NGỘ ĐỘC ACETAMINOPHEN
BS CKII NGÔ DŨNG CƯỜNG
KHOA CẤP CỨU TỔNG HỢP I. ĐẠI CƯƠNG
II. DƯỢC ĐỘNG HỌC VÀ CƠ CHẾ GÂY NGỘ ĐỘC
III. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
IV. CHẨN ĐOÁN
V.ĐIỀU TRỊ
VI. TIÊN LƯỢNG I. ĐẠI CƯƠNG
- Từ khi được đưa vào sử dụng năm 1950, Acetaminophen (N-acetyl-p-
aminophenol = APAP) đã được sử dụng rộng rãi để giảm đau và hạ sốt, và là
một trong 100 thuốc sử dụng không cần toa.
- Mặc dù thuốc khá an toàn với liều điều trị, quá liều acetaminophen được
công nhận là nguyên nhân của hoại tử tế bào gan từ 1966.
- Acetaminophen có thể gây độc cho gan ngay cả liều điều trị lặp lại ở
những người nghiện rượu.
- Ngộ độc Acetaminophen là nguyên nhân suy gan cấp thường gặp ở Mỹ.
- Điều trị ngộ độc Acetaminophene chủ yếu bằng than hoạt và N-
Acetylcysteine.
II. DƯỢC ĐỘNG HỌC VÀ CƠ CHẾ GÂY NGỘ ĐỘC
1. Dược động học:
Acetaminophen ở 02 dạng: phóng thích nhanh và phóng thích chậm.
• Hầu hết Acetaminophen chuyển hoá tại gan (90%), gắn kết với
Sulfate và Glucuronide, rồi thải ra nước tiểu. Phần còn lại: một nửa
(5%) thải ra nước tiểu dưới dạng nguyên vẹn, một nửa được oxy hoá
thành N-acetyl-p-benzoquinone imine (NAPQI) qua cytochrome
P450 ở gan (CYP2E1, CYP1A2, CYP3A4). NAPQI là chất độc cho
tế bào gan (sơ đồ 2.1; 2.2)
• Với liều Acetaminophen thích hợp, tạo ra lượng nhỏ NAPQI, và
nhanh chóng kết hợp với
Glutathione của gan để tạo thành Cysteine
và mercapturic acid không độc thải ra nước tiểu. (sơ đồ 2.1; 2.2).
• Tuy nhiên với liều độc con đường gắn kết với Sulfate và Glucuronide
bị bảo hòa, nhiều Acetaminophen được chuyển thành NAPQI qua
men cytochrome P450. Khi dự trữ Glutathione ở gan giảm gần 70%,
NAPQI bắt đầu phản ứng với cấu trúc tế bào gan và tổn thương tế bào
gan xảy ra.
• NAPQI gắn đồng hoá trị với phân tử tế bào gan gây tổn thương do
oxy hoá (oxidative injury), và hoại tử tế bào gan trung tâm thuỳ. Mặc
dù không đặc trưng lắm, nhưng sự tổn thương ở ty thể và sự peroxi
hoá lipid có vai trò trong quá trình tổn thương tế bào gan. Thêm vào
đó, sự phóng thích những cytokines và những chất oxy phản ứng từ
tổn thương tế bào gan có vai trò trong tổn thương tế bào gan lan rộng.
Cytokines phóng thích từ tế bào gan có thể khởi phát đáp ứng viêm
thứ phát từ tế bào Kupffer và những tế bào viêm khác, làm lan rộng
tổn thương tế bào gan (Sơ đồ 2.3). Tổn thương thứ phát này xảy ra
trong giai đoạn II của biểu hiện ngộ độc trên lâm sàng.
Sơ đồ 2.3.Cơ chế tổn thương gan sau ngộ độc Acetaminophen.
2.
Giai đoạn II (24 – 72 giờ):
Từ 24 đến 72 giờ sau uống, chứng cứ lâm sàng và cận lâm sàng của tổn
thương cho gan rõ ràng, đôi khi tổn thương cho thận.
- Lúc đầu, những triệu chứng giai đoạn I thường cải thiện trên lâm sàng
trong khi có gia tăng aminotransferase (AST và ALT) xảy ra. Đôi khi,
aminotransferase tăng sớm 8 -12 giờ trong ngộ độc nặng.
- Bn tiến triển tổn thương gan, 1/2 Bn có sự gia tăng aminotransferase
trong vòng 24 giờ và tất cả Bn gia tăng men gan trong 36 giờ.
- Tiến triển giai đoạn II: Bn đau hạ sườn P, gan lớn và đau. PT
(Prothombin time) kéo dài, tăng Bilirubine, thiểu niệu, và suy giảm chức
năng thận.
Một vài Bn khi sử dụng đồng thời với rượu, có thể gây tổn thương cho
gan và viêm tuỵ cấp.