - Pdf 55

Biến đổi khí hậu: Biến đổi môi trường sống
Như chúng ta biết, trái đất hình thành trong thái dương hệ khoảng 4,65 tỷ năm trước đây
và con người nguyên thuỷ xuất hiện trên trái đất cách đây khoảng 4 triệu năm.
Trái đất được bao bọc bởi khí quyển và trong bầu khí quyển có nhiều loại khí khác
nhau. Trong đó khí nhà kính (KNK) gồm CO2 (cacbonit-dioxit cacbon), CH4 (Metan),
Nox (Oxit Nitơ), hơi nước và xon khí.
KNK là loại khí trong khí quyển có tính năng giữ lại bức xạ nhiệt phát từ dưới lên,
không cho thoát vào vũ trụ. CO2 là loại KNK chủ yếu gây ra biến đổi khí hậu (BĐKH).
Khí nhà kính làm trái đất nóng lên
[links(left)]Dựa vào số liệu đo đạc của các nhà khí tượng học thì hàng năm mặt trời rọi
bức xạ ánh sáng vào trái đất một khối lớn năng lượng khoảng 5.4.10
24
Jun. Trái đất chỉ
hấp thụ khoảng 60% lượng này, còn 40% phản xạ ngay vào vũ trụ. Số năng lượng hấp
thu được qua nhiều quá trình phức tạp, biến thành bức xạ nhiệt phát trở lại qua khí
quyển vào vũ trụ. Hàm lượng KNK trong khí quyển phải được giữ sao cho khối năng
lượng hấp thu được phát ra hết để nhiệt độ không tích lại và không tăng lên làm BĐKH.
Theo báo cáo của UB Liên chính phủ về BĐKH toàn cầu (IPCC – intergovernmental
Panel on Climate Change) thì kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 1750 trở về trước, tức
là thời gian chưa xảy ra công nghiệp hóa, hàm lượng CO2 đo được là 280 ppm, nhiệt độ
trung bình của bề mặt trái đất lúc đó được giữ ổn định - đó là hàm lượng cân bằng (đơn
vị hàm lượng 1ppm là khí: 1 phân tử CO2 trộn với 1 triệu phân tử khí quyển).
Đến năm 2005, hàm lượng CO2 đo được là 379 ppm, tăng khá cao so với mức cân bằng
280 ppm. Hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng làm cho bề mặt trái đất nóng lên. Từ
1906 – 2005 nhiệt độ bề mặt trái đất tăng 0,74 độ C. Trước nguy cơ này các nhà khoa
học thế giới đã mô phỏng tính toán 6 kịch bản dự báo tăng nhiệt độ và mực nước biển.
Theo kịch bản số 4, nếu hàm lượng KNK năm 2100 bằng 850 ppm thì nhiệt độ trung
bình toàn cầu của bề mặt trái đất sẽ tăng 2,8 độ C so với năm 2000 và mực nước biển sẽ
dâng từ 0,21 – 0,48m, gây một thảm hoạ không lường trước cho nhân loại, đó là chưa kể
từ nay đến lúc đó BĐKH sẽ tạo ra bão lụt, hạn hán, sụt lở đất, nhiễm mặn, bệnh tật…
cho bao nhiêu cư dân trên hành tinh ở các vùng đất thấp, mà trước hết đối tượng dễ bị

Lan, năm 2009 họp tại Kopenhagen – thủ đô Đan Mạch.
Thế mới biết, lợi ích cục bộ của quốc gia vẫn trên lợi ích chung của nhân loại!
VN đối mặt với biến đổi khí hậu toàn cầu
VN không may mắn nằm trong diện 5 quốc gia bị tác động nhiều nhất của hiện tượng
nước biển dâng cao, là hậu quả tăng nhiệt độ làm bề mặt trái đất nóng lên do phát thải
KNK. Theo cảnh báo của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) đến năm 2100, nếu
mực nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng đến 5% đất đai của VN, 10% dân số, tác
động đến 7% sản xuất nông nghiệp, giảm 10% GDP (nguồn: Dagupta.et.al.2007), riêng
sản xuất kinh tế biển sẽ suy giảm 1/3 (nguồn UNDP).
Còn theo dự báo dựa vào các kịch bản khác, nếu mực nước có thể dâng cao từ 3 – 5m
thì đối với VN sẽ là thảm hoạ tiềm tàng?
Chính phủ VN đã phê chuẩn công ước khung LHQ về BĐKH (UNFCCC) vào năm
1994 và nghị định Kyoto vào năm 2002. Tuy chưa phải là quốc gia công nghiệp phát
triển nhưng VN đang tập trung cho các hoạt động kiểm kê và giảm thiểu phát thải khí
nhà kính theo nghị định Thư Kyoto.
Việt Nam đang soạn thảo thông báo quốc gia số 2 (SNC) cho UNFCCC sẽ hoàn thành
vào năm 2009.
Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường VN làm đầu mối quốc gia về các
hoạt động liên quan đến BĐKH. Bộ này đang phối hợp với các ngành khác xây dựng
chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, trong đ1o có biện pháp giảm thiểu phát thải
KNK và thích ứng với các tình huống bất thường của thiên tai, đồng thời soạn thảo
khung chính sách quản lý rủi ro do BĐKH gây ra.
Tuy nhiên, trong báo cáo “BĐKH và phát triển con người ở VN” của hai tác giả Peter
Chaudhry và Greet Ruysschaert do chương trình phát triển LHQ công bố mang tính
nhận xét, đánh giá: “Khái niệm BĐKH và những tác động tiềm tàng của nó, cũng như
nhu cầu thích ứng vẫn chưa được hiểu đúng ở VN (trừ cộng đồng nhỏ các nhà nghiên
cứu, các chuyên gia và một số cơ quan nhà nước liên quan ở TW và địa phương).”
Hội nghị LHQ về biến đổi khí hậu lần thứ 14 (COP 14) diễn ra từ 1 - 12/12 tại
thành phố Poznan (Ba Lan) là hội nghị quan trọng để tiến tới một thoả thuận mới, thay
thế Nghị định thư Kyoto dự kiến hoàn thành vào cuối năm sau. Thế nhưng, bầu không

giảm 25 - 40% tổng lượng khí phát thải so với mức của năm 1990 và đến năm 2050,
phải nâng mức cắt giảm lên 50%. Nhóm này cũng yêu cầu các nước phát triển đẩy mạnh
những hoạt động hỗ trợ tài chính và công nghệ nhằm giúp nhóm nâng cao năng lực ứng
phó với biến đổi khí hậu. Về phần mình, nhiều quốc gia trong nhóm nước phát triển
viện cớ thu nhập bình quân đầu người ở một vài nước đang phát triển thậm chí còn cao
hơn ở nước họ để gây sức ép buộc các nước đang phát triển cũng phải đặt ra chỉ tiêu
cam kết cắt giảm khí thải và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Một yếu tố nữa gây chia rẽ giữa hai nhóm nước là hiệu quả hoạt động của Quỹ cho các
nước kém phát triển (LDC Fund). Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện
nay, việc hỗ trợ cho các nước phát triển xem ra càng khó thực hiện. Đó là chưa kể đến
việc những khó khăn về kinh tế khiến cho vấn đề chống biến đổi khí hậu có nguy cơ bị
gạt xuống hàng thứ yếu. Nhưng bất kể thế nào thì chống biến đổi khí hậu là cuộc chiến
sống còn cho một tương lai phát triển bền vững. Bởi vì, cái giá phải trả cho biến đổi khí
hậu là vô cùng khốc liệt. Đó là sinh mạng của hàng triệu người dân do thiên tai, đó là sự
nghèo đói dai dẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác khi mất kế sinh nhai.
Bởi vậy, điều quan trọng của Hội nghị là gạt bỏ những bất đồng, tập trung nỗ lực toàn
cầu để đạt được mục tiêu cao nhất là tiến tới một công ước quốc tế, thay thế Nghị định
thư Kyoto về cắt giảm khí thải nhà kính, dự kiến sẽ diễn ra tại Copenhagen - Đan Mạch
vào tháng 12/2009./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status